Saturday, 13 June 2009

Thấy hối tiếc nhiều, thuyền đã sang bờ

Đường về không lối, Giòng đời trôi đã về chiều

Mà lòng mến còn nhiều, đập gương xưa tìm bóng..”

(Đoàn Chuẩn – Từ Linh – Gửi gió cho mây ngàn bay)

(1Cr 6: 18/ Ep 5: 3)

Nhưng thôi tiếc mà chi! Phải chăng, đây là tâm trạng của những nuối, và rất tiếc? Nuối tiếc, của các tay lờ mờ, quờ quạng như bần đạo? Tiếc làm chi, là có tiếc cho lắm cũng chẳng làm được gì. Được bao nhiêu. Nhưng, vẫn cứ tiếc. Tiếc rất nhiều. Tiếc một thời. Không chừng, là thời vàng son, của kiếp người. Tiếc, không chỉ vì thời gian, quá ngắn ngủi, để mà sống. Tiếc, là tiếc cả về không gian, chưa kịp sống. Tiếc, vì chẳng sống được nhiều. Sống lai rai. Dài dài. Thoải mái. Không gian xưa nay ta nuối tiếc, chừng như vẫn im ắng. Nay vắng lặng. Mất niềm vui. Thiếu tình người. Thiếu vắng cả nụ cười chân chất. Rất khôn nguôi.

Tiếc, là như câu chuyện rất ngắn ngủi , của người dân thường ở huyện, như bên dưới:

“Có cô gái còn rất trẻ. Nội làn da thôi, nhìn thấy nõn nà. Trắng trẻo. Như lâu ngày, chưa bắt nắng. Đứng giữa thành phố đông người, cô cứ vẫy vẫy như muốn gọi một đôi người. Có chiếc “honda ôm” từ đâu đến, vội trờ tới đưa ngay một câu hỏi:

-Honda ôm không cô, hay chỉ muốn du ngoạn một vòng xích lô đạp, cho bõ nhớ?

-Khoan để tôi ngắm thành phố, cho nó đã! Chà! Mới mười năm thôi, đổi thay dữ. Bởi thế nên, đây rất nhớ!

Tưởng gặp Việt kiều thứ bở, với nỗi nhớ quê hương đầy nuối tiếc, tài xế xe ôm vội hỏi:

-Vậy xin hỏi, cô như ở nước nào, vừa mới về?

-Có bao giờ xuất ngoại đâu, mà tiếc với nhớ. Mới tù ra có vài giờ, thôi đó cha…”

Ở tù ra. Nước ngoài về. Hay, chẳng đi đâu, nhưng vẫn nhớ. Và tiếc, như ca từ người nghệ sĩ:

“Nhưng thôi tiếc mà chi” Chim rồi bay, anh rồi đi Đường trần, quên lối cũ Người đời, xa cách mãi

Tình trần khôn hàn gắn, thương lòng.” (Đoàn Chuẩn Từ Linh – bđd)

Tình trần khôn hàn gắn, bởi vì người đời cứ mải khơi gợi vết thương lòng. Khơi và gợi, bằng ngăn cách. Thắc mắc. Đố kỵ. Những đố và kỵ, cả với các điều lâu này trở thành qui tắc rất chính chuyên. Cổ điển. Những luật thành văn. Không chữ viết.

Thắc mắc, ở thể hỏi rất lan man, gửi đến với đấng bậc, vào nhiều lúc, như sau:

“Theo dõi truyền thông với báo/đài, dạo gần đây tôi thấy nhiều người cứ bàn ra tán vào rất nhiều điều liên quan đến các thắc mắc cũng như mong muốn được giới lãnh đạo trong giáo quyền, cởi mở hơn. Cấp tiến hơn. Chí ít, là về địa hạt nào có liên quan đến đời sống tính dục của dân gian/người thường, như: đạo đức chức năng, tính dục với dục tình, ngừa chống thụ thai, đồng tính luyến ái, vv. và vv.. Nay, xin linh mục cho biết, với tư cách lãnh đạo một tôn giáo ở thế mạnh, Đức Giáo Hoàng mình có quyền chuyển đổi lập trường và giáo huấn của Hội thánh, hay là điều đó đã mang tính bất biến, mãi ngàn sau? Đây không có ý nói đến các chú giải thần học hoặc/và phương cách trình bày các giáo huấn ấy theo kiểu mới như để tạo luồng sáng mới trên những gì được cắt nghĩa tại sao các việc như thế lại mang tính báng bổ, huỷ hoại, mà chỉ muốn hỏi xem có trường hợp nào đó khả dĩ đảo ngược các giáo huấn Hội thánh đã ban hành?

