Saturday, 12 June 2010

“Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng”

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng.”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng- Mộng Dưới Hoa)

(Mt 21: 22)

Này hỡi, bạn và tôi. Hát câu trên, ta có thể “phán” thêm, mà rằng: vì chưa gặp, nên ta mới nói như thế. Chứ gặp rồi, ta có còn nhận định giống thế, nữa hay chăng? Trong sống Đạo giữa đời, có những tình huống cũng không khác thế là bao. Đạo, là một hành trình. Đời đi Đạo, là hành trình dọc suốt cuộc đời để kiếm tìm. Một niềm tin. Tin ai. Tin gì. Phải chăng là tin vào Đức Chúa? Tin rằng: Chúa vẫn đẹp hơn trăng. Hơn sao. Và mọi nét đẹp trên đời. Nhưng tin rồi, có lúc ta lại thôi. Không tin nữa. Cứ như thể, một rượt bắt. Rất “trốn tìm”.

Quả là, Đức Chúa của mình thật quá đẹp. Ngài đẹp, không chỉ mỗi sắc diện ngoại hình, thôi. Nhưng Ngài đẹp toàn diện. Cả bên trong. Lẫn bên ngoài. Nói chung, Ngài rất đẹp. Chưa gặp, nên mình chưa tin. Vậy thôi. Bởi thế nên, hỡi bạn và hỡi tôi, ta thử men theo người nghệ sĩ, vẫn cứ hát:

“Ta gặp nhau, yêu chẳng hạn kỳ,

Mây ngàn gió núi đọng trên mi…”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng-bđd)

Chắc hẳn gặp Ngài rồi, ta sẽ thấy mình: “yêu chẳng hạn kỳ”, thôi. Thế nhưng, đời người có nhiều “gió núi đọng trên mi”. Nên có lẽ vì thế, ta mới ngờ. Mới uý kỵ. Uý, niềm tin. Kỵ, niềm riêng. Của mình đấy. Cũng vì thế, nghệ sĩ mình cứ linh tinh những hát tiếp:

“Nếu bước chân ngà, (em) có mỏi?

Xin em dựa sát lòng anh…”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng-bđd)

Cứ ví thử, người yêu của bạn và của tôi, là con dân nhà Đạo. Sống trong đời, lại được Chúa/được Cha nhắn nhủ bằng câu ca/tiếng hát, rất ở trên. Chắc hẳn: bạn và tôi, ta cũng thấy lòng êm ái, thương rất nhiều. Cũng êm. Và rất ái. Mới có tâm sự lòng thòng cùng Đấng Bậc, mình vẫn yêu? Vẫn chiều. Và vẫn mến. Bởi vậy, sẽ hát thêm:

“Ôi, vai kề vai.

Hương ngát mái đầu!

Đêm nằm nghe bước mộng trôi mau.

Gió ơi, gửi gió lời tâm niệm,

Và, nguyện muôn chiều.

Ta có nhau.”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng-bđd)

Sự thể là, đời mình/đời người, có những vấn đề được đặt ra như thế này: ngồi lại mới thấy, nhiều lúc không thể tỏ bày chuyện trắng/đen, mọi điều cho tỏ. Thế nhưng, vẫn cứ nửa nạc nửa mỡ, rất lờ mờ. Nên mới chết. Chết thật sự, nếu áp dụng vào địa hạt của một niềm, rất tin. Bởi lẽ: mới vừa “Ôi, vai kề vai” đây thôi, mà sao đã thỏ thẻ:

“Bước khẽ cho lòng (xin) nói nhỏ,

bao nhiêu mộng ước phù du…”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng-bđd)

Vào với địa hạt của niềm tin, lẽ đáng ra ta phải nhớ đến Lời của Chúa, rất như sau:

“Và mọi điều,

các ngươi lấy lòng tin mà nguyện cầu,

các ngươi sẽ được.”

(Mt 21: 22)

Vừa qua, trong một dịp có những chia và sẻ rất đích thực ở buổi lễ tại gia, đã có bè bạn vẫn vương vấn một ưu tư/san sẻ rất thân thương. Mạn đàm. Tình thân. Như sau:

“Đọc Tin Mừng đoạn Chúa chịu thử thách, rồi nhìn lại bản thân, tôi thấy đời mình/đời người bao giờ cũng có hai thử thách sánh đôi. Ảnh hưởng rất hỗ tương. Lên nhau. Thứ nhất, là thử thách về niềm tin. Tin đó, rồi lại ngờ đó. Hai, là: thử thách về Quyền lực. Tức, quyền bính/quyền hành. Thử thách này tương tác hỗ trợ thử thách kia. Là người, ta luôn ước sao cho mình có quyền. Bởi, một khi có quyền rồi, là mình có tất cả. Và khi có tất cả, mình tự thấy uy thấy lực để hành. Hành xử. Hành sự. Và, hành hạ. Lẫn nhau. Có quyền, là có cớ để hành người khác. Trước nhất, là vợ. Là con. Là, kẻ mà mình cho là thấp hèn hơn. Hoặc, tự cho mình cái quyền dạy dỗ và muốn người khác thực hiện ý của mình, thôi. Chứ tuyệt nhiên không muốn điều ngược lại. Và, khi có quyền và có lực rồi, mình sẽ không còn thời gian và cơ hội để nghĩ và nhớ đến Chúa. Huống hồ là, tin vào Chúa. Các thử thách này là những điều rất thực. Chúng đan kết với nhau, ảnh hưởng lên nhau. Luôn làm mình bận tâm. Chúng thay nhau dằn vặt mình. Dằn vặt người. Suốt đời.” (chia sẻ của bạn trẻ họ Trần, trong buổi họp mặt có thánh lễ tại gia ở Sydney 20/2/2010)

Thế đó, là chia và sẻ. Chia sẻ, theo nghĩa sẻ san cho nhau một cảm nghiệm. Về giữ Đạo. Trong đời. Chia sẻ vào buổi lễ, là để nghe ý kiến của người khác. Khác mình. Khác người. Là, kể cho nhau nghe chuyện đời mình. Đời người. Vào thời trước:

“Đúng như anh vừa nói, thử thách rất lớn trong đời sống của anh em mình, là: niềm tin. Để minh chứng cho chuyện này, tôi xin kể lại kinh nghiệm cá nhân về một thử thách lớn tôi từng gặp, là: vào thời điểm bước lên tầu thuyền để vượt biên/đi biển, tôi được tầu Na-Uy cứu. Họ cho bọn tôi ăn uống no nê, xong xuôi rồi bảo: ‘Biển hôm nay lặng như tờ, vậy xin mời bà con xuống thuyền tiếp tục mà đi. Nghe vậy, bọn tôi thay nhau làm tài công. Nhưng thật sự thì bọn tôi ai cũng có công nhưng không có tài, nên cứ thế đi hoài và đi mãi. Cuối cùng, lại trôi dạt vào bờ. Để rồi, công an cầu cảng buộc lòng phải ra tiếp. Xộ khám.

Thời gian trong tù, là thời gian tôi suy nghĩ ghê lắm. Vẫn cứ hỏi: Chúa đâu rồi? Sao Ngài cứ để tôi nằm mãi chốn giam cầm, rất đau thương. Và tăm tối? Chúa có còn thương tôi nữa không? Sao, tôi cứ phải trải qua hết đau thương này đến khổ cực khác? Đến độ, tôi đâm ra hoài nghi cả Chúa nữa. Cuối cùng, nhờ vào lời cầu nguyện, tôi được ơn lấy lại niềm tin, mình từng đánh mất.

Tóm lại, đối với tôi, thử thách lớn nhất trong đời, là: thách thức về niềm tin. Tin có Chúa giúp mình, trong mọi hoàn cảnh, của cuộc đời. Tin rằng: Ngài vẫn yêu tôi. Vẫn ra tay cứu giúp. Luôn hộ phù tôi, trong mọi lúc. Cả vào khi tôi rơi vào chốn tối tăm, của nghi ngờ. Có Ngài hộ phù, tôi mới vững tin đến bây giờ.” (thành viên họ Vũ, thêm vài ý tưởng nhỏ trong buổi lễ nói ở trên hôm 20/02/2010)

Thử thách lớn về niềm tin, là thế sao? Niềm tin, hay niềm riêng? Có là niềm yêu thương, hạnh phúc. Rất hoan Lạc. Bình dị? Niềm tin, có là niềm riêng, trong tương quan ta với Chúa? Hay, chỉ là niềm thương yêu, của chính ta? Với bạn bè, người chưa quen? Chưa thân thiết? Tin, có là niềm riêng tương quan rất cứng ngắc? Một huyền thoại? Thần thoại buồn. U tối. Biện luận. Của triết nhân?

Hỏi, là hỏi chỉ thế thôi. Có trả lời, cũng chẳng “trả” được “lời” nào. Cho mình. Và cho ai. Tốt hơn hết, có lẽ ta vẫn cứ tìm. Và cứ kiếm. Kiếm tìm/gặp gỡ, rất riêng tây. Đầy tràn. Thuyết phục. Tìm và kiếm, có đính kèm vài truyện kể. Bên lề. Để luôn vui. Kể cho nhau nghe, khi căng thẳng. Lúc nghi ngờ. Úy kỵ. Vậy thì, mình cứ kể. Dù truyện kể không thích hợp với chủ đề khúc mắc. Khó giải.

