Sunday, 13 September 2009

“Nếu một mai khi hòa bình”

Anh sẽ dìu em qua lối xưa Cho từng ngón tay đan lại”

(Trần Thiện Thanh – Lời Cho Người Yêu Nhỏ)

(Ga 16: 13/1Cr 6: 19)

Nếu phải chờ đến một mai, khi hoà bình, anh mới có “Lời Cho Người Yêu Nhỏ”. Chậm quá chăng? Nhiều bạn, nhiều người như tôi, vẫn cứ bảo rằng đã có và hiện có những Lời nói ấy cho người yêu lớn/nhỏ, vào mọi thời. Ngàn năm trước. Triệu năm sau. Lời cho người yêu lớn/nhỏ, ý hẳn là Lời Yêu Đương. Của Đức Chúa. Tình Yêu. Tình giữa Cha và Con, như các đấng bậc đang làm. Hôm nay.

Việc các-đấng-bậc-đang-làm, bần đạo nhớ có lần sang Mỹ, được nghe người anh cùng trường, dõng dạc tuyên bố: anh từng về quê, đặt tay lên đầu/trán người-dân-đi-Đạo ở Tây nguyên, làm “té/ngã” cả trăm người. Bần đạo lúc ấy, chẳng hiểu mô tê/ất giáp gì là “té” với “ngã” khi bị người anh “rờ trán”, có ấm không. Nhưng nghĩ là, mỗi khi Thần Khí đến với ai, chắc cũng có cảnh ngã/té, trong tâm hồn!

Dù gì nữa, bần đạo nay dám mời bạn, mời tôi, ta bước vào vùng Kinh Sách xem chương đoạn nào nói chuyện té/ngã, khi Thần Khí đến với ta? Trước nhất, một chương đoạn chính mạch:

“Đó là Thần Khí sự thật,

Đấng mà thế gian không thể đón nhận,

vì thế gian không thấy

và cũng chẳng biết Người.

Còn anh em biết Người,

vì Người luôn ở giữa và trong anh em.”

(Ga 14: 17)

Và,

“Khi Thần Khí sự thật đến,

Người dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn.

Người sẽ không tự mình nói điều gì,

nhưng tất cả những gì Người nghe,

Người sẽ nói lại,

và loan báo cho anh em biết

những điều sẽ xảy đến.”

(Ga 16: 13)

Nghe Lời Thật, chắc mọi tâm hồn đều sẽ sáng ra. Sáng, như thánh Phaolô từng quả quyết:

“Hay anh em lại chẳng biết rằng

thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?

Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em

là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em.

Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa.”

(1Cr 16: 19)

Xem thế thì, chuyện “té/ ngã” chẳng có gì là quan trọng. Vì một khi, thân xác đã được sáng, thì mình lại càng phải làm cho sáng hơn sự thật ấy, với mọi người. Như đấng bậc nọ ở Sydney từng đề cập trong Lễ Ngũ Tuần năm 2009, với lời hỏi/đáp rất như sau:

“Tôi có vài bạn được ơn thần hứng, dấy tràn ơn Chúa Thánh Thần. Các vị này được nói “tiếng lạ”, lại tham gia các buổi chữa lành, nhiều tật bệnh. Xin hỏi: tôi cần phải làm gì thêm, để có được tương quan đậm sâu với Thánh Thần Chúa, mà chẳng cần yếu tố “thần hứng”/”nói tiếng lạ”, đặc biệt như thế?

Không như người nghệ sĩ, thường chỉ hát:

“Dù mưa qua, vùng giá rét

trời xanh trong, lòng đôi ta

mình yêu nhau, như khi vừa mới biết, nghe em!” (Trần Thiện Thanh – bđd),

đấng bậc mình, cũng đã trả lời ngắn và gọn, như sau:

“Khi Chúa Thánh Thần chứng tỏ sự hiện diện và sức mạnh quyền uy của Ngài bằng nhiều phương cách phi thường, bắt đầu bằng Lễ Hiện Xuống và còn tiếp tục cho đến hôm nay, thì mọi tín hữu chúng ta đều có thể và phải có tương quan mật thiết với Ngôi Ba Thiên Chúa.

Hãy để tôi thêm đôi lời giải thích, theo cách nào khác, rằng ta làm được việc này, nhờ dựa trên các vai trò khác nhau của Chúa Thánh Thần, được nhắc đến trong Kinh Thánh.

