Saturday, 13 November 2010

“Thôi thì thôi, để mặc mây trôi”

Ôm trăng đánh giấc, bên đồi dạ lan

Thôi thì thôi chỉ là phù vân.

Thôi thì thôi nhé, có ngần ấy thôi.”

(Phạm Duy – Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng)

(1 Ph 3: 10-12; Dt 1: 1-3)

Ấy chết. Ai lại hát và ca những lời buồn đến là thế. Bởi, dù cho anh/cho em, có kiếm được Động Hoa (rất) Vàng; hoặc, có “ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan” cách nào đi nữa, thì mọi sự đâu vì thế mà trở thành phù vân. Mây trôi. Phù vân hay mây trôi, đâu là những sự rất thật, mà nghệ sĩ nhà mình, đến phải hát khúc nghê thường, và rợn rùng với những câu:

“Chim ơi, chết dưới cội hoa.

Tiếng kêu, rơi rụng giữa giang hà

Mai ta chết dưới, cội đào.

Khóc ta xin nhỏ, lệ vào thiên thu. “

(Phạm Duy – bđd)

Thiên thu hay “ngàn thu áo tím”, vẫn còn đó những người hết ỉ ôi ngồi đó cho thêm sầu. Rồi còn “nhỏ lệ vào thiên thu”. “Chết dưới cội đào”. Như một số nhân sĩ trong/ngoài nhà Đạo, tuy không khóc lóc hỡ ôi, nhưng vẫn dùng lời ca rất ư là sướt mướt, mà tả oán như:

“Thôi thì em, chẳng còn yêu tôi.

Leo lên cành bưởi, khóc người rưng rưng

Thôi thì thôi, mộ người tà dương

Thôi thì thôi nhé, đoạn trường thế thôi.”

(Phạm Duy – bđd)

Đoạn trường, dù chỉ thế thôi, cũng đừng khóc. Cuộc đời, dù vẫn là như vậy, cũng chớ than. Hãy như đấng bậc vị vọng nào đó trong Đạo, vẫn có nhận định sáng suốt, về đời người. Và người đời. Nhưng Ngài không khóc. Và cũng chẳng than. Bởi, có than hoặc khóc cho lắm cũng chẳng được việc gì. Chi bằng, ta cứ xác quyết một lời ca rất chắc nịch, rằng: “Thôi thì thôi nhé, đoạn trường thế thôi!”

Thông thường, ở vào “đoạn trường” nào đi nữa, bần đạo cũng rất ngại phải lập đi lập lại nhận định của quan chức/bề trên rất cao sang bề thế, ở đâu đó. Nhưng, lại cũng có những nhận định nghe kỹ thấy rất đúng. Vì thế nên hôm nay, bần đạo xin phép được chuyển đến bạn bè người thân, những lời này:

“Năm vừa rồi hay trước đó không lâu, Chúa cứ phải đón nhận những lời rất tiêu cực, từ các mục quảng cáo phổ biến trên truyền thông, nói tiếng Anh. Nói cho cùng, cũng khó mà tấn công và đả kích Đấng Tối Cao, rồi lại bảo Ngài không bao giờ có thật ở trên đời. Thế mà, dân con Đạo Chúa, vẫn cứ là đề tài để những người chống Chúa lấy đó mà đàm tiếu. Lạm dụng. Bản thân tôi, chẳng biết các vị “phản thần” ấy, có đặt Kitô giáo làm đối tượng để họ chống đối liên tục, nhiều hơn đạo Hồi không. Duy, có một điều tôi nắm rất rõ, là: hễ đả kích người Đạo Chúa, bao giờ cũng an toàn hơn đả kích dân con bên đạo Hồi.

Hai vị phản-thần nổi tiếng thế giới là các ông Richard Dawkins và Christopher Hitchens chẳng bao giờ thấy mệt mỏi để ngưng vẽ vời tô thêm sắc mầu tệ hại lên Đạo Chúa. Tuy nhiên, những điều họ đề cập, lại khiến cho Đạo của Chúa càng được chú ý thêm. Càng có thêm sắc thái/sắc mầuqua các cuộc suy tư/thảo luận, ngày một trổi bật.

Nhiều vị, cứ vững tin vào Chúa. Tin có Chúa hiện diện bằng nhiều cung cách. Và, chỉ một số ít chủ trương đích danh chống đối Ngài. Hoặc, đối kháng các hoạt động nơi Hội thánh của Ngài. Trong khi đó, lại có vị khác chưa từng nghe biết Ngài, vẫn mở rộng lòng mình ra với sự huyền diệu của sự sống. Mở lòng với Đấng Siêu Việt Huyền Nhiệm cũng rất nhiều. Còn, mở lòng để lùng tìm một Thiên Chúa mang tính chất triết học, càng ít hơn. Có điều là, những người tìm cách chống Chúa, dễ có khuyến điểm là hay vướng mắc vào những chuyện dị đoan. Ma thuật. (x. George Cardinal Pell, Thư Mục vụ Ngày Lễ Ngũ Tuần năm 2010)

Đó là giòng chảy của đấng bậc rất vị vọng, trong Đạo, ở Sydney. Còn, nhân sĩ ngoài Đạo, cũng đã cảm kích những điều rất “Đạo” của nhà Chúa, nên đã có nhận định khá độc đáo về chất Đạo của Đạo Chúa, như sau:

“Đọc những dòng trong Tin Mừng Mt 5: 1-10 nói về các Mối Phúc Thật, điều đầu tiên khiến tôi nghĩ đến là đoạn văn muốn chỉ về việc những ai muốn dấn thân vào con đường Đạo và chấp nhận những thử thách đau khổ trên con đường Đạo, sẽ nhận được phần thưởng của sự dấn thân đó. Về vấn đề các bản văn giảng dạy lòng khoan dung đòi hỏi các bạn tự do chấp nhận thử thách, sẽ sai lầm nếu coi đó là lời khẳng định rằng đau khổ thì tốt, và tất cả chúng ta phải tìm kiếm khổ đau. Khỏi cần nói, tôi không chủ trương một quan điểm như thế. Tôi nghĩ rằng mục đích của cuộc đời chúng ta, là tìm hạnh phúc, tìm cách để được thoả mãn và sung túc. Tuy nhiên, vì những thử thách và nhọc nhằn là một phần tự nhiên của cuộc sống, nên điều chủ yếu là phải có một quan điểm cho phép chúng ta có thể đề cập một cách hiện thực để có thể rút ra một vài lợi ích.