“Kể rằng:

Ngày nọ, Vua Salômôn muốn làm bẽ mặt ông Bê-na-ia, vị cận thần thân tín, nên vua bèn nói:

-Bê-na-ia à, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong lễ Sukkot này. Ta hạn cho ông sáu tháng để tìm chiếc vòng ấy.

Bê-na-ia trả lời:

-Thưa Bệ hạ, trên đời này, có bất kỳ thứ gì tồn tại thì hạ thần quyết tìm thấy mang nó về ngay dâng Bệ hạ. Duy có điều, hạ thần nghĩ: chiếc vòng ấy chắc phải có gì đặc biệt lắm, Ngài mới ra lệnh cho đi tìm.

Vua đáp:

-Chiếc vòng ấy, có sức mạnh thật diệu kỳ. Hễ kẻ nào đang vui mà nhìn vào, sẽ thấy buồn. Nếu ai đang buồn, mà nhìn vào nó sẽ thấy vui ngay.

Vua biết rằng trên đời này, làm gì có chiếc vòng như thế tồn tại. Nhưng vua muốn cho vị cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.

Mùa xuân trôi qua, mùa hạ chợt đến. Bê-na-ia vẫn chưa tìm ra phương cách hay ý tưởng nào khả dĩ giúp ông tìm được chiếc vòng diệu kỳ như thế. Vào đêm trước lễ Sukkot, ông đang lang thang tìm đến một trong những nơi nghèo nhất ở Giêrusalem để tìm kiếm. Bỗng, đi ngang qua người bán hàng rong nọ đang bày bán những món hàng bình thường trên tấm bạt tồi tàn, Bê-na-ia bèn dừng lại hỏi:

-Này ông, có bao giờ ông nghe nói về chiếc vòng kỳ diệu có khả năng làm cho mọi người được hạnh phúc, nghĩa là đeo nó vào sẽ thấy mình luôn vui sướng. Còn người đau khổ hễ đeo nó, sẽ quên đi mọi nỗi buồn, hay không?

Người bán hàng lấy từ tấm bạt đang treo, một chiếc vòng giản dị có khắc dòng chữ lạ kỳ. Bê-na-ia đọc dòng chữ trên vòng đó, khuôn mặt ông bỗng nở rộ một nụ cười.

Đêm hôm đó, trong lúc toàn thành phố hân hoan đón mừng lễ hội Sukkot, thì nhà vua gọi Bê-na-ia lại hỏi:

-Này, ông bạn của ta, ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?

Tất cả mọi cận thần đứng quanh vua, đều cười lớn. Chính vua Salômôn cũng cười.

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Bê-na-ia trịnh trọng đưa chiếc vòng cho vua và nói:

-Thưa Bệ hạ, chính nó là chiếc vòng nay.

Vua Salômôn đọc dòng chữ ghi trên vòng, bỗng nụ cười vụt biến trên môi. Chiếc vòng trông chẳng có gì đặc biệt. Đặc biệt, chỉ mỗi dòng chữ:"Điều đó rồi cũng qua đi".

Vào phút ấy, vua Salômôn chợt nhận ra rằng: hết thảy mọi khôn ngoan, vương giả và quyền uy của vua chỉ là phù du thôi. Bởi, một ngày nào đó, ông chỉ là cát bụi. Rồi cũng qua đi.

Thái độ của vua Salômôn, tuy được tiếng là giỏi dang. Khôn ngoan. Nề nếp. Vẫn dễ tin. Tin rất dễ, những gì không là vật chất. Cát bụi. Bởi lẽ, mọi điều rồi cũng qua đi. Như cát bụi, đời người. Chí ít, là tin vào lời. Của ai đó. Dù, đó có là lời kinh hôm. Ban sớm. Dù, đó có là lời kinh mình thuộc lòng, lúc tuyên xưng. Ở buổi lễ. Vẫn là thế.

Niềm tin hay đức tin, là: cả tấm lòng. Là, niềm riêng. Nhiều quyết tâm. Tin, là quyết chí thực hiện cho bằng được những gì mình nhất quyết. Tin, là tuân theo. Là, thực hiện ý muốn của Đấng/của người mà mình khâm phục. Yêu thương. Trân quý.

Tin, là biến khâm phục và thuyết phục thành hiện thực. Thành, hành động. Và, niềm tin người nhà Đạo, là biến hành động mình quyết tâm, bằng cử chỉ đẹp. Có yêu thương. Giùm giúp. Hiệu quả.