Vào Buổi Tạ Từ, Chúa nói: Thánh Thần Chúa sẽ “ở với anh em mọi ngày, và mãi mãi”, và: “Ngài luôn ở giữa, và ở trong anh em.” (Ga 14: 17). Đồng thời, thánh Phaolô cũng viết cho giáo đoàn Côrinthô, trong đó nói: “thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần ngự giữa anh em” (1Cr 6: 19)

Việc này mở ra một triển vọng về đời sống tâm linh cho chúng ta. Ta có được phẩm cách làm đền thờ Chúa Thánh Thần đến ngự vào lòng mình. Vì thế, ta có khả năng tiếp cận, chuyện vãn với Thánh Thần Chúa, không phải “ngoài kia”, mà “ở đây”. Bây giờ. Ngài là “Vị Khách ngọt ngào thân mật cho tâm hồn”.

Nhận thức về phẩm cách này thôi thúc ta chiến đấu hăng say, chống phạm lỗi, chí ít là những lỗi phạm đối với thân xác, của chính ta. Chính trong bối cảnh ngôn ngữ ấy, mà thánh Phaolô minh định thêm rằng ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Và thánh nhân kết luận: “Anh em không còn thuộc về mình nữa. Nhưng đã được mua chuộc, bằng giá cả hẳn hòi. Vậy, hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân mình anh em.” (1 Cr 6: 19-20)

Hơn nữa, vào Buổi Tạ Từ, Đức Giêsu nói về Chúa Thánh Thần rằng Ngài là “Thần Khí Sự thật”, Đấng dẫn đưa ta tới sự thật hoàn toàn (Ga 16: 13). Điều này áp dụng vào đời sống người Kitô hữu, rất nhiều.

Những ai từng học hỏi bằng nhiều cách, dù cách trần tục hoặc tâm linh, đều có thể kêu cầu Chúa Thánh Thần dẫn đưa mình về với sự thật. Cho bất cứ bộ môn nào mình học hỏi. Hoặc nghiên cứu.

Cũng thế, nếu ai thấy khó nắm bắt sự thật về bất cứ vấn đề riêng tư, đặc biệt nào đều có thể kêu cầu Chúa Thánh Thần soi sáng, chỉ dẫn. Và vị nào đang hướng dẫn/dỗ dạy một ai, cũng có thể xin Chúa Thánh thần dẫn dắt mình và những người mình dạy dỗ, đi vào sự thật, cần có.

Thánh Phaolô cũng viết cho giáo đoàn Rôma nói rằng: Chúa Thánh Thần luôn dẫn nhập nơi ta tính sâu sắc của phận làm con Thiên Chúa. Sâu sắc, không chỉ về tính cách của thọ tạo mà thôi, nhưng đặc biệt ở nơi con cái Chúa, Đấng là Cha của mình:

“Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: "Áp-ba! Cha ơi!" Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa.”(Rm 8: 14-16).

Cả vào khi ta gặp rắc rối, hoặc té/ngã, hiểu theo cách nào đó, Thiên Chúa vẫn không ở xa. Ta vẫn có thể cầu Chúa Thánh Thần giúp ta kêu thành tiếng “Abba! Cha ơi!” , và nhớ rằng Thiên Chúa không ở đâu đó, tránh xa ta. Ngài là Cha luôn thương yêu ta nên đã gửi Con Một Ngài xuống chết cho ta. Tất cả chúng ta đích thực là con Ngài.

Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô cũng viết:

“Hơn nữa, có Thần Khí giúp cho ta là những kẻ yếu hèn, vì ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho ta, bằng tiếng rên khôn tả. Và Thiên Chúa thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh, theo đúng ý Thiên Chúa.” (Rm 8: 26-27)

Có thể, nhiều lúc ta thấy khó lòng mà nguyện cầu, vì không biết phải ăn làm sao nói làm sao; hoặc, khô khan nguội lạnh. Chính đó là lúc ta đến với Thánh Thần xin Ngài can thiệp cầu bàu cho ta, để rồi Thiên Chúa là Cha biết rõ những gì đang xảy đến trong tâm can.