Khi xem xét bản chất của đau khổ, chúng ta thừa nhận rằng có một số hình thức đau khổ mà người ta có thể tìm ra các giải pháp; và vì vậy, có thể chế ngự được. Một khi người ta có ý thức về đau khổ, người ta phải đi tìm giải pháp và phương tiện để chiến thắng đau khổ. Nhưng, cũng có những loại đau khổ không thể tránh khỏi và chế ngự được, cũng là những sự kiện tự nhiên của cuộc sống. Trong những trường hợp như vậy, điều quan trọng là triển khai một trạng thái tinh thần cho phép tiếp cận sự đau khổ một cách hiện thực. Làm được như vậy, chúng ta có lẽ sẽ đi tới việc chấp nhận những khó khăn ấy một khi chúng xuất hiện. Một thái độ như thế, sẽ bảo vệ các bạn, không chỉ đối với thực tế vật chất của đau khổ, mà còn đối với gánh nặng tâm lý vô ích đi kèm theo, vì phải chiến đấu chống lại khổ đau.” (x. Le Dalai Lama parle de Jésus, Vĩnh An dịch, Thiện Tri Thức xuất bản 2003, tr. 37-39)

Là nhân sĩ rất lành thánh, và là trụ cột của Giáo hội, thánh Phêrô cũng có nhận định rất ư là chí lý, về nỗi sướng vui/hạnh phúc, Chúa chủ trương như:

“Thật thế,

ai là người thiết tha được sống

và ước ao hưởng chuỗi ngày hạnh phúc,

thì phải giữ mồm giữ miệng,

đừng nói lời gian ác điêu ngoa;

người ấy phải làm lành lánh dữ,

tìm kiếm và theo đuổi bình an,

vì Chúa để mắt nhìn người chính trực

và lắng tai nghe tiếng họ kêu xin,

nhưng Người ngoảnh mặt đi,

không nhìn kẻ làm điều gian ác.”

(1Ph 3: 10-12)

Xem thế thì, nỗi vui mừng hạnh phúc, sướng vui hoặc những đau khổ/cực hình, không ở cùng một tần số diễn tả như người nghệ sĩ già từng ca hát, những là: “để mặc mây trôi”, “chết dưới cội đào”, “lệ vào thiên thu”, vv.. Mà, là: biết làm lành/lánh dữ. Biết nhận ra thông điệp thần thiêng Chúa gửi, mà đeo đuổi. Thông điệp Chúa bảo ban, là bảo và ban ngang qua các sự kiện xuất hiện rất rõ nơi các bậc vĩ nhân/thần thánh, chốn riêng tư.

Hôm nay, thần linh chư thánh vẫn cứ tỏ bày, ở nhiều chốn rất riêng tư. Các ngài vẫn chuyển đạt thông điệp êm ái với mọi người, bằng nhiều cách. Một trong những cách mà người đời nay hay gọi đó là “phép lạ/sự lạ” mà dân con mọi người chấp nhận coi như mạc khải. Về những mạc khải tương tự, có người coi đó như ơn lành Chúa ban, cho riêng mình. Người khác vẫn nghi nan. Cật vấn. Một trong những vấn nạn gửi đến đấng bậc vị vọng ở Sydney, để nhờ đức ngài phụ trách mục hỏi đáp giải thích về những sự (rất) lạ, được tóm gọn bằng những hang bên dưới:

“Tôi có người bạn cũng rất thân, đã hỏi nhiều về một số “phép lạ” Chúa Mẹ gửi đến với các đấng bậc lành thánh, ở khắp nơi. Bản thân tôi chẳng dám phẩm bình, dù một chữ. Nhưng cứ nghe thắc mắc, tôi cũng có lần lòng tự hỏi lòng mình xem có nên thắc mắc hoặc bình phẩm gì về những phép lạ mà có người gọi đó là “mạc khải riêng tư” không? Xin phép hỏi ngài tôi cần có phản ứng như thế nào, mới đúng?

Đã có người hỏi, thì đức thày linh mục John Flader thuộc giòng dõi chính qui Opus Dei cũng đâu thấy ngại ngần gì mà chẳng lên tiếng, giãi bày, như sau:

“Có thể nói, đây là một trong những thắc mắc khá tinh tế, nhưng thú vị. Đây, cũng là câu hỏi, mà nhiều người vẫn hằng đưa ra. Hỏi, là hỏi rằng: người Công giáo ta nên tỏ thái độ như thế nào khi nghe biết có những “sự lạ” xảy ra cùng khắp, chỗ riêng tư?

Trước hết và trên hết, hãy tìm hiểu xem cụm từ “mạc khải riêng tư”, có nghĩa gì? Rồi, cũng nên bắt đầu bằng cách phân biệt các sự kiện ấy với “mạc khải chung cho hết mọi người”, tức: mạc khải Chúa ban qua Kinh thánh và Thánh truyền, gửi đến mọi người, ở trần gian.