Tin và yêu, không đòi chứng minh. Thị thực. Theo luật. Nhưng, thông thường vẫn ngang qua sự việc thực tế. Rất sống động. Bằng hành vi. Cử chỉ mà người đời, gọi đó là hành xử. Tức, xử sự bằng hành động. Hoặc, bằng hành vi rất năng động.

Năng động ở hành vi “tin”, là năng và động khi người người biết duy trì và chuyển tải niềm tin ấy, cho người khác. Chuyển, không có nghĩa là dụ dỗ. Thuyết phục. Nhưng, bày tỏ cho người chưa nghe/chưa biết, về một người. Một sự việc. Thế thôi.

Năng động trong niềm tin, là tự mình học và hỏi. Đào sâu. Rất xác tín. Tức, nắm phần chắc về điều mình tin. Mình học nơi sách vở. Từ người khác. Học, kinh nghiệm của chính mình. Tin, nhờ công trình tìm kếm. Rất hăng say. Kiên trì. Lặng lẽ.

Tin, là tuỳ cuộc sống và đường lối mình thực hiện. Để nói rằng: những gì mình tin, đều có thật. Những điều mình được dạy, là những điều cần diễn tả và sống thực. Sống, bằng chính cuộc sống thực tiễn. Tin và sống, luôn đi kèm/hoà hợp với tình yêu. Bởi thế nên, nhà Đạo mình vẫn gọi đó là “Tin-yêu”. Tin, là tin tưởng để thương yêu. Tin, để yêu nhiều hơn. Để, chứng tỏ mình trông cậy nhiều hơn. Tin, là tin-yêu Đức Chúa. Qua con người. Với mọi người. Tin Chúa. Tin vào Tình thương của Ngài. Tin, không bằng lời. Nhưng, bằng hành động. Như câu truyện, kể ở dưới:

“Truyện rằng:

Nhật Bản thời buổi đó, có câu chuyện rất thực, được kể cho dân nghe. Như sau:

Có cư dân nọ, muốn sửa căn nhà mình ở, cho thông thoáng. Dễ thở. Ông bèn tháo dỡ bức tường hiện có, lôi tấm gỗ giữa lớp xi-măng, xem có gì cần lắp ráp không. Khi tháo dỡ, ông phát hiện ra chú thạch sùng đang ngủ vùi, trong đó. Đuôi của chú dính chặt vào tường gỗ bằng một lỗ đinh, từ ngoài đóng xuống. Thấy cảnh đó, ông thương cho chú thạch sùng, lại tò mò muốn biết: sao thạch sùng bị dính chặt vào đó, lâu ngày dày tháng, mà vẫn sống nhiều năm, không chết? Không đói. Chẳng cần ăn?

Quan sát kỷ, cuối cùng ông phát giác ra một điều: ông thấy từ đâu đó, bò ra một chú thạch sùng khác, đực/cái không rõ. Miệng chú ngoạm miếng mồi, kiếm được từ nơi nào đó, đem về mớm cho thạch sùng đang bị nạn, ăn đỡ đói. À thì ra, thạch sùng kia sở dĩ sống hết ngày này qua tháng nọ, là nhờ vào tình thương yêu đùm bọc của đồng loại. Vẫn chăm chút.

Thế mới biết, loài thú mà còn có niềm tin-yêu thương xót, huống chi nhân sinh, người đời. Thế mới biết, chính niềm tin-yêu, đùm bọc đã giúp con người và loài thú qua được truân chuyên. Khổ ải. Của cuộc sống.”

Xác chứng sống động về niềm tin, bằng truyện kể, vẫn dễ nghe. Và dễ tin hơn lời kinh hôm sớm. Chẳng mấy thuyết phục. Xác chứng, là chứng tỏ cách xác đáng bằng sự sống. Xác chứng như thế, vẫn hơn cãi tranh. Biện luận. Thuyết giảng. Chẳng thế mà, người người mang giòng máu thi ca/âm nhạc, vẫn lan man điệu hát. Hát rằng:

“Ôi, chưa gặp nhau như đã ước thề,

Mây hồng giăng tám ngả sơn khê.

Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng,

Và, mộng em cười, như giấc mê.”

(Phạm Đình Chương/Đinh Hùng- bđd)

Gặp rồi hay chưa, vẫn cứ tin. Bởi, tin là sức sống của mọi người. Không chỉ, là người trong mộng. Như ước thề. Tin, là xác chứng rằng mộng của em và của tôi vẫn cứ cười, như giấc mê. Bởi lẽ, cuộc sống ở đời, chỉ là giấc mê thôi. Hay giấc mộng. Nếu chẳng tin. Chuyện gì.