Phải công nhận, điều mà bàn dân hôm nay thắc mắc, được rào trước đón sau rất kỹ lưỡng, muốn trực chỉ quyền uy của Giáo hoàng, mà thôi. Hỏi ai không hỏi, cứ hỏi đấng bậc vị vọng rất “trong nguồn”, thì đương nhiên lời đáp có thể đoán trước, rất chính qui. Bởi, còn ai chính qui bằng đấng bậc vị vọng vốn xuất thân trường phái Opus Dei, rất Harvard như linh mục thuộc giống giòng hào kiệt, rất Flader. Thôi thì, mời bạn và cũng mời tôi, ta nghe thử lời đáp từ đấng bậc Lm John Flader, sau đây:

“Theo thiển ý, những điều bạn đưa ra trong mục hỏi/đáp hôm nay, xuất từ nguồn lực rất mạnh nhiều tính truyền thông hơn là bên trong Hội thánh Chúa. Ít nhất, về khiá cạnh giáo huấn Hội thánh trong địa hạt đạo đức, tính dục. Phần đông người Công giáo chúng ta đều biết rõ giáo huấn nền tảng về đạo đức tính dục không thể thay đổi một sớm một chiều được, là bởi dựa trên nền tảng của luật tự nhiên. Trên phẩm cách/giá trị của con người, cũng như mục đích của các hành vi dục tính. Hãy nhìn vào một số trích dẫn từ Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, đủ để làm sáng tỏ, cho vấn đề.

Về ngừa/chống thụ thai, ai cũng rõ: mục đích của hành vi dục tính, Chúa tặng ban, là để lan truyền sự sống ngang qua hành động đầytính thương yêu. Và khi đã sử dụng biện pháp ngừa chống thụ thai, thì mục tiêu này đã tự héo mòn và biến mất. Hết trật tự. Cố Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục, thông điệp “Sự Sống Con Người” (Humanae Vitae) nói rất rõ:

“Mỗi hành vị, dù là thực hiện động tác yêu đương trước ngày cưới, hoặc với mục tiêu đạt thành tựu, hoặc để khai phá hệ quả tự nhiên, có đề xuất, dù dùng nó như mục đích hay chỉ là phương tiện, ngõ hầu biến cho việc ‘đồng công kiến tạo loài người’, tự nó đã là ác thần/sự dữ.” (Thông điều Humanae Vitae 14; Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo #2370)

Và nếu, điều gì được coi như, tự bản chất, mang tính sự dữ/ác thần, mãn đời nó sẽ luôn là ác thần/sự dữ. Chính vì thế, việc cầm đoán không được phép ngừa chống thụ thai, là điều không đổi thay.

Người người thừa biết, ngừa chống thụ thai, là hành vi chấm dứt sự sống của thai nhi, và làm như thế tức vi phạm quyền căn bản làm người tức được quyền sống như mọi người. Sự sống này khởi sự vào lúc thụ thai. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo từng nói rõ:

“Ngay từ thế kỷ đầu, Hội thánh từng khẳng định tính phi đạo đức, rất ác thần đối với bất cứ hành vi chống phá thụ thai. Giáo huấn này, chưa từng đổi thay; và sẽ không bao giờ thay đổi.” GLHTCG #2271)

Về hành động dục tính trước ngày cưới, rõ ràng là: hành động này có nghĩa là: chỉ được phép sử dụng trong hôn nhân mà thôi. Bởi, hôn nhân là nhiệm tích diễn tả tình yêu thương đích thực, có quyết tâm. Và, hành động yêu đương ấy đưa đến kết quả tạo nên con cái, để chúng lớn lên trong bối cảnh tự nhiên, của gia đình. Chính vì lý do này, mà Hội thánh, cùng với thánh Phaolô tông đồ (trong thư 1Cr 6:18; Êp 5: 3), vẫn luôn lên án mọi hành động dục tính ngoài hôn nhân. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo còn nói rõ:

“Thông dâm là hành động giao phối đầy tính xác thịt giữa người nam và người nữ không cưới hỏi. Việc này hoàn toàn đi ngược lại nền đạo lý và phẩm cách con người, đối nghịch lại tính dục tự nhiên đầy ý nghĩa tốt đẹp của phàm nhân, tức việc làm hoàn toàn hợp theo trật tự thiên nhiên đưọc tạo dựng vì lợi ích của hai người phối ngẫu dẫn đến việc sản sinh và giáo dục con cái.” (GLHTCG #2353).