Mạc khải, mà mọi người đều nghĩ, là: nó đã kết tận sau cái chết của vị tông đồ cuối cùng còn sống trong Hội thánh. Đàng khác, Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải mang tên “Lời Của Chúa” được các nghị phụ Công Đồng Vatican II bàn luận rất kỹ. Các ngài có nói: “Không có mạc khải mới nào được gửi đến với mọi người sẽ được trông đợi xảy đến trước ngày Chúa lại tỏ hiện trong vinh quang. Ngời sáng.” (x. Hiến Chế Lời Của Chúa #4)

Quả thế. Thiên Chúa gửi đến cho ta, Người Con Duy Nhất của Ngài, tức Ngôi Lời Nhập Thể. Và, Ngài còn chuyển đến ta, tất cả những gì cần thiết để ta hiểu rõ hơn ơn cứu độ. Rõ ràng là, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã từng viết: “Đức Kitô, Con Thiên Chúa mặc xác thịt làm người, là Con Một của Chúa Cha. Ngài là Ngôi Lời kiện toàn và không gì có thể lướt vượt trên Ngài được. Nơi Ngài, Thiên Chúa đã mạc khải hết mọi điều, để ta hiểu. Và như thế, sẽ không còn lời nào được mạc khải rõ hơn nữa về chính Ngôi Lời của Thiên Chúa.” (x. sách GLHTCG #65)

Sách Giáo lý Hội thánh còn trích dẫn lời thánh Gioan Thánh Giá, khi thánh nhân giải thích rõ hơn bằng những từ ngữ sinh động như: “Khi ban cho ta Con Một Ngài, là Ngôi Lời Duy Nhất có một không hai, Thiên Chúa đã nói với con người duy nhất chỉ một lần, qua Ngôi Lời -và Chúa không còn gì để nói nữa- bởi, những gì Ngài đã nói ngang qua các ngôn sứ thời trước, thì nay Ngài còn mạc khải chỉ một lần thôi bằng cách ban cho ta trọn vẹn Ngôi Lời là Con Một Ngài. Thế nên, những ai vấn nạn Chúa hoặc ao ước được có thêm điều lạ/thị kiến hoặc mạc khải, đều là phạm lỗi. Lỗi tội, không chỉ một hành vi ngông cuồng/rồ dại mà thôi, nhưng còn do mình đã cả gan xúc phạm đến Ngài nữa. Xúc phạm, vì không những ta không ngước mặt nhìn Ngài qua Đức Kitô thì chớ, lại cứ hay thắc mắc/tìm tòi về những sự lạ/phép lạ nào khác, mới mẻ nữa.” (x. Biến hình trên Núi Camel, 2 22, 3-5; và Thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Do Thái 1: 1-2; sách GLHTCG #65)

Với những lời như thế, thánh Gioan Thánh Giá cũng đã phần nào trả lời cho câu hỏi mà anh/chị nêu ra. Nói tóm lại, các thánh khuyên ta hãy ngước mặt nhìn vào Đức Kitô, cách trọn vẹn. Ngài là Ngôi Lời độc nhất Thiên Chúa mạc khải cho ta. Bởi thế, ta cũng đừng nên đeo đuổi kiếm tìm sự lạ/phép lạ, nào khác.

Nói thế, há bảo: mạc khải riêng tư không quan trọng sao? Không phải thế. Trả lời thắc mắc/khiếu nại gì, thì cũng nên nghe lời sách Giáo Lý Hội thánh, vẫn viết tiếp: “Trải qua năm tháng cùng nhiều thế kỷ, một số trường hợp được gọi là mạc khải “riêng tư”, được Hội thánh chuẩn nhận. Tuy nhiên, mạc khải ấy không cốt để củng cố niềm tin. Tức, nói thế không có ý bảo rằng Hội thánh có nhiệm vụ phải cải thiện hoặc hoàn tất Mạc Khải Chúa truyền đạt, nhưng Hội thánh làm thế là để giúp cho thành viên Hội thánh sống trọn vẹn điều Chúa bày tỏ, ở giai đoạn nào đó, trong lịch sử.“ (x. GLHTCG #67)

Xem như thế, thì “mạc khải riêng tư” không thêm gì vào những điều Chúa đã dạy, mà cốt chỉ để giúp dân con sống trọn vẹn điều Ngài dạy dỗ. Trong các mạc khải riêng tư được Hội thánh công nhận, tực như những điều Chúa tỏ bày cùng thánh nữ Magarét Maria Alacoque về lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa. Hoặc như: ảnh lạ Chúa ban cho thánh nữ Catarina Labôrê; hoặc lời nhắn gửi đến dân con Đạo Chúa hãy chuyên cần lần Chuỗi Mân Côi do Đức Mẹ nhắn gửi các thánh ở Lộ Đức, Fatima. Và thêm nữa, là: mạc khải về việc tôn sùng Lòng Chúa Xót Thương mà thánh nữ Faustina Kowalski nhận được từ Chúa.

Tất cả các mạc khải nói trên, đều giúp dân con nhà Đạo sống trọn vẹn điều Chúa khuyên dạy, từ ngàn xưa.

Mới đây, nhiều bản tường trình đề cập đến các dấu chỉ cũng như sự lạ mà dân con Chúa vẫn nhận được từ nhiều nơi, kể cả Úc, theo đó thì: một số sự lạ, có nguồn gốc siêu nhiên, theo sau là những hiện tượng làm bằng chứng mà cứ sự thường ít có ai giải thích được, bằng lẽ thường.

