Sunday, 9 January 2011

“Non nước u buồn nào”

đâu bóng cố nhân lòng xót xa tình xưa.”

(Minh Trang/Dương Tiệu Tước - Bóng Chiều Xưa)

(2Tx 2: 15-17)

“Bóng chiều xưa”. Đâu cứ là bóng xót xa. U buồn. Nguồn non nước. “Chiều gió mưa”. Cũng có thể là mưa gió. Bão bùng. Nhiều sầu não. Với đất trời, là môi trường toàn cầu!?

Về đất trời nhiều âu sầu, rầu não bộ thần kinh, bần đạo nhớ nhiều về buổi mạn đàm bỏ túi, mang tính chất rất “khilykhitô”. Có tâm tình bầu bạn, kể cho nhau nghe những “khuôn trăng đáy nước, bên đồi dạ lan”… lan man nhiều chuyện. Lan man buổi chiều ấy, có bạn hiền dõng dạc tuyên bố: “Tôi nay thuộc thế hệ gần đất xa trời, nhưng vẫn nhớ tên tuổi từng bạn cũng đã gần trời, nhưng xa đất…”

“Gần đất xa trời”, ý bạn hiền của bần đạo, không cốt bảo rằng: anh nay rắp ranh đi dần về với chuỗi ngày chuẩn bị chầu Chúa. Cho bằng, anh vẫn cảm kích lập trường của vị Phật sống, Giáo hội Tây Tạng, mới đây từng tuyên bố:

“Những nhân tố nào đã làm cho người Tây Tạng bình lặng và thân mật tự nhiên? Người ta luôn luôn tìm kiếm một câu trả lời trong tôn giáo của chúng tôi, nó đặc thù, mà quên đi rằng môi trường của chúng tôi cũng không là ngoại lệ.

Sự bảo tồn thiên nhiên không cần thiết là một hành vi thiêng liêng, và nó không luôn luôn đòi hỏi từ bi. Như những Phật tử, chúng tôi từ bi với tất cả chúng sinh, nhưng không cần thiết với mỗi hòn đá, cây cối, hay nơi cư ngụ. Hầu hết mọi người chúng tôi chăm sóc ngôi nhà của chúng tôi mà không cần cảm nhận bất cứ sự từ bi nào về nó.

Tương tự thế, hành tinh của ta là ngôi nhà của mình. Và, ta phải duy trì nó với sự cẩn trọng, để bảo đảm hạnh phúc của ta và niềm hạnh phúc của bạn bè, con cháu, và của toàn thể chúng sinh, tức những ai chia sẻ nơi cư trú vĩ đại này. Nếu ta nghĩ về hành tinh của ta như ngôi nhà hay “bà mẹ” của mình, là Bà Mẹ Đất thì ta sẽ cần phải chăm sóc nó.

Ngày nay ta hiểu rằng tương lai nhân loại tùy thuộc vào tinh của ta. Tương lai của nó tùy thuộc trên nhân loại. Nhưng điều ấy không phải lúc nào cũng rõ ràng. Cho đến bây giờ, Bà Mẹ Đất đã bao dung sự vô tình của ta. Tuy thế, ngày nay, thái độ của nhân loại, dân số và kỹ thuật đã đạt đến mức độ mà Bà Mẹ Đất của ta không còn có thể chấp nhận nó nữa, trong im lặng. “Những đứa con của mẹ đang cư xử một cách tệ hại,” bà đã cảnh cáo để ta nhận ra rằng có những giới hạn mà ta không thể vượt qua được.”

(x. huffingtonpost.com Dalai Lama Book: My Spirit 11.10.2010)

Nói theo kiểu người nghệ sĩ viết nhạc bản ở trên, thì “Bóng Chiều Xưa” phải là buổi chiều trong đó con người vẫn hoà mình với “Bà Mẹ Đất”, rất trân trọng nên mới hát:

“Mây vương sầu lan,

Gió ơi đưa hồn về làng cũ

nhắn thầm lời nguyện ước trong chiều xưa.”

(Minh Trang/Dương Thiệu Tước – bđd)

Nguyện ước của nhị vị uyên ương thơ nhạc ở trên, còn là ước nguyện của những ngày xưa cũ, còn đó một tình tự, như:

“Ngạt ngào sắc hương

tay cầm tay luyến thương.

Đôi mắt em nhìn càng say đắm mơ màng nào

thấy đâu sầu vương.”

(Minh Trang/Dương Thiệu Tước – bđd)

Đã hẳn, đôi uyên ương nào mà chẳng “đắm say tình ngất ngây”, khi “đôi mắt em nhìn” sẽ cứ là “mơ màng, thấy sầu vương”. Hôm nay đây, mắt biếc ấy vẫn ngất ngây một chất tình, đã cảm hoá tâm tình đầy ngấn lệ khi chàng và nàng biết hát những ý từ như:

“Thương nhau làm chi

âm thầm lệ vương khi biệt ly.