Trần Ngọc Mười Hai

rày đã thấy

kiếm tìm một niềm tin, không mấy khó.

Khó chăng, là duy trì và truyền tải.

Để thêm tin.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com

Saturday, 5 June 2010

“Nếu anh còn trẻ, như năm cũ

Quyết đón em về, sống với anh”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – Tình Cầm)

(Mt 11: 25)

Sydney, đi dần vào những ngày cuối thu, năm 2010. Bần đạo được hân hạnh đưa đón Bề Trên Giám Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, Lm Vinh Sơn Phạm Trung Thành. Là, một trong những người hợp tác gầy dựng phong trào “Bảo Vệ Sự Sống” ở Sàigòn. Và, Lm Lê Đình Phương, Phó Giám đốc Học Viện DCCT, thăm thủ phủ. Gặp nhau, tay bắt mặt mừng, chuyện đã đành. Đành rành hơn, là ý/lời bài “Tình cầm” cứ luẩn quẩn, về trong đầu. Của bần đạo. Vì “sung” quá, nên bần đạo mất cả “tiếng”… tốt. Mất đi cái “giọng cũ gần xa”, êm ái đó. Nên hôm ấy, bần đạo chẳng dám hát bảo: “Nếu anh còn trẻ như năm cũ”, có sẵn trong đầu. Hầu, gửi đấng bậc vị vọng. Cao sang. Chốn ấy.

Còn trẻ gì, mà sao anh cứ hỏi. Và, cứ nói. Hỏi và nói, những điều mà người đời cho là vẩn vơ. Lờ khờ. Hết ý. Đón em về, là đón theo vị thế trên/dưới, rất đôi bề. Đón em về, là đón người anh/người em tuổi đời tuy thua kém, nhưng phẩm trật lại thật cao. Đón em về, là đón chứ không hỏi xem “anh (có) còn trẻ”, nữa hay không. Và, “nếu anh (vẫn) còn trẻ”, thì những gì anh nói với em. Với anh. Với người. Đâu có là chuyện dễ làm. Dễ nói.

Thôi thì, hôm nay, bần đạo/người “em” vừa mới có lại được “tiếng” tốt, nên hát tiếp:

“Những khi chiều vàng phơ phất đến,

Anh đàn, em hát níu xuân xanh.”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – bđd)

Đấy kìa, ngày anh đến. Với Sydney. Em và tôi, ta vẫn cứ ca và cứ hát, đấy chứ. Nhưng đâu nào níu được mùa xuân. Xuân tuơi trẻ. Ngày xưa ấy. Buổi “chiều vàng”. “Bàng bạc”, Nhiều “vầng mây”. Nên, anh lại hát:

“Có mây bàng bạc, gây thương nhớ

Có ánh trăng vàng, soi giấc mơ.

Có anh ngồi lại, so phím cũ,

Mong chờ em hát, khúc Xuân xưa.”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – bđd)

Xuân xưa. Xuân nay. Chắc em và tôi, ta cứ nói. Nói, về Đức Chúa của Mùa Xuân. Về Chúa Xuân. Ở cõi Trời, đầy tình mến. Để, tôi và em, ta nhớ lời Chúa Xuân, xưa vẫn dạy:

“Lạy Cha là Chúa trời đất,

Con xin ngợi khen Cha,

vì Cha đã giấu những điều ấy

cho hạng thông thái,

nhưng đã mạc khải ra

cho kẻ bé mọn.”

(Mt 11: 25)

Rõ ràng: em và anh, ta đâu là “hạng thông thái”. Vẫn, “bé mọn” ở muôn thời. Nên, Chúa mạc khải cho ta điều mà nhiều người không hiểu. Thế nên, ta cứ hát:

“Nhưng thuyền em buộc, trên sông Hận

Anh chẳng quay về, với trúc tơ…”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – bđd)

Sông Hận. Trúc tơ. Nay, em và anh, ta ít nghe những điều mình cần hiểu. Nên, vẫn bảo:

“Ngày tháng tỳ bà, vương ánh nguyệt,

Mộng héo bên song, vẫn đợi chờ.”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – bđd)

“Ngày tháng tỳ bà”, là tháng ngày của “sông Hận”. Bận “ánh nguyệt”. Của, “mộng héo” bên sông. Tháng ngày chờ mong. Chờ, niềm vui đến. Mong, hạnh phúc Chúa gửi. Đến muôn người.