Nhiều sự kiện khác tuy không xác thực cho lắm, nhưng vẫn bao hàm một sứ điệp rất xứng hợp với giáo huấn của Hội thánh. Các sự kiện như thế vẫn có lợi cho người nhận. Và đôi lúc còn cho cả những người khác nữa.

Dầu sao đi nữa, cũng nên nhớ rằng: qua Hội thánh, Chúa đã tỏ bày những gì ta cần biết, ngõ hầu ta có thể bồi đắp cho ơn cứu độ của mình. Bởi thế nên, hãy tạo cho mình sự an toàn, là: chỉ chấp nhận Sự Thật Chúa mạc khải cho con cái Ngài mà thôi, chứ đừng tìm kiếm phép lạ, hoặc sự lạ rất hi hữu. Bởi,nhiều sự kiện xảy ra chỉ là mánh khoé do kẻ nghịch thù đem đến, thế thôi.

Tắt một lời, cũng chẳng là chuyện hay ho gì, nếu ta cứ mải mê tìm chỗ này nơi nọ yếu tố nào khả dĩ chứng minh rằng mình nhận được “mạc khải riêng tư” rất lạ, một khi Chúa đã đem đến cho hết mọi người những gì mình cần biết, qua cái chết và sự sống lại của Con Một Ngài, là Ngôi Lời Nhập Thể. Như thế, đã là phép lạ/sự lạ lớn nhất rồi, cần gì khác nữa.” (x. Lm John Flader, The Catholic Weekly 5/9/2010, tr.12)

Hỏi là hỏi như thế. Đáp, là đáp như vậy. Tuy nhiên, sao ta thấy nhiều người vẫn cứ hỏi. Nên, đức thày lại cứ đáp. Đáp/hỏi – hỏi/đáp mãi không thôi. Đó, là cuộc đời. Một đời có nhiều thắc mắc lẫn hỏi han. Đến bận lòng.

Để cho lòng người bớt đi những bận rộn về nhiều thứ, xin đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta hãy nên để lòng mình trùng xuống cho thư giãn bằng những giòng chảy của ai đó, rất dễ nghe, như sau:

“Khi kịp có trí khôn, tôi cố gắng học cho xong bậc trung học, để còn bắt đầu học cấp 3. Khi bắt đầu học cấp 3 được ít lâu, tôi lại cứ nhủ lòng mình là phải cố gắng học xong cho sớm để còn kiếm kế sinh nhai. Đi làm rồi, lại tranh thủ lập gia đình, và có con. Và khi đã có con rồi, tôi lại mong cho con hay ăn chóng lớn, để tôi về lại với công việc hằng ngày mà lo lắng. Sau đó, lại cố làm thêm ít năm nữa để rồi mai ngày khi về hưu, sẽ có chút gì trông nom con cháu. Cứ cố gắng hoài, cố mãi để rồi hôm nay đã thấy rằng mình quên mất một chuyện chính yếu, là: hãy lo sống trước đã, mọi việc tính sau.

Cũng thế, nay tôi thấy nhiều người cứ mải kiếm tìm chuyện lạ trong đời, để rồi tin. Và cuối cùng, chuyện lạ đâu không thấy, cứ thấy mình vớ vẩn/lẩn thẩn, luôn xục xạo mà không chịu sống, như vẫn được ông bà tổ tiên răn dạy.

Nay, thì tôi nắm được chân lý cuộc đời, là: những gì gửi đến cho tôi, dù không mới mẻ vẫn cứ là quà tặng không biếu không do Bề Trên gửi để tôi sống. Sống niềm tin an lành, và vui hưởng hạnh phúc.”

Truyện ở trên, thật ra cũng chẳng làm bạn và tôi thư giãn được mấy chốc. Duy có điều khiến bạn và tôi, ta sẽ thấy thoải mái, nếu ta hiểu được câu nói của ai đó, vẫn cứ bảo: “Dưới mặt trời này, chẳng có gì mới lạ, cả đâu.”

Qua các nhận định trên, hẳn bạn và tôi là con dân nhà Đạo, ta cũng nên và cũng phải có lập trường minh định rằng phép mầu rất lạ của Chúa, còn đó nơi Tin Mừng. Phép rất lạ, lớn lao và huyền diệu nhất mà lâu nay ta vẫn nhận được cách nhưng-không là: Chúa đã trao tặng trọn đời Ngài, để dân con mọi người được cứu rỗi.

Và điểm cốt lõi của hiến tặng Chúa gửi, để dân con mọi người được lĩnh nhận Tình thương rất bao la của Thiên Chúa. Chỉ “lạ” một điều, là: ta biết thế, nhưng vẫn ngoảnh mặt, chẳng muốn nghe?

Vậy thì, hãy cùng nghe nghệ sĩ già nhạc Việt, cứ thong thả rong ca câu hát rất nên thơ:

“Rằng xưa có gã từ quan

Lên non tìm động hoa vàng ngủ say

Thôi thì thôi để mặc mây trôi

Ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan

Thôi thì thôi chỉ là phù vân

Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi.”

(Phạm Duy ­– bđd)

Hát như thế, là có ý bảo: có tìm cho lắm những sự lạ hay phép lạ, cũng chỉ là phù vân. “Ngần ấy thôi.” Chi bằng, ta cứ trân quí đón nhận “sự lạ” mà Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu vẫn cứ ban cho ta, mọi ngày và mỗi ngày, rất khôn nguôi.

Trần Ngọc Mười Hai

Nhiều lúc tự thấy mình

chẳng khùng thì cũng điên.

Điên, vì cứ tìm và cứ kiếm

những sự lạ,

rất khó tìm.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com;

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com )

Saturday, 6 November 2010

“Chiều một mình qua phố,”

âm thầm nhớ nhớ tên em, có khi nắng khuya chưa lên

mà một loài hoa chợt tím.”