Xa xôi còn chi

vô tình em nhớ mối duyên hờ…

(Minh Trang/Dương Thiệu Tước – bđd)

“Lệ vương âm thầm”, đã bộc phát từ lúc thấy biệt ly. “Thương nhau làm chi”, là dấu hằn đã in vào cả đời người. Một đời, có những giòng lệ vơi/đầy, khi người đời quên mất lời dặn dò hôm trước, của thánh nhân:

“Hỡi anh em,

hãy đứng vững và nắm giữ các truyền thống

anh em đã thụ giáo với chúng tôi

hoặc nhờ lời nói, hay bằng thư từ.

Nguyện xin Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô

Đấng đã yêu mến ta và đã ban cho ta niềm an ủi hằng có

và mối hy vọng tốt lành bởi ơn Người,

làm cho lòng anh em được phấn khởi và kiên vững

trong mọi việc làm và lời lành.”

(2Tx 2: 15-17)

‘Đứng vững và nắm giữ các truyền thống’, chắc hẳn trong đó có cả cung cách tuân giữ luật tự nhiên, rất an nhiên tự tại. ’Phấn khởi và kiên vững trong mọi việc làm và lời lành’, đương nhiên là quyết tâm ăn ở hiền lành, với mọi người, không riêng gì dân mình.

‘Phấn khởi và kiên vững’, cả khi biết dân con Đạo mình, vẫn thổn thức. Như Cha Nhân Hiền từng thao thức, khi Ngài nói: “Ta đã nghe tiếng chúng kêu than”. (Xh 3: 7)

Chúng dân than, vì nhiều lẽ. Không chỉ là lẽ ưu phiền do thiên tai, động đất, lũ lụt thời suy thoái. Có thể, vẫn là những uẩn khúc của một thời. Và một đời, mà người người không nương tay. Uẩn khúc hay kêu van, vẫn còn đó hy vọng cho một ngày mai tươi sáng, nếu người người biết tin vào lời ngôn sứ, khi xưa từng nói:

“Ta sẽ đổi tan tác của chúng

thành hoan lạc,

Ta sẽ ủi an,

Ta sẽ xuống cho chúng

niềm vui giải sầu.”

(Yr 31: 13)

“Niềm vui giải sầu”. Đó, là hy vọng. Là, sự khác biệt giữa các niềm tin tôn giáo. Tin, vào lời Cha Nhân Hiền, hoặc vị Phật sống. Hoặc, vào lời ngôn sứ xưa đã khuất. Cũng vẫn là tin. Là, hy vọng. Bởi, tin là tự khắc đem lại cho mình niềm hy vọng. Và, còn hy vọng, tức vẫn còn tin. Cứ tin. Dù, trạng huống con người sống sẽ ra tồi tệ thế nào cũng mặc. Vẫn kiên trì một niềm tin. Cứ, loé sáng một hy vọng.

Hy vọng, cụm từ gồm chỉ hai chữ, nhưng ôm gọn cả một vũ trụ/bầu trời, rất nguy nga. Hoành tráng. Tàn tạ, có là cụm từ chỉ về Bà Mẹ Đất, rất ưu phiền vì loài người đang giết Mẹ. Nhưng cuối cùng rồi ra hy vọng sẽ bức phá mọi tàn tạ ; để rồi sẽ đưa con người về với ánh sáng, của niềm tin.

Đức Chúa của Đất Trời, vẫn làm những chuyện lạ, miễn là vũ trụ/loài người mãi còn tin. Còn hy vọng vào Ngài, Đấng Thánh Hiền là Mẫu mực cho niềm tin linh thánh. Mẫu mực, của một hy vọng rất lành, để ta sống. Sống mà không có niềm tin, và hy vọng, thì cũng chỉ như người đã và đang chết. Một thứ chết dần chết mòn, chẳng ai tin. Và cũng chẳng ai còn hy vọng.

Vậy thì, hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ hy vọng và cứ tin. Tin, và hy vọng để sống tỉnh táo như những nhân vật được kể trong truyện ở dưới, quyết tự tạo cho mình niềm hưng phấn, để sống.

« Chuyện rằng,

Lúc ban đầu, đoàn làm phim Titanic định quay ở VN. Đêm. Đại dương đen ngòm. Bầu trời đầy sao. Trên chòi cao, người hoa tiêu của tàu Titanic chăm chú nhìn về phía trước. Bỗng anh hốt hoảng:

- Có một núi băng phía trước tàu khoảng 10 cây số.

Tin đó lập tức được gửi tới phòng hoa tiêu trưởng. Ông này bận dự lễ cắt băng khánh thành câu lạc bộ bida trên tàu. Nhận được tin, ông lắc đầu:

- Phải mang ra phường xác nhận xem núi băng đó thuộc về ai thì tôi mới có hướng giải quyết.

Một bức điện cấp tốc được gửi về phường xin xác nhận ngay, nhưng cô văn thư giữ con dấu lại nghỉ vì nhà có đám giỗ, còn chủ tịch phường thì hiện đang đi nghỉ mát theo lời mời của Ban quản lý dự án giải phóng mặt bằng.

- Núi băng còn cách tàu 5 cây số, Viên hoa tiêu lại báo xuống.