Bao giờ cũng thế, Thánh Thần Chúa là Tình Yêu giữa Cha và Con, và “Nhờ có thế, ta sẽ không thất vọng. Bởi, Thiên Chúa đã đổ tình yêu tràn đầy của Người cho ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5: 5), chúng ta được kêu gọi trở nên thánh thiện , tràn đầy tình thương, nhưng nhiều lúc ta vẫn chỉ muốn làm mỗi bổn phận, như: đi lễ đều đặn ngày của Chúa, thôi. Vậy, cũng nên xin Chúa Thánh Thần như ta vẫn thường cầu, bằng lời kinh: “Cầu xin Chúa Thánh Thần, Người luôn thăm viếng hồn con, thêm sức cho con tình yêu chan chứa..” như thế, để cuộc sống tâm linh của ta sẽ phản ánh mối tình ta có đối với Chúa. Với đồng loại.

Cuối cùng, tựa như Chúa Thánh Thần đã ngự đến với các thánh tông đồ vào ngày Lễ Ngũ Tuần và nhờ Ngài đã biến đổi ta trở thành các nhà truyền giảng hăng say, thiện chí cho Chúa Phục Sinh. Nhờ Ngài, ta có thể nguyện cầu Chúa Thánh Thần đổ đầy nơi ta, lòng hăng say sốt mến, quyết đưa dẫn mọi người về với Đức Kitô. Và như thế, ta có thể yêu cầu Ngài ban cho ta được đặc ân “nói tiếng lạ”, không phải bằng thứ ngôn ngữ ít ai hiểu biết, mà bằng phương cách nào khả dĩ đến với tâm hồn và thần linh của bạn bè. Chúng ta.”

(Lm John Flader, The Catholic Weekly, 31/5/2009, tr.10)

Đọc đến đây, hẳn bạn và tôi, ta cũng đã an tâm mãn nguyện phần nào về ngôn từ mà các người anh người chị hiện vẫn sử dụng, như “té/ngã”, “nói tiếng lạ”. Rất cảm thông. Cảm và thông, như nghệ sĩ ở trên, lại hát thêm một lần nữa:

“Nếu một mai khi hoà bình,

anh có trở về như em khát khao

cho lệ mắt em thôi đong đầy..” (Trần Thiện Thanh – bđd)

Lệ mắt ấy, là những giọt đong đầy, nhiều u uất. Lệ mắt nay, sẽ là:

“Đêm hoả châu sáng nhớ thương trên tuyến đầu,

Nơi cuối trời em thắp vì sao…” (Trần Thiện Thanh – bđd)

Đã đành là, tuyến đầu nơi ấy, có hoả châu. Cuối trời nay, đầy tràn những vì sao. Sao yêu thương. Sao nguyện cầu. Cho em thắp. Để anh yêu. Yêu và thắp lên những vì sao an vui như tình của Cha-Con. Rất Thánh Thần. Tình ấy, nay dẫy đầy, nơi mọi người. Cả người ở ngoài nhà Đạo, của chúng ta. Tình hiện rõ, như lời khẳng định bên dưới, để minh họa:

“Nếu không có Tình Yêu,

bổn phận khiến người ta dễ nóng giận.

Nếu không có Tình Yêu,

Trách nhiệm đẩy còn người đến chỗ bất nhã.

Nếu không có Tình Yêu,

Sự thật biến con người thành kẻ ưa soi mói.

Nếu không có Tình Yêu,

Sự khôn ngoan dẫn bạn tới chỗ láu cá.

Nếu không có Tình Yêu,

đon đả biến con người thành giả trá.

Nếu không có Tình Yêu,

Sự am hiểu đẩy bạn thành kẻ cố chấp.

Nếu không có Tình Yêu,

Quyền lực khiến ta trở thành kẻ áp bức.

Nếu không có Tình Yêu,

tiếng tăm làm ta trở thành người cao ngạo.

Nếu không có Tình Yêu,

Của cải làm bạn nên tham lam.

Nếu không có Tình Yêu,

Lòng tin biến ta thành kẻ cuồng tín.

Nếu không có Tình Yêu,

trên đời này bạn và tôi, mình cũng chẳng là gì cả!!!

Nói cho đúng, nếu thay cụm từ “Tình Yêu”, bằng “Thánh Thần Chúa”, thì bạn và tôi, tất cả chúng mình sẽ hiểu thế nào là ơn “té/ngã”. Nói tiếng lạ. Trong đời. Với người người.