(Trịnh Công Sơn - Chiều Một Mình Qua Phố)

(2Ph 1: 13-15)

Phố xá anh qua, có là nhà Đạo ở quận/huyện, anh chợt đến? Quê nhà chị đến, có là trời cao chốn vắng, rày hay quên? Quên/nhớ chốn trời cao/phố vắng, là chuyện bình thường. Thường và bình, là chuyện “một mình qua phố”, để “âm thầm nhớ tên em”. Nhớ loài “Hoa chợt tím”. “Gót chân mềm”. “Chiều một mình qua phố” rất bình thường, còn gợi buồn cho mình và cho người một giòng thơ. Mơ huyền. Trầm tĩnh.

Giòng thơ mơ huyền, nay lại đến với bần đạo, nhân có buổi “chiều một mình qua phố”, đến nhà Đạo. Nhưng, phố xá mà bần đạo mới vừa qua, lại là phố Đạo bình thường. Rất dễ thương. Cũng nhắc nhớ “tên em”. Rất êm đềm. Tên, của người anh/người chị, với những tình tự dễ thương. Dễ nhớ. Nhớ và thương, một ký ức, tức tình tự của đấng bậc lành thánh. Rất sốt sắng. Linh đạo.

Sống ở nhà Đạo lại qua phố, bần đạo cũng có ước mơ, tự sự nghe nghệ sĩ hát, rất quen quen:

“Chiều một mình qua phố

âm thầm nhớ nhớ tên em

Gót chân đôi khi đã mềm

gọi buồn cho mình nhớ tên.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Và, “một mình qua phố”, bần đạo cũng qua là để “nhớ tên em”, rất âm thầm. Người của Hội thánh. Nhớ tên em, là tình tự mà bần đạo nhận ra được ở lời thơ còn hát tiếp:

“Chiều qua bao nhiêu lần môi cười, cho mình còn nhớ nhau

Chiều qua bao nhiêu lần tay mời, nghe buồn ghé môi sầu.

Ngày nào mình còn có nhau, xin cho dài lâu.

Ngày nào đời thôi có nhau, xin người biết đau.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Cùng với người nghệ sĩ trên, bần đạo cũng đã “một mình qua phố”, với môi cười. Để rồi sẽ “nghe buồn ghé môi sầu”. Chuyện “dài lâu”. “Người biết đau”.

Ấy đó, là chuyện đời. Chuyện của người nghệ sĩ, cũng bon chen. Nhưng, không thoát phận hèn. Niềm đau. Ấy đó, là tâm tình của dân con nhà Đạo, cũng hay xục xạo như bần đạo. Cũng từng “một mình qua phố”, nhưng không phải chốn phố chợ. Đường đời. Mà, phố Đạo. Nhà Đạo. Để rồi, cứ khờ khạo. Chẳng để tâm/lưu ý gì tâm sự của vị đại lão trưởng tràng cộng đồng dân Chúa, từng có lời kinh hôm. Rất thúc bách. Như sau:

“Tôi thiết nghĩ:

bao lâu tôi còn sống cuộc đời chóng qua này,

tôi phải nhắc nhở để thức tỉnh anh em,

đó là điều phải lẽ,

vì biết rằng sắp đến thời tôi phải bỏ lều này,

như Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta,

cũng đã tỏ cho tôi biết.

Nhưng tôi sẽ cố gắng, để trong mọi trường hợp,

sau khi tôi ra đi, anh em có thể nhớ lại các điều ấy”

(2Ph 1: 13-15)

Điều thúc bách hôm nay, không là lời thơ hay tự sự về những buổi “một mình qua phố” mà là gợi nhớ cả lời kinh/tâm tình hầu “thức tỉnh anh em”, về “điều phải lẽ”.

Điều phải lẽ, hôm nay là: cần nhớ những gì Chúa đã tỏ cho mình biết. Cần nhớ thêm cả đôi điều người nghệ sĩ hôm xưa khắc khoải, chịu đựng. Nên mới hát:

“Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên em

Gió ơi gió ơi bay lên, để bụi đường cay lòng mắt

Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên em

Áo xưa chưa quen phong trần, đợi mùa thu vàng áo thêm.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Chiều một mình qua phố Đạo hôm nay, không chỉ có mỗi bần đạo mà chắc nhiều người cũng thấy có tình huống rất tương tự. Khi được nghe biết sử hạnh của chị Mary MacKillop và thời gian đợi chờ để được Hội thánh ngó ngàng, mà vinh danh thành hiển thánh. Cả thời gian, khi chị bị Vatican dứt phép thông công.

“Chiều một mình qua phố”, còn là động thái của nhà Đạo vẫn cứ âm thầm mà đợi chờ để được các đấng vị vọng “nhớ tên em”, mà cứu xét. Cứu xét kỹ, mới tấn phong thành bậc hiển thánh, rất đáng nhớ. Nhớ đến chuyện tấn phong hiển thánh cho Mary MacKillop, ở Úc. Nhớ và đợi, thu vàng áo thêm” mà tầm nguyên/nghiên cứu mọi việc cho kỹ lưỡng. Nếu không, sẽ bị cho là hấp tấp. Thiếu chính xác.

Về thời gian đợi chờ, nơi đây lại có lời nhắn dân con nhà Đạo, rằng: mười năm hoặc trăm năm, đâu đã dài. Đâu cứ bậc hiển thánh nào, cũng chờ lâu. Nhớ, là nhớ trường hợp Mẹ Têrêxa Calcutta, được phong Chân phước nhanh nhất lịch sử?