Tin được chuyển ngay xuống thuyền phó. Ông ta vội vã triệu tập một cuộc hội thảo với chủ đề Băng trôi - Thực trạng và giải pháp. Giấy mời hội thảo đề 3giờ sáng, nhưng đến 4giờ sáng vẫn chưa đủ số đại biểu vì không rõ là có tiền ăn sáng hay không, đồng thời nhân viên cũng báo cáo lại là một số đại biểu đang mải chơi tú Strip nên không thèm nhận giấy mời. Cuối cùng thì buổi hội thảo cũng vẫn được tổ chức lúc 4 rưỡi sáng sau khi Chủ tọa tuyên bố có tiệc đứng sau buổi họp. Các tham luận đều không đưa ra hướng cụ thể gì, chỉ nhấn mạnh là cần phối hợp giải quyết nhịp nhàng và đây là trách nhiệm của tất cả các ban ngành. Cuối buổi, Chủ tọa kết luận dõng dạc:

- Cuộc họp hôm nay chúng ta đã được nghe nhiều ý kiến phát biểu có giá trị cao về cả lý thuyết lẫn thực tế. Các ý kiến đã chỉ ra được tầm nguy hiểm của hiện tượng băng trôi và đưa ra một số giải pháp giải quyết. Các giải pháp tuy còn nhiều tính chất "trừu tượng" và đôi chỗ mâu thuẫn với nhau, nhưng thật khó để có thể kết luận ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai. Đây chính là tiền đề để chúng tôi sẽ tiếp tục tổ chức một buổi Hội thảo nữa vào ngày này năm sau. Xin cám ơn quý vị và mời quý vị dùng tiệc. (clap clap)

- Băng còn cách tàu 100mét, viên hoa tiêu hét lên.

Tin này đến tai thuyền trưởng. Ông vội vã ra lệnh:

- Lái tàu, lùi lại.

- Dạ báo cáo anh, em chưa học lái tàu đi lùi ạ.

- Thế sao bảo có bằng lái tàu thủy ???

- Dạ, thú thiệt là bằng này em... "mua" ạ.

- Hả ???... RẦM!!!

Sườn tàu va vào núi băng. Nước ào ào chảy vào các phòng. Trên giường ngủ, diễn viên nam do DiCaprio thủ vai thức dậy trước tiên. Anh lay những người xung quanh:

- Dậy mau lên, nước ngập.

Mọi người ngái ngủ ngó xuống rồi càu nhàu:

- Mưa thì nước ngập, có chi đâu.

- Nhưng mà ngập đến đầu gối rồi!

- Bực quá, khu phố tôi ở mỗi khi mưa dù là mưa nhỏ mà đều ngập đến bụng cơ, thế này nhằm nhò gì - Rồi họ ngủ tiếp.

Hốt hoảng, DiCaprio rút điện thoại di động gọi cho diễn viên nữ Kate Winslet để báo tin. Trong máy vang lên một giọng ngọt ngào: "Thuê bao quí khách vừa gọi hiện đang ngoài vùng phủ sóng hoặc tắt máy, xin vui lòng liên lạc lại sau. The number you've called...".

Kêu trời vì thất vọng, DiCapio chạy ào lên phòng người yêu, kéo cô chạy lên bong. Đôi tình nhân dìu nhau lên những bậc thang chật hẹp. Lúc này trong tàu đã nhốn nháo vô cùng. Dòng người đang xô đẩy bỗng chựng lại.

- Kẹt xe.

DiCaprio cáu:

- Trong tàu thuỷ làm sau kẹt xe được?

Bà con giải thích:

- Được. Xe mấy ông thuỷ thủ nhập lậu giấu kỹ, bây giờ nước ngập ai cũng lôi ra nên kẹt cứng rồi. Đôi uyên ương lao tới chỗ để xuồng cấp cứu. Còn rất nhiều chỗ trống. Hai người định nhảy xuống xuồng thì một nhân viên chặn lại:

- Yêu cầu anh chị mua vé.

- Chúng tôi mua vé tàu rồi mà? - Winslet kêu to.

- Vé tàu khác, vé xuồng khác - Anh nhân viên giải thích - Y như ở công viên, vé vào cửa đâu kèm vé trò chơi!

DiCaprio đành thò tay vào túi, rút ra tờ 100 USD. Người bán vé cầm lấy, điện thoại vào đất liền hỏi tỉ giá chính thức. Cô trực tổng đài cho biết là 8 giờ sáng mới có giá mới, còn nếu tính theo giá hôm qua thì DiCaprio bị thiệt 2 chục ngàn. Đang giằng co thì có một bà béo chạy lại đon đả:

- Anh giai để em đổi theo giá ngoài, vừa nhanh vừa cao hơn. Tính ra theo cái "giá ngoài" đó thì DiCaprio chỉ bị thiệt có 18 ngàn mà thôi.