Trần Ngọc Mười Hai

thôi không còn thắc mắc

những “té/ngã” và “nói tiếng lạ”

Vì đã hiểu.

Và cảm thông.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com )

Sunday, 6 September 2009

“ôi phù du”

từng tuổi xuân đã già

một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua.”

(Trịnh Công Sơn – Phôi Pha)

(Mc 6: 31)

Phù du. Xuân đã già. Đời người. Gió đã qua. Ôi chao, là lời lẽ. Ấy đấy, là nhận định. Nhận và định, của nhiều bạn bè/người thân: về cuộc đời. Về, lập trường sống của nhà “phù thuỷ âm nhạc” họ Trịnh. Cũng chua cay, thâm trần. Phù du, u uẩn. Phù du, như đời người. Uẩn khuất, như ca từ ở nhạc bản, có nhận định về đời người, như sau:

“Thôi về đi,

đường trần đâu có gì.” (Trịnh Công Sơn - bđd)

Thôi về đi, hiểu là: “về Thiền môn, chốn Niết Bàn” như cảm nhận của người trẻ nọ khi chia sẻ tâm tình về giòng chảy ở buổi “Hát cho nhau nghe” tại Sydney hôm ấy, ngày đông lạnh tháng 6/2009:

“Theo ý của riêng em, nhạc sĩ viết bài này, từng suy tư khá nhiều, về cuộc đời. Nghệ sĩ này từng thắc mắc nhiều về chốn Thiền, nên mới dùng cụm từ “Thôi về đi”, ở nhạc bản “Phôi Pha”. “Thôi về đi”, theo em, là hãy về với chốn Thiền, tức: chốn sắc sắc không không, của nhà Phật. Về, để thấy rằng đời mình chẳng là gì cả. Mà nuối tiếc. Về với chốn Thiền, để suy tư. Nhập định. Sẽ vui hơn.”

Thôi về đi, hiểu theo ý Đạo, là tình tự của nhà ĐẠO. Tình tự, mang nặng tâm tư sâu lắng. Miên trường. Diệu hạnh. Còn có nghĩa: “về đi thôi”, hoặc: “hãy đi đi”. Đi, mà về chốn vắng, quạnh hiu. Để, nghỉ ngơi. Có nguyện cầu. Đi đi, hoặc “thôi về đi”, là về với cội nguồn Đấng Hằng Sống. Là, trọng tâm mọi phúc hạnh. Ở đó, có ủi an. Chan hoà. Vực dậy. Như Chúa vẫn bảo:

“Anh em hãy đi

đi về nơi hiu quạnh,

mà nghỉ ngơi một chút.”

(Mc 6: 31)

Về nơi hiu quạnh, hoặc với Thiền, là về với bình an. Nhẹ nhàng. Hạnh phúc. Ở đấy, không có bôn ba. La cà. Nhiều kinh động. Đi đi, mà về nơi hiu quạnh. Chốn thiên đường. Sắc sắc không không, chốn hạnh ngộ, vẫn dành để cho các con dân của Chúa, những kẻ biết chấp nhận phiền muộn. Đớn đau. Âu sầu. Thày xác quyết:

“Phúc cho kẻ có tinh thần khó nghèo,

vì Nước Trời là của họ.”

(Mt 5: 3)

Thôi về đi, là về với Nước Trời nghèo khó. Ở đời này. Và, đời sau. Muôn thuở. Về, là đến ở với “Nước Trời”, Chúa hứa ban. Với cội nguồn hạnh phúc rất thâm trầm, êm êm. Mà có lẽ, nhiều người vẫn chưa “ngộ”. Chưa đạt tới. Dù đã biết. “Thôi về đi” là đi riêng, ra về chốn ấm êm, lặng lẽ mà nghỉ ngơi. Mà nguyện cầu.

Lời Chúa, thoạt nghe, tưởng rất dễ. Nhưng, có trải qua đôi lần trong đời, mới thấy là: thực hiện chuyện đó, thật cũng khó. Khó, vì người người vẫn bận tâm quá nhiều chuyện. Những chuyện tưởng như rất cần. Cho mình. Hoặc, cho người. Nhưng thật ra, vẫn là chuyện viển vông. Tầm phào. Vô bổ.