Nhớ, là nhớ rằng Mẹ qua đời năm 1997. Chỉ hai năm sau, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị đã bãi bỏ điều lệ năm năm, cho phép mở cuộc điều tra về đời của Mẹ. Và, chỉ sau giỗ đầu của Mẹ, tức năm 2002, Toà thánh đã công nhận phép lạ Mẹ làm. Và, chỉ sáu năm sau ngày Mẹ qua đời, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị lại đã công bố Mẹ là Chân phước, năm 2003.

Trường hợp của Mary MacKillop, thì khác. Mary MacKillop qua đời ngày 8/8/1909. Ngay vào ngày an táng chị, Đức Hồng Y Moran, Tổng Giám Mục Sydney, lại đã tuyên bố rằng chị sẽ được phong thánh, ngày rất gần. Bằng chứng là, vào ngày an táng chị, nhiều người đem chuỗi tràng/cỗ hạt, cùng ảnh tượng sờ chạm vào thi hài chị, để hưởng ơn lành phước hạnh. Có vị còn đến mộ chị đem đất lành cùng đá sỏi về làm báu vật. Hy vọng tương lai mình cũng được hưởng ơn lành từ đấng thánh.

Đến năm 1925, tức hơn ba mươi năm sau, Đức Tổng Giám Mục Kelly, đấng kế vị Hồng y Moran, mới nhớ đến việc tái lập toà án phong thánh cho chị. Và, đến năm 1931, thì tiến trình phong thánh cho chị bị khựng lại vì một trục trặc nhỏ, là: tài liệu quan trọng để duyệt xét, đã thất lạc. Không thấy lưu giữ ở văn khố.

Hai mươi năm sau, tân Tổng Giám Mục Sydney là Đức Hồng Y Gilroy, mới tìm lại được tài liệu này và chính ngài đã tái lập toà án điều tra việc phong thánh cho chị. Suốt từ năm 1951 đến 1961, toà án đã điều tra rất kỹ các nhân chứng ở Sydney và nơi khác như: Brisbane, Adelaide, tức những nơi chị từng đặt chân đến, để cứu xét.

Năm 1973, giới chức Hội thánh ở Sydney lại thu thập thêm nhiều dữ kiện quan trọng gửi về La Mã để mong toà thánh có đủ dữ kiện mà quyết định. Và rồi, nhân dịp ghé Sydney vào độ ấy, Đức Phaolô Đệ Lục đã quyết định mở lại toà điều tra, tiếp tục cứu xét một số yếu tố có liên quan đến đời lành thánh của chị Mary MacKillop, ở Úc. Và không lâu sau đó, lm Aldo Rebeschini được giao cho trách nhiệm rất quan trọng ấy. Linh mục Rebeschini đi khắp đó đây, không chỉ Rôma thôi, mà cả Anh Quốc, Ái Nhĩ Lan để có thêm bằng chứng, mà cứu xét.

Kết quả được đúc kết trong một tài liệu gọi là Positio nhằm xác định xem nữ tu Mary macKillop có sống đời nhân đức theo cung cách anh hùng như Hội thánh qui định không. Việc này đươc giao cho một linh mục Dòng tên khác là cha Paul Gardiner, làm Cáo Thỉnh Viên, có sự hợp tác của lm Peter Gumpel cũng Dòng Tên từ năm 1984 đến năm 1989. Từ đó, cả hai vị có trọng trách báo cáo về Toà thánh, nhận ý kiến.

Năm 1989, các đấng bậc có trọng trách đã đệ trình sự việc lên Thánh Bộ Phong Thánh để kịp thời cứu xét. Không đầy ba năm sau, tức vào ngày 13/6/1992, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị đã long trọng tuyên bố Mary MacKillop là đấng bậc sống đời nhân đức rất mực của đấng bậc lành thánh, nên được Giáo hội chuẩn thuận nâng lên bậc Đáng Kính.

Kế đó, Toà thánh cũng công nhận phép lạ do lời cầu bàu của Đấng Đáng Kính Mary MacKillop mà nữ phụ nọ sống ở Úc đã khỏi bệnh ung thư máu, gian đoạn chót. Sau đó ít lâu, các chuyên viên y khoa tiếp tục cứu xét sự kiện xảy đến với một bệnh nhân khác, có từ năm 1961. Và, ngày 6/7/1993, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị khẳng định: đây là phép lạ do Đấng Đáng Kính Mary MacKilop thực hiện.

Cũng từ quyết định này, Toà thánh tiến đến giai đoạn tiếp phong Chân Phước cho Mary MacKillop. Nhân dịp Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tổ chức tại Sydney, năm 2008, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô 16 đã chính thức phong Chân Phước cho Đấng Đáng Kính Mary MacKillop và từ đó, cho phép Hội thánh ở Úc, chọn ngày mừng kính chân phước để đưa vào lịch phụng vụ. Lễ kính Chân Phước MacKillop được ấn định vào ngày 8 tháng 8, tức ngày chị đi vào cuộc sống miên trường. Vĩnh cửu.

Muốn được phong thành hiển thánh, các Chân phước phải có thêm một phép lạ nữa mới kiện toàn đủ thủ tục. Trường hợp chân phước MacKillop, đã có thêm bằng chứng cho thấy một nữ phụ khác bị bướu độc ở phối đã chạy lên não bộ thần kinh, khiến y khoa bó tay từ chối giải phẫu. Và, các bác sĩ khẳng định là bệnh nhân này chỉ sống được vài tháng, là tối đa. May nhờ bạn bè khuyến khích, người bệnh đã tìm đến Chân Phước MacKillop để khẩn cầu. Kết quả là, 10 tháng sau đó, tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân đã cải thiện, trông thấy. Bướu độc biến mất. Bệnh nhân thực sự khỏi bệnh.