Đúng lúc nguy cấp thì điện tắt phụt. Thiên hạ la rầm trời đất. Thuyền trưởng chạy tới quay điện thoại hỏi lý do. Suốt tiếng đồng hồ máy bên kia cứ bận liên tục, cuối cùng thuyền trưởng phải cử thuyền phó xuống tận nơi thì được thông báo:

- Một con chuột chạy lụt mắc kẹt ở đường dây và đã bị nướng chín vàng khiến đường dây chập mạch. Phải tìm ngay một con mèo.

Lúc này mối nguy hiểm đã cận kề. Tàu Titanic kêu răng rắc như răng bà lão và gãy làm đôi. Tất cả tranh nhau xuống xuồng và tranh nhau phao cấp cứu. Lượng phao ít hơn lượng người nên đôi tình nhân chỉ được có một chiếc. Họ cứ nhường nhau, nước mắt đầm đìa rất cảm động. Âm nhạc nổi lên tha thiết. Hơn một ngàn rưởi hành khách sắp chết đuối vì thiếu phao. Tàu sắp chìm sâu xuống đại dương. Bỗng nhiên thuyền trưởng vụt nhớ lại kỳ thi tốt nghiệp THPT của mình. Ông cởi chiếc phao trên thân, đưa vào máy Photocopy nhanh chóng in ra hàng ngàn chiếc. Thế là hành khách ai cũng có đủ, thậm chí một người được dăm bảy loại phao. Một điều lạ là trên các loại phao này lại ghi chi chít những công thức toán học, các bài văn mẫu. Nhưng lúc nước sôi lửa bỏng thế này, có phao là tốt rồi nên cũng không ai để ý mà đều ôm phao nhảy ào xuống biển.

Titanic chìm xuống. Tất cả mọi người đều nổi lên. Pháo bông bắn rực trời. Trên nền trời đêm hiện lên dòng chữ: Tỷ lệ "nổi" đạt 100%. Caprio và Winslet ôm nhau hôn thắm thiết!

(Vô danh thị).

Truyện kể của tác giả Vô Danh Thị, đích thị từ người Việt, hoàn toàn mang tính hư cấu. Nhưng có hậu. Hư cấu, vì bôi bác những người con của “Bà Mẹ Đất” chẳng lý gì đến Đất Mẹ. Rất có hậu, là bởi đọc hết truyện rồi mà chẳng thấy “chết ba thằng Tây’ nào hết ráo. Bởi, truyện kể chỉ cốt kể lể và minh hoạ, rằng: nếu không cẩn thận trân quý đất, thì rồi ra đất cũng chẳng lý gì đến cuộc sống của ta.

Về với nhà Đạo mình, cũng nên trân trọng và nhớ lời dạy của các thánh trong/ngoài Đạo, để rồi bạn và tôi, ta sẽ lại có những ý nghĩ, hành xử, rất phải lẽ. Với cả đất lẫn trời. Đồng thuận rồi, hỡi tôi và bạn, ta sẽ lại hát nốt câu ca ở trên, làm kết đoạn:

“Một chiều gió mưa

Anh về thăm chốn xưa.

Non nước u buồn nào đâu bóng cố nhân

lòng xót xa tình xưa.”

(Minh Trang/Dương Thiệu Tước – bđd)

Quả là thế. Non nước u buồn. Cố nhân, có về thăm chốn xưa cũ, thì Bà Mẹ Đất cũng xót xa tình xưa, mà bỏ lỗi. Để rồi, sẽ đưa đàn con yêu dấu vào vòng tay yêu thương/tình ái, rất ôm ấp. Vỗ về. Đầy hy vọng.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ hy vọng rất nhiều

Dù đất trời đổi thay

Loay hoay nhiều trăn trở.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com

Sunday, 2 January 2011

“Mắt đã một chiều thu hoen lệ sầu”

Tiếng đã lạc loài trong tim nghẹn ngào.

Đưa em về chiều thu reo dưới gót,

Âm thầm từng hồi giá buốt Nghe tiếng đông sang.”

(Thanh Trang – Tình Khúc Mùa Đông)

(Mt 25: 41-43)

Diễn tả về mùa Đông, nghệ sĩ nào mà chẳng diễn tả một lặng câm/chết chóc, rất cứng ngắc? Chẳng như mùa Hạ, vẫn cứ là khởi sắc. Có nắng ấm. Chói chang. Rất đàng hoàng. Làm sao được như mùa Xuân, mùa của tình tự cao sang. Rạng ngời. Hạnh phúc.

Thế nhưng, mùa Đông không chỉ là mùa của những rét mướt. Sũng sượt. Trượt hạ mà thôi. Nhưng còn là mùa chờ đợi đợt loé sáng, rất tinh mơ. Đấng mà mọi người đợi chờ, một cứu vớt. Thế còn mùa Thu? Phải chăng, chỉ là mùa của những hoen lệ sầu. Mắt biếc. Đớn đau? Và đây, một bằng chứng:

“Nhớ những đường về sương rơi mịt mùng

Mắt biếc là màu riêng tôi lạnh lùng

Thương cho người về cô đơn với bóng

Mây chiều lạc loài đã xuống, Với thu mênh mông.”