Thực hiện điều Chúa dạy, là việc chung, của mọi người. Cùng đi chung. Cùng làm chung. Chung cùng, mà đi. Mà về. Chứ nào mấy ai “ngộ” được rằng: thực hiện điều Chúa dạy, lại là “đi riêng ra”. Từng người một. Để nguyện cầu, và nghỉ ngơi. Sống ở đời, người người đâu chịu nghỉ, và chịu ngơi. Vẫn cứ trầm mình ở chốn phồn vinh. Bon chen. Nhiều tranh đấu. Ở đó, có tiếng cười rộn rã. Nhưng không an bình. Để ngơi nghỉ. Và, nguyện cầu. Nơi đó, không thể là chốn Thiền môn, sắc sắc không không, mà “đi về”, hoặc: “về đi”.

Vì chưa đạt chốn Thiền môn, để “Thôi về đi” hoặc “hãy đi đi”, nên người nghệ sĩ vẫn hát:

“Không còn ai,

đường về ôi quá dài

những đêm xa người.” (Trịnh Công Sơn – bđd)

À thì ra. Đường về, hôm nay ôi quá dài. Dài, như những đêm xa người. Những đêm, không còn ai. Không còn tìn người. Vì, người đời nay vẫn bon chen. Đố kỵ. Đầy vị kỷ. Giống như, cô em nhỏ ở truyện kể, bên dưới:

“Truyện rằng,

Buổi quạnh hiu đêm hôm ấy, bọn tôi được mời đến nhà một người bạn mới vừa quen, nhưng chưa thân cho lắm. Chưa thân, nên vẫn ngần ngại. Ngượng ngập. Vì, gia đình mời bọn tôi đến, đang trong tình trạng khá lấn cấn, khi người con gái trong nhà tuổi chỉ 13, nhưng đã nổi chướng. Trước mặt bá quan thiên hạ, cô vẫn tỉnh bơ. Bất cần đời. Chừng như, cô không thích món “nộm rau muống” mẹ chế biến, có pha trộn nhiều mắm tôm. Mặt mày cô đỏ bừng, đầy hung tính. Nhất quyết bày tỏ một phản đối. Rồi bỏ ăn. Món nộm bỗng dưng trở thành đầu giây mối nhợ, cho xung khắc. Khó khăn. Nghịch ngạo.

Mẹ hiền hôm ấy, thấy xấu hổ với thực khách, bèn cố thuyết phục con gái nhỏ bằng quan điểm/lập trường rút từ lời khuyên của Đức Chúa: hãy chia sớt cho nhau mà ăn, đừng phí phạm. Bà nói nhỏ:

-Con à, con vứt bỏ như thế, thật phí của “giời”, mai ngày chết đi, hết về trời nghe đó con. Con biết đấy, thế giới này còn rất nhiều người vẫn thèm được ăn chỉ cọng rau con bỏ phí.

Nghe thế, cô con gái chẳng nói chẳng rằng, chạy vào nhà trong, lấy phong bì thật lớn với cây bút đậm nét, chìa ngay cho mẹ, rồi nói:

-Đây, bà muốn tôi gửi món rau thúi này cho đứa chết đói nào, thì cứ viết địa chỉ vào phong bì, tôi sẽ gửi ngay cho.

Chứng kiến cảnh tượng này, thực khách bọn tôi bèn vỡ lẽ: sống ở đời này mà có lòng hiệp thông thương nhớ người nghèo đói, thật không dễ. Nói gì đến hiệp thông chốn Thiền môn “sắc sắc không không”, mà đi về.

Hiệp thông “thôi về đi”, là chấp nhận có tương quan với mọi người. Ở Nước Trời. Chốn thiền môn thiết thực, mà nguyện cầu. Hiệp thông “thôi về đi”, là hiệp thông cùng các thánh. Nơi khung trời cửa ngỏ. Rất vắng vẻ. Quạnh hiu. Rất “sắc sắc không không”.

Và, một khi đã nhập “thiền môn”, “về với dĩ vãng”, không hẳn là đi vào với đất trời đầy quên lãng, của riêng ai. Nhưng, là: hiệp lòng làm thành Hội thánh. Ở mọi nơi. Cả trên trời. Lẫn nơi âm phủ. Chốn luyện hình. Hiệp thông “thôi đi về đi”, là có tương quan giữa người sống với kẻ chết. Bây giờ. Và, mãi mãi.