Với phép lạ thứ hai này, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô 16 đã chuẩn thuận cho phép giới chức Toà thánh lo liệu phong thánh cho Chân phước MacKillop. Nghi thức phong thánh cho chị được diễn ra tại Quảng Trường thánh Phêrô ở Rô-ma hôm 17/10/2010, vừa qua.

Xét cho cùng, những câu hỏi người nghệ sĩ trên nêu ra: “ngày nào mình còn có nhau, xin cho dài lâu, có nên áp dụng vào tiến trình phong thánh cho nữ tu Mary MacKillop, không? Và, “xin cho dài lâu” ở đây, có là niềm vui khôn tả xiết, với Hội thánh ở Úc? Chắc chắn việc phong thánh cho nữ tu Mary MacKillop sẽ tạo ảnh hưởng “dài lâu” lên cuộc sống của thành viên trong Giáo Hội. Ở đây. Sau này. (x. Lm Gardiner, Mary MacKillop, Saint in the Making Trung Tâm Giáo Dục Công Giáo Sydney).

Nay, có lẽ sẽ có người hỏi: việc phong thánh cho chị kể như đã xong. Thế còn, ảnh hưởng của sự việc này, rày đã thấy? Thấy hay không, cũng chẳng rõ. Chỉ rõ mỗi một điều, là: cuộc sống ở đời, hay trong Đạo, vẫn có những tình huống giống như câu hát của người nghệ sĩ trên “cuộc đời còn có nhau, xin cho dài lâu”. Tức, ở vào tình và huống của buổi “chiều, một mình qua phố”, hẳn là: người người vẫn “âm thầm nhớ nhớ tên em”, nhớ suốt ngày. Nhớ khôn nguôi.

Nhớ tên em, là nhớ cả tên của vị thánh nhỏ đầu tiên của Úc, hoặc nhớ gì đi nữa, vẫn có thể là tình huống rất nhớ và rất âm thầm như câu truyện ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Một hôm, có vị samurai người Nhật đến thu nợ của người đánh cá nọ. Người đánh cá gặp chủ nợ, bèn nói: “Tôi xin lỗi, năm vừa qua công việc làm ăn đến là tệ, tôi không có đủ tiền để trả nợ cho ngài.”

Vị samurai nổi giận, bèn rút kiếm ra định giết chết người đánh cá ngay lập tức. Rất nhanh trí, người đánh cá vội phân bua: “Tôi cũng từng học võ nhưng sư phụ của tôi lại khuyên không nên cãi vã/đánh nhau lúc mình đang nổi nóng.”

Vị samurai nhìn anh dân chài một lúc, sau đó ông từ từ hạ kiếm xuống. “Sư phụ của ngươi rất khôn. Sư phụ ta cũng dạy như thế. Ðôi khi ta không kềm chế được cơn giận của mình. Ta sẽ cho ngươi thêm một năm nữa mà tìm cách trả nợ nần. Lúc đó, nếu ngươi chỉ thiếu một xu thôi, ta cũng sẽ giết ngươi, vì lỗi hứa.”

Vị samurai về nhà, lúc ấy cũng đã muộn. Ông nhẹ nhàng bước vào bên trong, không muốn đánh thức vợ. Nhưng bất chợt, ông thấy vợ mình và kẻ lạ mặt mặc phẩm phục samurai đang nằm trên giường. Điên lên vì ghen tức, ông rút kiếm khỏi bao định giết cả hai người, nhưng đột nhiên nhớ lại lời người đánh cá văng vẳng bên tai: “Sự phụ tôi dặn: Ðừng hành động khi còn giận dữ.”

Vị samurai ngừng lại, hít thật sâu đầy buồng phổi. Sau đó, ông cố tình gây tiếng động để cảnh báo. Vợ ông nghe tiếng, vụt dậy ngay lập tức. Kẻ lạ mặt cũng ngồi. Nhìn kỹ kẻ lạ mặt, vị samurai mới nhận ra đó là mẹ của ông. Suýt bị ông giết.

Ông gào lên:

-Thế này là thế nào đây? Suýt nữa thì con đã giết chết cả hai người!”

Vợ ông phân trần:

-Vì sợ kẻ gian lẻn vào, nên thiếp đã để mẹ mặc áo của chàng hầu đánh lạc hướng bọn chúng.”

Năm sau, người đánh cá gặp lại vị samurai chủ nợ của mình, bèn thưa.

-Năm vừa rồi công việc làm ăn của tôi, thật tuyệt vời. Nay, tôi đến là để trả nợ cho ngài đây, cả tiền lãi nữa! Đây, ông hãy cầm lấy số tiền này, như đã định.

Vị samurai thấy anh dân chài thật lòng, bèn nói:

-Anh đã trả nợ cho tôi đầy đủ rồi. Thôi hãy ra về, mà sống đời hạnh phúc. Khỏi lo lắng chuyện nợ nần gì nữa hết. ”

Truyện ở trên, xem ra cũng có chút gì gọi là đã kết hậu. Cũng ngắn gọn. Chẳng dông dài. Lại ý nghĩa. Và, người kể còn rút ra bài học nhỏ, là: ở hoàn cảnh nào cũng thế, đừng có động thái nào hết, khi đang giận. Bởi có câu: 3 điều làm hỏng con người, là: Rượu, lòng tự cao tự đại, và sự gận dữ. Xét theo truyện ở trên, thì chỉ một câu van xin khất nợ thật thà của người quê, cũng đã gíup vị samurai tránh được cái hoạ tày trời là giết người, cả vợ lẫn mẹ, nữa.