(Thanh Trang – bđd)

Thú thật với bạn và với tôi, rằng bần đạo vốn dĩ thuộc loại dốt nát rất nhiều thứ. Cả, văn chương chữ nghĩa lẫn võ biền. Mười hai con giáp, bần đạo chẳng giống con nào, dù cầm tinh Quý Mùi. Quanh năm suốt tháng cứ bùi ngùi, mỗi khi bạn bè kể cho nghe những chuyện buồn buồn tủi tủi, rất ỉ ôi cung đàn nhiều lãng du:

“Anh lãng du đêm dài cùng khói mây

Hôn tóc em, nghe hồn mình đắng cay

Tháng năm buồn miệt mài, từng ngón tay

Khi về còn xao xuyến ru hồn người đắm say.”

(Thanh Trang – bđd)

Hồn đắm say. Thật ra thì, bần đạo chỉ đắm và say ý/lời của người nghệ sĩ từng viết nhạc, tên Thanh Trang. Dù chẳng biết người là ai. Con trai hay con gái. Già hay trẻ, mà nhạc viết hay đến thế! Thôi thì, nói cho “xôm tụ” một chút, thì bần đạo thuộc “típ” người rất bén và cũng nhạy về những chuyện buồn, loại thế kỷ.

Nên, bần đạo vẫn cứ là hay trích dẫn những giòng nhạc sướt mướt có chữ “thu”, như:

“Nhớ mãi từng chiều thu rơi ngàn trùng

Tóc đó là vùng mây trôi ngập ngừng

Đêm mong người về cho vơi giá buốt

Nghe hồn từng mùa đã khuất

Tiếc thu mênh mông”

(Thanh Trang – bđd)

Cũng vì được người nghệ sĩ diễn tả ý/lời nghe như “hồn từng mùa đã khuất” , nên bần đạo có lần dám cùng bầu bạn lên tiếng phản đối đấng bậc nhà Đạo nọ cứ hung hăng tuyên bố về chốn “mây trôi ngập ngừng”, “cho vơi giá buốt”, để rồi kéo theo một kết luận lên án nhân vật trong truyện đã dám làm “cử chỉ đẹp” để chứng tỏ tình yêu, với con mình.

Trước khi nghe truyện, cũng nên thanh minh rằng bần đạo hơi bị “ướt” một chút, nhưng vẫn chưa hẳn là đồng thuận với hành xử của người cha hiền từ trong truyện, dù ông đã hy sinh cả tâm can cao quý của mình. Để rồi, có thể cùng với nó vấn nạn rằng: tình tự của người cha ở trong truyện có cùng “tầm nhìn” như các cụ đạo thời đức thày Đắc Lộ, gọi “chốn luyện hình” là nơi đến của những hành xử, tự giải quyết cuộc đời như thế không?

Truyện bắt đầu thế này:

“Ngày “N” hôm ấy, khi biết trẻ đầu lòng của mình là con gái, chồng tôi không lấy gì gọi là mặn mà hăng say cho lắm. Ông chỉ thích có con trai để nối dõi tông đường, mà thôi. Mãi đến khi con gái lên ba, nhờ vào nụ cười rất có duyên của cháu, ông bố mới thay đổi tính khí lạ kỳ. Và, khi con lên bảy, biết hỏi những câu thế này, bố lại thương:

-Bố à. Năm con tròn 15 tuổi. Bố dự tính cho con món quà gì làm sinh nhật, thế?

-Con yêu ơi. Năm nay con mới lên 7.Từ nay đến đó còn lâu lắm. Để rồi bố tính cho.

-Sao? Bố vẫn bảo là thời gian trôi nhanh như ‘bóng câu qua cửa sổ’ cơ mà!

Thời gian trôi có nhanh hay không, cũng chẳng rõ. Chỉ rõ một điều, là: ông bố ngày càng thương con gái mình hơn cả mẹ của nó. Thanh Tốn tuy mới mười bốn, nhưng đã chiếm trọn vẹn con tim chân chính của bố mình từ lâu.

Một hôm, đang vào giờ hiệp lễ ở nhà thờ, Thanh Tốn tự dưng ngất xỉu ngay ở bàn quỳ khiến vợ chồng tôi hốt hoảng vội đưa cháu vào nhà thương, gần ngay đó. Suốt 10 ngày liên tiếp, cháu rải qua cơn thập tử nhất sinh, tình trạng của con gái xem ra không có nhiều hy vọng. Đoàn bác sĩ chuyên khoa tim về hội chẩn cho cháu, xong tuyên bố: Thanh Tốn bị chứng bệnh tim, rất ác tính. E khó thọ.

Con gái nằm viện đã lâu, mà bọn tôi chẳng biết làm gì để giúp cháu mau hồi phục. Thời gian không còn trôi nhanh nữa, nhưng cứ chậm. Rất nặng nề. Chồng tôi quyết định bỏ công việc, hầu dành dụm trọn thời gian cho con. Tôi thì rất sợ cái cảnh cứ phải ngồi đó nhìn con gái lúc tỉnh lúc mê, đến đau lòng.