“Ngày tháng tỳ bà”, là tháng ngày buồn khi người em bé bỏng chẳng biết Chúa Xuân, vẫn mạc khải. Bảo ban. Làm sao nghe, nếu em không có đôi tai tròn. Xinh xắn. Làm sao có, nếu mẹ cha không cho em chào đời. Sống với người.

Vâng. Nhân sinh người đời, vẫn chuyện buồn “sông Hận”. “Mộng héo”. Rất “Tỳ bà”. Nhân sinh cuộc đời, vẫn đợi và vẫn chờ. Chờ đợi, một giấc mơ. Xưa. Giấc cũ xưa, vẫn mơ giấc của người đời khi xưa. Trong Đạo. Vẫn về với ưu tư. Thắc mắc. Về, quyết định của nhân sinh người người. Về, sản sinh kẻ “bé mọn”, Chúa nhủ khuyên. Về ngừa thai, như thư của bổn đạo “miệt dưới”, rất Sydney.Thư, là thư về ngừa thai. Sinh đẻ. Kể như sau:

“Vẫn biết rằng, Hội thánh vẫn theo luật, để suy tưởng. Suy và tưởng, về biện pháp ngăn ngừa sử dụng ngừa thai không phù hợp với thiên nhiên. Thế nhưng, có những vợ chồng trẻ vẫn cố lẩn lách việc sản sinh ra bé em để dưỡng nuôi. Vậy, thì xin hỏi: có gì khác biệt giữa phương pháp ngừa thai tự nhiên, với kế hoạch hoá gia đình, như Giáo hội dạy? Xin cho biết lập trường đúng đắn của Hội thánh, để thực thi.”

Lập trường đúng. Chính qui. Thanh bạch. Nay muốn biết. Vẫn cứ vời đến lời đáp giải của đức thày nhà Đạo, tuy không mới. Cũng chẳng lạ. Nhưng, hãy xem đức thày vị vọng ở Úc, có lập trường phóng khoáng hơn xưa, không? Và đây, câu đáp trả:

“Trước hết, điều quan trọng là: ta nên tỉnh táo hiểu rằng: người thường có lý do nào đó dễ bào chữa cho hành động của mình, hầu lẩn tránh việc sinh con. Hôm nay. Mai ngày.

Năm 1968, Đức Phaolô Đệ Lục đã có tông thư được gọi là Hiến chế “Đời Sống Con Người” khi ngài viết: “Ở vào tình trạng khi mình có vấn đề về thể xác, kinh tế, tâm lý, xã hội, thì bậc cha mẹ phải có trách nhiệm khi ra quyết định phóng khoáng, độ lượng; ngõ hầu dựng xây gia đình, cho phải phép. Quyết định đề ra, phải do động lực thúc đẩy việc tôn trọng đạo đức, để không còn tránh né chuyện sinh con. Vào lúc này. Hoặc, trong tương lai.” (#10)

Nói thế, có nghĩa: những ai ở vào tình trạng có bệnh về thể xác, đau yếu tâm thần cả về phía vợ lẫn chồng, khiến họ có khó khăn nghiêm trọng trong cuộc sống, vv.. mới xác định được là mình nên đẻ thưa ra, hoặc tránh không nên có thêm con, vào lúc ấy.

Trở lại câu hỏi của anh/chị, thì: nếu vợ chồng có lý do chính đáng để thôi không nên có thêm con nữa, có gì khác biệt giữa kế hoạch hoá gia đình tự nhiên, với chuyện ngừa thai không? Câu trả lời là: Có chứ. Khác, một trời một vực.

Ý Chúa, là: Ngài ban cho con người sức mạnh dục tình là để họ có thể sử dụng nó mà diễn bày tình yêu mật thiết, của hôn nhân. Diễn bày, trong khuôn khổ đoàn kết hiệp nhất. Luôn mở ngỏ. Để tặng ban sự sống. Tặng ban, theo nghĩa đồng công tạo dựng sự sống.

Qua Hiến chế “Cuộc Sống Con Người”, Đức Phaolô Đệ Lục đã giải thích lý do nói tại sao tránh thai lại là động thái không đúng với luân lý/đạo đức con người, vì “những gì Chúa kết hợp, loài người không được phân ly”. Tức, ý Chúa muốn con người phải sinh sôi nảy nở, thì không ai được phá bỏ ý Ngài. Mà, chỉ làm theo ý mình. Sinh sản, là động tác phối kết vợ chồng. Phối kết hài hoà. Là, đồng công tạo dựng sự sống, cùng với Chúa. Nếu duy trì hai ý nghĩa kết hợp và đồng công tạo dựng sự sống, thì động tác giao thoa/phối kết sẽ bao gồm ý nghĩa thương yêu tràn đầy, theo hai chiều. Tựa hồ kêu gọi con người hãy tuân thủ ý hướng của Chúa mà làm cha làm mẹ, cho đúng nghĩa.” (#12)

Người phối ngẫu muốn thực hiện kế hoạch hoá gia đình cho đúng phép tự nhiên, thì họ nên chọn lối giao thoa/phối kết vào thời kỳ vô sinh, của người nữ. Làm như thế, họ không khoá đóng khả năng sinh sản. Nhưng, mở ra cho sự sống. Làm như thế, là họ tuân theo chu kỳ sản sinh, Chúa tạo dựng.