Năm 1998, nơi phần bình phẩm về bức Tông thư Ad tuendam fidem của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, vào thời đó, Đức Hồng y Ratzinger, Bộ Trưởng thánh Bộ Truyền Giáo, đã lồng vào trong đó lời lên án rất nặng của Hội thánh đối với hành động thông dâm. Trong số các tín điều được Hội thánh giáo huấn, thì các giáo lý này mang tính dứt khoát, không đổi thay.

Nhằm tuân thủ những gì được ghi trong Kinh Sách, cả Cựu Uớc lẫn Tân Ước (x. Kn 19: 1-20; 1Cr 6: 13; Êp 5: 3), Hội thánh luôn coi các hành vi dục tính giữa người đồng tính là vô luân, rất nặng. Trở về với ngôn từ của sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, ta vẫn có những lời rất chắc nịch, như sau:

“ Dựa vào nền tảng của Kinh thánh, là Sách luôn coi hành vị tính dục giữa người đồng tính luyến ái như hành động đồi bại, truyền thống Hội thánh lâu nay vẫn tuyên tín rằng: ‘hành động ăn nằm thể xác của người đồng phái tính, tự bản chất, là hành động đồi bại, truỵ lạc.”

Hành động như thế, hoàn toàn phản nghịch luật tự nhiên. Ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng thế, hành động này không thể chấp thuận được.”(GLHTCG #2357)

Xem như thế, người Công Giáo chúng ta đều nắm chắc điều này: từ nay cho đến mai hậu, sẽ chẳng có Đức Giáo Hoàng nào, lại sẽ thay đổi các giáo huấn của Hội thánh. Chí ít, là những điều vừa nói, ở trên.” (Xem John Flader, Question Time, Connor Court Publishing 2008, tr. 36-38)

Trích dẫn những điều mà người nghệ sĩ khi xưa vẫn hát:

“Gửi gió cho mây ngàn bay

gửi bướm đa tình về hoa

gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư

về đây với thu trần gian.” (Đoàn Chuẩn-Từ Linh – bđd)

Không phải để gửi gió với mây mưa, qua thừ từ nhiều lá, có ánh trăng, có bướm hoa đa tình, ngày thu ở trần gian, với nhân trần. Trích và dẫn những điều như thế, chỉ để nhắc lại điều mà Phaolô thánh nhân, xưa đã nói:

“Anh em hãy tránh xa tội gian dâm.

Mọi tội người ta phạm đều ở ngoài thân xác mình,

còn kẻ gian dâm

thì phạm đến chính thân xác mình.”

(1Cr 6: 18)

hoặc:

“Chuyện gian dâm,

mọi thứ ô uế hay tham lam,

thì dù nói đến,

anh em cũng phải tránh,

như thế mới xứng đáng

là những người trong dân thánh.”

(Êp 5: 3)

Những nói và hát nhiều về “Gửi gió cho mây ngàn bay”, hoặc nói đến “gửi thêm ánh trăng, mầu xanh lá thư…” mà chỉ nói đến những cấm và đoán, thì cũng thiếu xót nhiều, tính tích cực. Bởi thế nên, cũng là điều hay ho, tích cực nếu người người mời bạn và mời tôi, ta đọc câu truyện kể đầy hồn nhiên thơ ấu, ở bên dưới, chắc sẽ vui hơn. Truyện kể rằng:

“Bé Thiên An chỉ muốn được một lần giáp mặt cùng Đức Chúa, vẫn thấy lâu. Bé hiểu rằng, từ nay đến ngày gặp Chúa chắc cũng phải mất một quãng đường dài, suốt cuộc đời. Thế nên, trên đường tan học về, bé quyết định ghé công viên.

Hôm nay, trong cặp của bé, có cả bánh qui, vài hộp nước ngọt. Ở đây, bé gặp ngay cụ già, ngồi nhàn tản trên ghế đá công viên, ở gần bên. Cụ đang làm công việc rất nhan hạ, là: thảy bắp rang cho đàn chim ngói, chưa biết nói. Bé An dự định mở cặp sách ra ăn, chưa kịp uống, đa nghĩ đến cụ già, chắc cụ ta bụng đói lả hơn mình nhiều? Bé bèn đến gần cầm mẩu bánh qui nhỏ đem tặng cụ. Cụ già đưa tay nhận bánh, bằng một cử chỉ chầm chậm, đầy biết ơn. Cụ mỉm nụ cười nhẹ, tặng cho bé. Nụ cười của cụ, sao nhè nhẹ, rất thân thương êm đẹp làm bé chỉ muốn nhận lại, thêm lần nữa. Bé đánh liều lấy chai nước ngọt đem ra biếu cụ, hầu giải khát. Một lần nữa, cụ già chào đón bé bằng nụ cười mỉm trông nhè nhẹ, cảm ơn bé. Bé An thích quá, cứ muốn cảnh trí tuyệt đẹp cứ tái diễn, kéo dài. Khiến cả hai, một già một trẻ ngang nhau, ngồi suốt. Cứ thế trao nhau, những nụ cười hồn nhiên,khó kiếm. Đôi bên chỉ cười nụ, chẳng nói đến một câu.