Sáng hôm ấy, Thanh Tốn cố dùng sức bình sinh để nói với:

-Bố ơi. Tối qua bác sĩ bảo: con không còn sống được bao lâu nữa, đâu bố. Nói rồi, cháu lịm đi một lúc. Ông bố vội trấn tĩnh. Dù, chẳng biết con mình có nghe rõ được hay không:

-Không đâu con. Chúa lòng lành vô cùng. Ngài không nỡ cất đi niềm vui của bố đâu!

-À bố! Khi chết rồi, mọi người sẽ đi đâu? Con có gặp lại bố nữa không? Nơi nào thế?

-Con à. Cho đến nay, chưa có ai quay về từ cõi chết để nói cho bố con mình biết được chuyện ấy. Nhưng, tin bố đi. Ngày nào bố rũ áo ra đi, bố sẽ không để con một mình đâu. Dù con có ở xa bố cách mấy, bố cũng cố tìm cách về với con thôi. Yên chí đi con nhé!

Chiều ấy, bác sĩ kịp đến cho biết: Thanh Tốn cần đến quả tim khác. Bằng không, cháu chỉ sống nhiều lắm chừng hai tuần. Vợ chồng tôi nghe thế, thấy mình như bị cú sét đánh ngang tai. Tay chân rã rời. Tìm đâu ra quả tim khác, thay cho con? Ôi lạy Chúa.

Cũng vào những ngày sau đó, Thanh Tốn sẽ vừa tròn 15. Hôm ấy là Thứ Sáu, kỷ niệm ngày Chúa chịu nạn, bệnh viện được tin có người vui lòng hiến tặng một quả tim, còn rất khoẻ. Tức tốc, Thanh Tốn được đưa vào phòng mổ, để thay tim. Sau cuộc giải phẫu, mọi người được biết là: cuộc giải phẫu tuy khá dài, nhưng mọi chuyện kết thúc thật tốt đẹp. Thanh Tốn chỉ nằm lại phòng hồi sức chừng hai tuần, là có thể về nhà, tạm ổn. Có điều là, từ ngày ấy, chẳng thấy mặt mũi ông bố đến thăm con. Chắc ông có việc bận, ở đâu đó.

Ngày “N” đến. Thanh Tốn được phép xuất viện về nhà tĩnh dưỡng. Vừa bước vào cửa, cháu đã lớn tiến gọi chào ông bố:

-Bố đâu rồi? Sao không ra đón con hả bố?

Nghe gọi, tôi vội bước ra khỏi phòng ngủ, mắt còn đẫm lệ, nhưng vẫn còn tỉnh đủ để trao cho con gái lá thư cuối cùng, bố cháu viết:

-Con hãy cầm lá thư này mà đọc. Đây là thư bố viết cho con cách đây ít ngày…

Thư không dài. Chỉ vỏn vẹn đôi hàng chữ, nét rất rõ: “Thanh Tốn thương yêu, con của bố. Khi con đọc những giòng chữ này do bố viết, chắc con cũng đã tròn 15. Và lúc ấy, chắc chắn tim con sẽ đập mạnh hơn bao giờ. Đó là lời hứa mà bác sĩ chuyên khoa chữa cho con, từng nói với bố như thế. Bố xin lỗi. Bố không thể có mặt gần bên con, vào lúc này được. Nhưng, từ lúc bố biết là con sẽ giã từ cuộc đời mà lại không có bố đi cùng, bố đã quyết định là: sẽ cho con câu trả lời mà con từng hỏi bố vào ngày con lên 7: bố sẽ tặng con món quà gì quý giá vào ngày con đủ 15 không? Thì hôm nay, bố tặng cho con món quà quý giá nhất là trọn sự sống của bố đây. Bố không đòi hỏi nơi con bất cứ điều gì hết. Con cứ tự ý mà hành xử theo cung cách của riêng con, món quà bố vừa tặng. Hãy sống trọn vẹn cuộc đời của con, hỡi con gái dấu yêu của bố! Bố yêu con, bằng cả trái tim này. Bố của con. Thanh Tâm.

Suốt hôm ấy, Thanh Tốn khóc đến không còn giọt nước mắt nào để khóc nữa. Hôm sau, cháu vội chạy ra nghĩa trang, gục đầu trên mộ của bố, mà thổn thức: “ Bố yêu dấu. Giờ, thì con đã hiểu thế nào là tình cha thương con vẫn thiết tha. Dù, con chẳng bao giờ nói lên được những câu như thế. Nay, thì con cũng đã biết nói lời âu yếm là “Con cũng yêu bố lắm!” mỗi khi bố nói bố yêu con. Con xin lỗi, vì lâu nay con vẫn cứ im lặng, chẳng nói lời gì để bày tỏ lòng con vẫn yêu quý bố, hơn bao giờ hết….”

Truyện kể, chừng như còn nói nhiều hơn những điều được ghi trên giấy. Giấy và bút, chỉ ghi mỗi mẩu đối thoại giữa cha/con, mà thôi. Còn đối đáp nào đẹp hơn lời đối đáp tóm gọn một chữ “yêu”? Chỉ mỗi từ gồm 3 nét chữ là y-ê-u “yêu” thôi, mà sao loài người viết đến cả vạn cả triệu pho sách, cũng không hết ý? Sách Đạo. Sách đời, vẫn đủ cả. Chỉ bằng vào động thái “yêu” thôi, loài người đã đánh gục biết bao người vẫn cứ nghi cứ vấn về tình thương yêu, đến là thế.