Vợ chồng có trao thân dục tình cho nhau hay không, tuỳ tự do của hai người. Thành thử, nếu cả hai chọn không quan hệ dục tình vào một số ngày nào đó trong tháng, thì việc ấy cũng chẳng có gì là tội. Hoặc, bất luân.

Hơn nữa, quan hệ dục tình vợ chồng, là động thái yêu thương rất đích thực. Nói đúng, là trao thân gửi phận, cả hai chiều. Có hỗ tương. Làm như thế, hành động của họ sẽ phản ánh việc Chúa trao ban Thân Mình Ngài cho con người. Và, khi vợ chồng tặng trao thân xác mình qua giao thoa dục tình, là họ quyết định đạt cho được sự đậu thai sung mãn. Không giữ lại gì. Làm như thế, là họ chấp nhận yêu con cái, Chúa tặng ban.

Ngược lại, khi sử dụng biện pháp ngừa thai, thì cả hai không còn tặng trao cho nhau trọn nguời mình. Có tặng có cho, cũng chỉ cho mỗi thân xác dục tình, mà thôi. Vẫn giữ lại khả năng sinh sản bằng các vật cản thể lý/hoá chất, để tránh việc có con. Làm như thế, tứclà đã phản bác. Đã thay đổi tính tự nhiên nơi hành động tặng trao thân xác, của chính mình.

Điều này không chỉ mang tính ngược ngạo, kình chống kế hoạch của Chúa bằng sử dụng quan hệ dục tình thôi, lại cũng chẳng thể hiện tình thương yêu đích thực, như Chúa muốn.

Năm 1981, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị đã giải thích thêm bằng Tông thư mang tính khuyến cáo với tựa đề:“Familiaris Consortio” (Đồng Thuận Gia Đình) có ý bảo: “Ngôn ngữ bẩm sinh diễn tả trạng thái vợ chồng trao ban thân xác cho nhau là trao ban theo cung cách “có đi có lại”. Còn, việc thực hiện ngừa thai, lại bao choàng ngôn ngữ ngược ngạo nghĩ rằng như thế mới khách quan, nhưng thực ra cả hai đã không đích thực trao thân mình cho người kia, cách trọn vẹn. Hành động này, không chỉ dẫn đến trạng thái khước từ mở lòng mình ra với sự sống mà thôi. Nhưng, còn bóp méo sự thật nội tại của tình vợ chồng, nữa. Bởi lẽ, tình yêu vợ chồng kêu gọi hai người trao ban cho nhau con người mình, vẹn toàn. Và, thật lòng.” (#32)

Động thái giao thoa/phối kết vợ chồng mà sử dụng phương pháp ngừa thai, là: động thái chỉ mang tính dục tình thể xác, chứ không có nghĩa yêu thương gì hết. Vợ chồng nào lúc đầu có sử dụng biện pháp ngừa thai, nhưng sau này đã biết tặng trao cho nhau trọn con người mình, mà không tính đến biện pháp ngăn ngừa thụ thai gì hết, sẽ cảm nhận được sự khác biệt trong hành xử. Thương yêu. Rất nhiệt tình.

Thêm vào đó, vợ chồng nào thực thi kế hoạch hoá gia đình vì lý do chính đáng, sẽ nhận ra rằng tình yêu họ tặng trao cho nhau, mới đích thực tăng trưởng. Trao tặng tình yêu cho nhau, có đồng thuận nhín nhịn giao thoa mỗi tháng một ít ngày, sẽ làm cho đôi bên tôn trọng lẫn nhau, nhiều hơn. Càng khiến mình biết tự chủ. Làm chủ chính thân xác của mình. Làm chủ đời mình, nhiều hơn.”(Lm John Flader, The Catholic Weekly 23/5/2010 tr. 11)

Ấy đấy, lời ngọc ngà của đấng bậc vị vọng. Rất chính qui. Thanh bạch. Tận hiến, cho Chúa. Đây này, một lời khác. Lời, rất văn hoa/thi tứ của người viết nhạc, ở ngoài đời. Như sau:

“Nếu có ngày nào, em quay gót

Lui về thăm lại, bến Thu xa

Thì đôi mái tóc, không còn xanh nữa

Mây bạc trăng vàng, vẫn thướt tha...”