Ngoài ra, người kể cũng lại thêm lời bàn khác, là: ở hoàn cảnh nào đi nữa, ở ngoài đời hay trong Đạo, cũng chớ gượng gạo mà thắc mắc/hỏi han bằng những câu âu sầu. Rầu rĩ. Như câu hát: “Ngày nào mình còn có nhau, xin cho dài lâu”. Như, đợi chờ việc phong thánh cho nữ tu nọ hay ai đó. Khá dài ngày.

Nói: chớ gượng gạo, vì như lời truyền tụng nọ vẫn quả quyết: hồi Đức Bênêđíchtô thứ 16 còn là Hồng Y Ratzinger, ngài từng tuyên bố một câu “rất xanh rờn”, nhưng không mấy thuyết phục rằng: “Úc là đất nước trần tục nhất hành tinh.” (x. Michael Cook, MercatorNet 19/10/2010 tr.1)

Không cần biết, nhận định trên đúng đến cỡ nào. Chẳng cần hỏi, chuyện ấy ảnh hưởng đến người sống ở Úc ra sao? Xét cho cùng, ai cũng nhận ra, là: truyền thông Úc, lâu nay vốn là đệ tứ quyền chuyên kình chống/uý kỵ Hội thánh Chúa. Chí ít, là Hội thánh Công giáo. Chẳng thế mà, khi có sự kiện gì xấu xảy đến với Hội thánh ở đây, truyền thông Úc cứ là nhảy xổ vào, để ăn có. Hoặc, chỉ để thổ lộ những phẩm bình như câu hát: “Ngày nào đời thôi có nhau, xin người biết đau.”. Dài lâu. Rất âu sầu.

Đến đây, hẳn bạn cũng đồng ý là vị samurai nọ cũng là đấng nam nhi quân tử vì ông đã hành xử theo như câu nói ở đâu đó, về đạo làm người quân tử, có bốn điều. Đó là: mạnh dạn khi làm điều nghĩa; nhũn nhặn khi nghe lời can gián; lo nghĩ khi nhận bổng lộc; và cẩn thận với việc sửa mình. Đến đây, bần đạo lại liên tưởng đến chuyện “xin cho dài lâu” một vận hội. Lễ hội. Và, đại hội. Tức những hội và những lễ được tổ chức rất cao sang. Hoành tráng. Sục sôi. Để rồi, khi “ngày vui qua mau”, ta sẽ lại thấy đau thương cứ kéo dài, rồi sẽ hát:

“Chiều một mình qua phố,

Nghe giòng nước vẫn vây quanh

Bước chân nghe quen cũng buồn

Lạy đời, xin còn tuổi xanh.”

(Trịnh Công Sơn –bđd)

Rõ ràng là, người có kinh nghiệm về hệ quả của những ngày dài hội lễ, cũng rất đại. Dù “đại” ấy có là thánh hội mà dân con Đức Chúa vẫn cứ mừng, và cứ kính. Dù, chỉ là hội lễ mười năm. Trăm năm. Hoặc, ngàn năm rất mây bay. Đó, cũng là hội lễ rất tưng bừng. Hưng phấn. Những là, rồng bay phượng múa. Kiệu rước linh đình, đầy đủ cả. Trong khi dân con Đức Chúa chỉ cần “âm thầm nhớ nhớ tên em”. Âm thầm, nhớ tên của thánh nhân hôm trước từng dặn dò:

“Bao lâu tôi còn sống cuộc đời chóng qua này,

tôi phải nhắc nhở để thức tỉnh anh em…”

(2Ph 1: 13)

Thánh Phêrô có nhắc hoặc có nhủ, ngài cũng chỉ muốn nhắc anh và nhắc em, dân con Đức Chúa, hãy nhớ rằng:

“Anh em hãy gia tăng lòng nhiệt thành,

và lo sao để nhờ lòng tin thì đạt thêm đức độ,

nhờ đức độ lại thêm giác ngộ,

nhờ giác ngộ lại thêm tiết tháo

nhờ tiết tháo lại thêm đạo đức,

nhờ đạo đức lại thêm tình huynh đệ,

nhờ tình huynh đệ lại thêm đức mến.

Vì các điều ấy, một khi đã có và có cách dồi dào,

tất không để anh em ở dưng, vô hiệu trên đường trí tri

về Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô.”

(2Ph 1: 1: 5-9)

Hôm nay, ngồi nhớ những lời âm thầm nhắnvà nhủ như thế, bần đạo đã thấy sợ. Vì sợ, nên tự kiểm và tự thấy: dân con Đức Chúa, xưa nay được dặn dò rất nhiều lần, mà sao có nhớ cũng chẳng được bao nhiêu. Vẫn sục sôi, hoành tráng sống đời phô trương nhiêu lễ hội. Chẳng hề biết “âm thầm nhớ nhớ tên em”. Và, nhớ tên đấng bậc anh hùng, rất lành và rất thánh, từng nhắc nhớ.

Ngồi nhớ cảnh trời Tây hôm ấy, ở Rô-ma có buổi phong thánh hoành tráng. Sục sôi. Tốn phí. Bần đạo thấy người mình bần thần, lẩy bẩy. Bèn, vào phòng nhẩm hát lời ca ở dưới, làm kết đoạn:

Còn một mình trên phố,

Âm thầm nhớ nhớ tên em,

Ngoài kia không còn nắng mềm

Ngoài kia, ai còn biết tên.”

(Trịnh Công Sơn –bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Với những khắc khoải

kéo dài nhiều buổi chiều

cứ âm thầm ngồi nhớ.

Nhớ tên người em/người chị

các vị rất lành và rất thánh.

Ở nhiều nơi.