Ấy nhưng, câu chuyện mà bạn và tôi, ta mạn đàm hôm nay, không để ca ngợi văn chương chữ nghĩa rất phong phú. Mà, chỉ muốn nói đến nét “trăng thanh” bên lề một truyện kể. Lề phải hay lề trái, cái đó còn tuỳ ý mỗi người, có khác biệt. Người, thì đề cao nghĩa cử của ông bố. Kẻ, lại cho rằng như thế cũng không đúng luật Đạo. Có vị lại nói: đây chỉ là bản sao chép minh hoạ Tình Cha Nhân Hiền, được kể trong dụ ngôn “Người Con Hoang”, ở Kinh Sách.

Nghe truyện, có bạn của bần đạo, lại bàn thêm về đích điểm của linh hồn, sau khi chết. Chí ít, là nỗi chết do chính mình định đoạt. Có vị, cứ thích trích và dẫn các đoạn sách Tin Mừng, để thêm một lần nữa, cắt nghĩa chốn miền rộng/hẹp của thiên đường, đại loại như:

“Hãy qua cửa hẹp mà vào,

vì cửa rộng và đường thênh thang

thì đưa đến diệt vong,

mà nhiều người lại đi qua đó.

Còn cửa hẹp và đường chật

thì đưa đến sự sống,

nhưng ít người tìm được lối ấy.”

(Mt 7: 13-14)

Và từ đó, có người cũng lại kết luận bằng lời Kinh khác, vẫn còn nhớ:

“Quân bị nguyền rủa kia,

đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời,

nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó.

Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn;

Ta khát, các ngươi đã không cho uống;

Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước;

Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc;

Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng."

(Mt 25: 41-43)

Một số đấng bậc vị vọng, lý đoán rất cao siêu. Chữ nghĩa rất đầy mình. Vẫn tỏ lộ cho dân con nhà Đạo biết chốn miền mình đạt đến, sau khi chết. Tỏ và lộ, bằng các cụm từ khá cũ, như: hoả ngục. Địa ngục. Chốn luyện hình. Tức, những ngục và ngục. Và, dẫn chứng bằng sách giáo lý hội thánh, như: “Giáo huấn Hội thánh khẳng định, là: có hoả ngục. Và, hoả ngục kéo dài đến vĩnh cửu.” (GLHTCG #1035)

Ở đoạn khác, Sách Giáo lý cũng trích thêm:

“Những người chết trong tình trạng tội lỗi mà không chịu sám hối và nhận lãnh tình Chúa thương yêu, chắc chắn sẽ bị ly cách khỏi Đức Chúa đến muôn đời. Việc ấy, là do mình chọn lựa. Và, tình trạng tự mình ly cách không còn hiệp thông với Chúa và với các thánh trên trời, còn gọi là hoả ngục.” (GLHTCG #1033)

Có cụ khác lại phản bác các ý kiến trên, bằng một biện luận: làm sao Đức Chúa Hiền Lành và Nhân Từ như thế, mà Ngài lại có thể giáng phạt loài người bằng hình thức là đưa họ vào chốn lửa lào, đến vĩnh cửu, được? Đối lại ý kiến này, một cụ khác lại biện giải: Chúa chả bao giờ nghĩ ra việc tống khứ con cái mình vào chốn lửa bỏng, rất hoả ngục được. Đúng hơn, Ngài muốn mọi người được cứu rỗi mà nhận ra được Sự Thật, như thánh Phaolô từng viết:

“Chúa muốn mọi người

được cứu độ

và nhận biết chân lý.”

(1Tm 2: 4)

Và:

“Ơn của Thầy đã đủ cho anh,

vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn

trong sự yếu đuối.

Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào

vì những yếu đuối của tôi,

để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi.”

(2Cr 12: 9)

Các cụ nhà mình chứng minh như thế, thì có kẻ nào lại dám “há miệng” nữa đây chăng? Quả thật, bần đạo đây cũng chỉ dám nói mỗi một lời, là: Không dám đâu! Vấn đề là, Kinh và Sách khi nói về chốn tù đày lửa bỏng, hay quê miền để luyện hình, vẫn đều không mang tính không gian và thời gian. Mà, chỉ nói về tình trạng ly cách, chẳng còn được hiệp thông với Chúa. Với người anh em trong Hội của các thánh, mà thôi.

Và, cụm từ “lửa đời đời”, “quân ác quỷ”, là ngôn ngữ khá hạn hẹp để diễn tả tình trạng hun đốt tâm can, do thiếu tình thương yêu đồng loại, mà ra. Tình trạng đó, ngược lại tình huống có lửa bừng bừng khí thế ngày Thần Khí Chúa đến, hôm Ngũ Tuần. Cả hai, đâu có chung cùng một thứ lửa! Đằng khác, với Chúa, làm gì có thứ lửa vật chất hun khói thịt gan của con người.