Có bạn đạo nọ, thắc mắc nhiều về hiệp thông” thôi về đi”, đã gợi nhớ một câu hỏi về cuộc đời. Về cả nỗi chết, có tẩm liệm. Có chôn cất, lẫn hoả táng. Với lời hỏi han một lời lẽ, như sau:

“Tôi xin hỏi đôi điều về lập trường của Giáo hội trong việc hoả thiêu người quá cố. Theo tôi, việc này Hội thánh đã nghiêm cấm. Nhưng tại sao, dạo gần đây, vẫn thấy nhiều vị chức sắc trong Giáo hội, khi sống vẫn rất đàng hoàng, nhưng lúc chết lại bị đưa vào lò, chịu hoả táng. Tại sao thế? Làm vậy, mai rày ta còn được hiệp thông với các thánh trên trời, nữa hay không?

Cứ sự thường, bàn chuyện hiệp thông các thánh, và giải đáp thắc mắc về thần học/Thánh kinh, người Sydney thường gửi câu hỏi về đấng bậc vị vọng của báo tuần ở nơi đây. Và, đức thày John Flader lại được vời đến, để giải quyết. Chuyện ở trên:

“Xin bắt đầu bằng đôi giòng lịch sử giáo hội có liên quan đến người quá vãng.

Về với Thánh kinh Cựu Uớc, rõ ràng: người Do Thái xưa có thói quen chôn cất người quá cố (xem Khởi nguyên 49: 28-32). Chôn người chết, là thói quen thông thường của người xưa, trong đó: là người Ai Cập với tục ướp xác, người Phênixia, Các-ta-gi-a, Babylôn, Trung Hoa, vv. với nhiều tập tục khác.

Người Hy Lạp/La Mã thường chôn người thân của mình, đã quá vãng. Đôi khi, họ còn bỏ thức ăn vào trong mộ phần, nữa. Vì họ tin, là: sau khi qua đời, người quá cố vẫn tiếp tục sống như khi còn ở đời tạm.

Nhiều người tin, là: thân nhân dù quá vãng, vẫn hiện diện bằng tinh thần hoặc tính thiêng liêng, cả sau khi chết. Nên, thực hiện việc hoả táng là để mau đến với người quá cố, ngay tại phần đất thiêng. Ở bên đó.

Tín hữu Công giáo tiên khởi, có thói quen chôn người quá cố, như tập tục của tiền nhân Do Thái. Chính vì thế, đôi lúc họ liều mạng quyết dành lấy thi hài các thánh tử đạo, đem về chôn cất theo tập tục người Công giáo.

Tín hữu Công giáo tin rằng thân xác mình là đền thờ Chúa Thánh Thần. Và, tin sự sống lại, ngày sau hết. Nên, mới tỏ bày kính trọng thân xác, người quá cố. Trong khi đó, hoả táng được coi là tập tục của người ngoại. Như thế, chối bỏ tín lý phục sinh. Đến thế kỷ thứ 5, Đạo Chúa được thiết lập cách vững chãi, tục hoả táng mới chấm dứt. Dứt điểm, cùng với Đế quốc La Mã, lúc bấy giờ.

Cuối thế kỷ 19, người theo bè Tam Điểm, chuyên nghịch chống niềm tin của người Đạo Chúa. Họ thành công trong việc biến tập tục hoả táng thi hài người quá cố thành việc rất hợp-pháp. Luật này được một số chính quyền Châu Ây áp dụng, như Ý, từ 1873. Và, những người này cũng thành công trong việc thiết lập các tổ chức/nhóm hội dành cho mục đích này, toàn Châu Âu.

Do bởi hành vi chống Đạo giáo của các nhóm này, Toà Thánh (ngày nay là Thánh Bộ Đức Tin) đã đưa ra quyết định năm 1866: nghiêm cấm con dân Đạo Chúa tham gia tục hoả táng xác người do nhóm nói trên thực hiện làm trước. Toà thánh cấm không cho người Đạo Chúa được phép thiêu xác thân nhân mình, hoặc thân xác của bất cứ một ai.

Việc nghiêm cấm vẫn hiệu lực mãi đến năm 1963, lúc ấy mới có văn thư Thánh Bộ cho phép thực hiện hoả táng, trong một vài hoàn cảnh đặc biệt. Miễn là, lý do chọn hoả táng không đi ngược niềm tin của người đi Đạo. Tuy nhiên, Giáo hội vẫn chọn tập tục chôn cất, và khuyên con cái mình nghiêng theo tục này.