(Phạm Duy/Hoàng Cầm – bđd)

Cũng có thể, giòng chảy cuộc đời ở đôi phía, vẫn thướt tha. Song hành. Không trùng phùng. Bởi, con người sống ở đời, có quá nhiều nghịch lý. Ích kỷ. Trái khuấy. Tuy cũng lựa chọn yêu thương nhau, thật đấy. Nhưng, là chọn theo cung cách ngoài đời. Chứ không là chọn lựa theo kiểu con dân, Đạo Chúa. Lựa chọn, để tìm ra lối sống thích hợp. Hợp tình. Hợp lý. Với mỗi người.

Nói tóm lại, sống ở đời, mọi chuyện cần để Chúa hướng dẫn. Yêu thương. Quên mình. Mà, tặng trao. Trao tặng, niềm vui. Trong mọi sự. Như truyện kể để bớt căng, như sau::

“Truyện rằng:

Chú muỗi đực nọ cứ tàn tàn bay quanh trên đầu một người nọ, khiến người ấy tức chết được. Hắn bèn rình rập, đập nát thây. Muỗi ta thấy ức, nên khi về chầu Thượng Đế, muỗi bèn thưa:

-Thưa Ngài, con có làm chi nên tội đâu, mà sao loài người cứ tìm cách đuổi theo con rồi đập cho chết. Xin Ngài cứu xét tình cảnh khốn đốn, của con đây.

-Thế, anh có chích người ta không?

-Dạ không. Chỉ có muỗi cái khát máu, mới chích người. Tụi con đây là dân “chay trường” đâu dám hỗn.

Thượng Đế nghe vậy, bèn rà soát với các kỹ sư sinh đẻ, ở đời. Kết quả cho biết, đúng là chỉ muỗi cái, được tạo dựng theo cung cách đặc biệt mới đâm chích làn da con người, hút máu đám người để sinh sản, nuôi con. Vòi của muỗi đực, được tạo dựng theo dạng loa kèn, đâu để chích! Thượng Đế nhìn muỗi đực, thấy ngại, bèn hỏi lại:

-Này chú muỗi đực, thế nhà anh có hay chọc chích muỗi cái, không thế?

-Trình Ngài coi lại, chứ vòi của con đây mà chích được ai, cơ chứ!

-Anh hiểu sai ý Ta rồi. Ta muốn hỏi: anh có chích muỗi cái bằng thứ gì khác không?

-Dạ, chuyện ấy thì … thưa Ngài lâu lâu con cũng làm.

-Vì anh có làm, nên muỗi cái mới sinh con, nó cần chất bổ để nuôi con nên mới phải hút máu con người. Nếu anh không chích, làm sao giòng họ muỗi được tồn tại, đến hôm nay?..

Nghe Thượng Đế giải thích lý lẽ cuộc đời, muỗi đực bèn uất ức, bật tiếng khóc. Thấy vậy, Thượng Đế bảo:

-Thôi được Ta cho anh sống, với điều kiện…

-Thưa Ngài, điều kiện gì, xin cứ nói?

-Là, từ nay ngươi không được chích muỗi cái, chỉ để vui chơi cho thoả thích. Nhưng, mỗi lần làm thế chỉ để sản sinh muỗi con mà thôi. Con có chịu như thế không?

-Thưa Ngài, nếu vậy…nếu vậy, con xin thà chết sướng hơn…”

Truyện kể, có thể không như thế. Tức là, không thực. Chỉ là, tiếu lâm chay để người người, sống cho dễ. Nhưng, cũng là bài học ở đời. Theo cách khác. Không theo cách thế của Hiến chế Humanae Vitae. Nhà Đạo. Vẫn hơi khó, với dân thường. Khó hiểu. Khó thực hiện. Ở đời.

Lời cuối cho tôi, chứ không cho bạn, là lời khích lệ: ta nên về với truyền thống. Rất Thánh Kinh. Về, để suy tư. Kiểm điểm. Trong thinh lặng. Nguyện cầu. Chỉ mình ta, với Chúa. Chỉ để Chúa, phán với ta. Thinh lặng, để rồi sẽ hiểu ngôn ngữ thời buổi bây giờ. Dễ cảm thông. Đồng thuận.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn xin sự cảm thông. Đồng thuận.

Ở trong Đạo. Và, ngoài đời.

Rất người.

(xem thêm các bài cùng một dạng, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com )