Lời Chúa qua ý/từ của Phaolô thánh nhân trích ở trên, tưởng cũng đủ để người đọc thấm nhuần được tinh thần của lời Kinh “Chúa muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết Chân Lý”. Và Chân Lý Ngài muốn mọi người lĩnh hội, đích thị là “Tình yêu giải thoát nhân trần”, trong đó có cả người phạm lỗi. Về Sự Thật “Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu”, thánh sử Gioan còn nói rõ:

“Hỡi các bậc phụ huynh, tôi viết cho anh em:

anh em biết Đấng vẫn có từ lúc khởi đầu.

Hỡi các bạn trẻ, tôi viết cho anh em:

anh em đã thắng ác thần. “

(1Ga 2: 13)

Để minh hoạ quả quyết của các thánh, có lẽ cũng nên về với truyện kể nhè nhẹ, nhưng rất thấm. Ngõ hầu thư giãn sau những giờ phút ngẫm suy rất căng thẳng.

“Truyện rằng:

Người hành khất nọ, đến trước cửa nhà một người giàu có để ăn xin. Chỉ một xu nhỏ, hay vụn bánh, vẫn là những gì người hành khất trông chờ ở người giàu. Tuy nhiên, mặc cho hành khất khốn khổ van lơn, người giàu kia vẫn ngoảnh mặt làm ngơ . Kịp đến lúc, ông không còn chịu nổi lời van xin của người hành khất nữa, thì thay vì bố thí cho xong chuyện, người giàu đã lấy hòn đá ném vào người hành khất khốn khổ.

Hành khất buồn, bèn cúi xuống nhặt hòn đá cho vào bị, rồi thầm thì trong miệng: “Ta mang theo hòn đá này cho đến ngày ngươi sa cơ lỡ vận, rồi sẽ biết. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại nhà người…”

Đi đến đâu, hành khất nghèo cũng mang theo hòn đá ấy làm kỷ vật. Tâm hồn ông luôn mang hận thù tựa lửa hoả ngục.

Năm tháng trôi qua, lời chúc dữ của hành khất nghèo đã thành hiện thực. Vì biển lận, người giàu kia bị tước đoạt hết tài sản, lại còn bị tống giam vào ngục thất. Hôm ấy, hành khất nghèo chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu có, đến ngục tù. Nỗi hờn căm sục sôi trong lòng, ông bèn men theo đoàn người áp tải, để xem tiếp. Tay ông không rời hòn đá nhỏ mà người giàu nọ từng ném vào người ông cách đó hơn chục năm. Ông dự tính ném trả hòn đá ấy vào người tù, để rửa mối nhục thù hằn in dấu vết nơi tâm can. Cuối cùng, thấy gương mặt tiều tụy đáng thương của kẻ bị nạn, hành khất nghèo bèn buông thả hòn đá xuông đất rồi tự nhủ: “Sao ta cứ phải mang hòn đá này từ bao nhiêu năm trước? Còn người này, giờ đây cũng chỉ là một con người khốn khổ như ta, mà thôi!” (Ngụ ngôn của Léon Tolstoi)

Sau khi kể lại truyện tích trên, người kể còn thêm một câu kết rất đẹp: “Tha thứ là điều khó nhất, nhưng cao cả nhất, trong đời người.” Bần đạo ngồi ngẫm nghĩ thấy cũng lạ. Có thứ tha nào mà không là điều cao cả? Chí ít, là những tha thứ do Đấng Cao Cả từng bảo ban.

Từ suy tư ấy, bần đạo bèn thiển nghĩ: hành khất trên, chắc đã từng sống tâm trạng ngục thất với ngục tù suốt nhiều năm? Chí ít, là khi ông cưu mang hận thù suốt đời mình. Cưu mang rồi, mới nếm mùi Thiên quốc với Nước Trời một khi dám vứt bỏ mọi hận thù đằng đằng, vẫn mang bên lòng, rất nhiều năm.

Vẫn biết thế, nên hôm nay bần đạo theo thói cũ mà ê a bài ca của nghệ sĩ trên vừa mới hát:

“Nhớ những đường về sương rơi mịt mùng

Mắt biếc là màu riêng tôi lạnh lùng.

Thương cho người về cô đơn với bóng,

Mây chiều lạc loài đã xuống, với thu mênh mông.”

(Thanh Trang – bđd)

Ê a một lời ca, là để ta sẽ không còn thì giờ mà biện luận, cùng cãi tranh. Ai hơn ai thiệt. Ai đúng ai sai. Nhưng, hãy cứ “thương cho người về cô đơn với bóng” . Cô đơn, trong một tình huống. Lẻ bóng, trong cả lập trường mình bận tâm. U hoài. Thời đương đại.

Trần Ngọc Mười Hai

Có luận và có phiếm

cũng chỉ để kiếm tìm

một Sự thật cho riêng mình.

(Xem thêm các bài khác, xin mời vào : www.giadinhanphong.com)