Năm 1969, nghi-thức lễ-tang Đạo Chúa tái xét việc hoả táng và đã ra thông cáo cho phép như sau:“Giáo hội cho phép thực hiện tang-lễ cho những ai chọn hoả táng, ngoại trừ trường hợp có bằng chứng cho thấy chọn như thế là do động cơ nghịch phản Đạo Chúa. Tang lễ phải cử hành theo cung cách sao đó, cho thấy Hội thánh vẫn muốn con dân mình chọn lựa chôn cất người chết. Ngõ hầu ngăn ngừa nguy cơ gây tai tiếng, làm cớ vấp phạm cho người đi Đạo.”(x. #15, sđd)

Luật Hội thánh năm 1983, phản ảnh chủ trương này, bằng một điều khoản trong đó có nói: “Hội thánh nghiêm túc đề nghị ta chôn cất người chết sao cho sốt sắng/nghiêm trang. Nhưng, nói thế không có nghĩa là Hội thánh ngăn cấm hoả táng. Hội thánh chỉ cấm, khi nhà hiếu chọn hoả táng là để phản chống lại giáo huấn của Hội thánh về việc này, thôi.” (Giáo luật #1176,*3)

Sách “Nghi lễ An táng người đi Đạo” sử dụng từ năm 1989, có đưa lý lẽ cho thấy tại sao ta chọn lựa chôn cất người quá cố, như sau: “Khi thanh tẩy, thân xác của tín hữu được đánh dấu bằng ấn chỉ của Chúa Ba Ngôi. Và như thế, thân mình của ta đã trở thành đền thờ của Chúa Thánh Thần rồi. Vì thế nên, tín hữu Đức Kitô vẫn tôn trọng và cung kính thân xác người quá cố. Chính vì lẽ này, ta chôn cất thi hài của các ngài để các ngài an giấc ngàn thu.” (#19)

Xem thế, hoả táng người chết đã trở thành công việc thường làm. Một trong các lý do nhiều gia đình chọn hoả táng hơn chôn cất, vì chi phí nhẹ. Lại tiện lợi. Và, trong một số trường hợp khác, người thân của mình chết ở vùng sâu, vùng xa. Nơi có sẵn nghĩa trang. Hoặc, chết ở vùng hiếm hoi đất để chôn, những nơi hiểm trở, vv.

Cả vào trường hợp hoả táng, hài cốt người quá cố phải được lưu giữ nơi lăng tẩm, hoặc vòm mộ đặc biệt; hoặc cất giữ cẩn thận trong khu lưu giữ xương cốt người quá cố, gọi là tháp giữ cốt. Ngày nay, nhiều nghĩa trang cũng có khu cất giữ như thế.

Nhiều nơi, còn có tục rải cốt người quá cố ngoài khơi, trên sông nước, hoặc dưới lòng đất. Có nơi, còn cất giữ trên bàn thờ tiên tổ của người thân, hoặc của bầu bạn rất gần. Tục này, tuy thế, cũng không được khuyến khích, nhiều cho lắm. (x. The Catholic Weekly 26/7/2009 tr. 10)

Đó là ý kiến rất chính mạch, của nhà Đạo. Về những người đã “về đi”. Về với chốn thiền môn/vĩnh hằng, bằng xương bằng thịt. Về đi, để “một ngày kia đến bến bờ”. Dù bờ ấy, có là biển khơi. Là, lòng đất hay hũ đựng xương cốt, ở bàn thờ tiên tổ. Hoặc, “về nơi cuối trời”. “Làm mây trôi”. Với “những ai xa đời quay về lại”. “bàn chân rất nhẹ”, “tựa hồn những năm xưa.”

Tóm lại, làm gì thì cũng vẫn là về đi. Và đi về. Về, nơi hiu quạnh. Đi riêng, chốn quạnh hiu. Mà, nghỉ ngơi. Nguyện cầu. Có Chúa. Ở chốn ấy, nơi đây, nay còn những giòng chảy nhè nhẹ. Thanh thanh. Để minh hoạ, như:

“Hai vợ chồng dắt nhau đi gặp bác sĩ, để xét nghiệm. Nhiều thứ chuyện. Sau khi nghe-đo nhịp mạch và hơi thở, của đức ông chồng, bác sĩ mời người vợ ngồi lại để nói chuyện riêng, nghiêng về cố vấn. Hầu giúp chồng. Bác sĩ bảo:

-Chồng chị đang bị một chứng nan y, rất khó chữa. Lại thêm nhiều căng thẳng, khó tránh được màn kết cục, thật u uất. Sầu hận. Đơn giản, thì thế này: nếu bà không nghe lời tôi đề nghị, mà thực hiện nhiều điều lành phúc đức, mà tôi liệt kê ngay nơi đây, thì tôi e rằng ông nhà sẽ “về một cõi, rất nhanh”. Cõi ấy, người đời gọi là chốn Niết Bàn, những sắc sắc không không, đấy!”.

-Nếu tôi thoả thuận lời đề nghị, thì bác sĩ khuyên tôi phải làm những gì để cứu ỗng?

-Dễ lắm. Mỗi sáng, bà chỉ việc lo dọn bữa sáng cho tươm tất, một chút. Cứ để ông ấy từ từ, nhẩn nha mà thưởng thức những món tuyệt vời, bà làm. Trong lúc ông ăn, bà cứ ở gần xem ông cần gì thêm. Tuyệt đối, đừng hối thúc ông ăn cho nhanh, hoặc cằn nhằn ông về các tật xấu, vào lúc ăn. Nghĩa là, để cho vui cửa vui nhà, ấy mà! Trưa đến, dọn cho ỗng một bữa thật nhiều chất đạm, bổ dưỡng. Tối về, cứ nhẹ nhàng mời chàng vào bàn gồm yến tiệc, thật đặc biệt. Trong ngày, đừng bắt ông làm lao động gì hết. Dù chỉ vài việc lặt vặt trong nhà. Bởi lâu nay, ông vẫn bị căng thẳng, quá sức chịu đựng. Nhất là, đừng kể cho ông nghe những chuyện bực bội bà gặp với ai đó, dù là chuyện bồ bịch. Mèo chuột. Bởi tất cả, đều là chuyện đã qua. Làm thế, chỉ tạo thêm căng thẳng, ức chế. Nếu bà làm việc này, từ nay đến khoảng chừng 10 tháng nữa, tôi cam đoan là ông nhà sẽ hết bệnh, và hoàn toàn hồi phục. Không có gì phải lo âu.

Trên đường về, lão ông cứ thắc mắc, không biết bà nhà nói gì với bác sĩ mà lâu thế. Ông lấy hết sức bình sinh, liều hỏi:

-Lúc nãy bác sĩ nói gì với em, mà sao lâu thế?

-Có gì đâu. Ỗng nói là: Anh sắp hát bài của Trịnh Công Sơn: trong đó có câu “Thôi về đi! Đường trần đâu có gì”, tức là: anh sắp về cõi tiên, có Phật có Chúa. Đầy đủ! Khiếp! ai mà hầu cha nội, được. Sống thế, đủ rồi.

Quả là, Chúa bảo “Hãy đi đi, về chốn quạnh hiu mà ngơi nghỉ”. Phật có nhờ người nghệ sĩ nhắn hát “thôi về đi! đường trần đâu có gì” thì cũng ít ai chịu bỏ rời chốn bụi trần, nhiều vương vấn. Để, “đi đi”. Hay, “về đi”, mà nghỉ ngơi, nguyện cầu. Có chăng, cũng chỉ đi trong chốc lát. Về, trong giai đoạn, thôi.

Lời cuối hôm nay, xin gửi đến bạn và đến tôi, là lời nhắc nhở hôm nào, từ Đức Chúa:

“Hỡi những ai đang vất vả

lao đao, vác nặng,

hãy đến cùng Tôi,

Tôi sẽ cho nghỉ ngơi, bồi dưỡng.

Hãy mang lấy ách của tôi,

và hãy học nơi Tôi,

vì Tôi hiền hậu

và khiêm nhu.

Tâm hồn anh em

sẽ được nghỉ ngơi

bồi dưỡng.”

(Mt 11: 28-29)

Nghỉ ngơi. Bồi dưỡng. Cùng Chúa. Trong Chúa. Là, tất cả những gì bạn và tôi, ta cần đến. Ở đây. Bây giờ.

Trần ngọc Mười Hai,

suy nghĩ rất lung

ngày bậc cha/bác đi về

chốn nghỉ ngơi.

Có Chúa.

Có tiên tổ.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com )