Trời tối dần, bé Thiên An chợt nhận ra là trời tối chắc mẹ ngóng chờ dữ lắm , bèn sửa soạn cất bước ra về. Truớc khi đi, bé quay lại nhìn cụ già, rồi chạy đến ôm chầm lấy cụ, tặng nụ hôn. Nhè nhẹ. Êm ái. Rất thân thương. Cụ già liền hồi đáp, tặng lại bé một nụ cười khả ái, chưa từng thấy.

Vừa về nhà, mẹ hiền của Thiên An đã nhận ra dấu hiệu lạ, trên đôi má núm đồng tiền của con thân yêu, bèn gạn hỏi:

-Hôm nay ra trường con gặp chuyện lạ hay sao, mà vui thế?

-Mẹ à, hôm nay con được ăn trưa với Chúa… Mẹ biết không? Xưa nay, con chưa thấy một ai lại có nụ cười vừa đẹp, vừa hồn nhiên, như cụ ông đó.

Cùng lúc ấy, cụ ông cao niên cũng tung tăng niềm hưng phấn, đã trở về gặp người cháu nội đứng ở cửa, kịp nghe hỏi:

-Hôm nay, nội gặp chuyện gì mà vui thế?

-Chuyện này vui lắm! Nội vừa được Chúa Hài Đồng tặng cho nội mấy mẩu bánh, ở công viên…. Con biết không? Chúa Hài Đồng mà nội gặp, cũng nhỏ nhắn xinh xinh, tựa như con. Chưa bao giờ, nội lại thấy bình an, sung sướng thế….”

Truyện kể hôm nay, xem ra rất nhẹ. Đầy cổ tích. Truyện kể trên, sẽ mất đi nhiều ý nghĩa, nếu không kèm lời bàn của chuyên gia trong ngành kể, như sau: Lắm lúc, ta thường đánh giá thấp sức mạnh của một gặp gỡ, rất thanh tao. Nhè nhẹ. Thoát tục. Ở nơi đó, có những nụ cười hồn nhiên, của trẻ bé. Hay chỉ là, một dáng điệu thân thương, mềm mại. Ưu ái. Lại có khi, chỉ một lời nói suông. Hoặc, đôi tai bé bỏng, đang nghe ngóng. Cũng có thể, là: lời cung chúc. Hỏi han. Vấn ý. Hoặc giả, chỉ là: đôi tay mượt mà, đầy săn sóc. Cũng đã biến đổi được cả bầu trời. Đầy sóng gió.

Trời sóng gió, ấy chính là: cuộc đời ngắn ngủi. Rất nhiêu khê. Hệ luỵ. Đời rất ngắn, mà sao con người vẫn cứ ganh đua, rồi đố kỵ. Những mải đua ganh và giành giựt, nên người người mới để luột mất đi, nụ cười hiền. Nhè nhẹ. Dễ thương. Trẻ bé. Chúa hài đồng. Mà, cụ ông cao niên nay nhận lãnh. Rất bất chợt.

Nghĩ cho cùng, đời người có quá nhiều dịp Chúa Hài Đồng lướt vượt đi nhanh vào lòng người, để mỉm cười. Nhưng người người, xem ra vẫn chưa sẵn sàng để nhận lãnh. Vẫn mải cạnh tranh. Đua ganh. Bận rộn. Đố kỵ. Nên, “thấy hối tiếc nhiều”. Rồi, “đường đời không lối”. Và, “tình trường thôi hàn gắn, thương lòng…”

Cứ để sang một bên, mọi hệ luỵ của đời người, tự khắc sẽ như bé Thiên An, và cụ già cao niên ở trên, bất chợt gặp được Đức Chúa của bình an. Mỉm cười. Trong trắng.

Trần Ngọc Mười Hai

Rất nhiều lần,

những muốn đời hồn nhiên,

của bé em.

Saturday, 6 June 2009

“Về đây, nhìn mây nước bơ vơ “

Về đây, nhìn cây lá xác xơ

(Châu Kỳ - Trở về)

(Mt 6: 5)

Chủ nhật hôm ấy, ngày dài một đại lễ Hiển Linh bên Đạo, lại là Giáng Sinh bên đời, bần đạo có cơ hội được trở về quê nhà của Chúa, ở Bét-lê-hem. Về, để được nhìn mây nước bơ vơ. Để thoáng thấy cây lá xác xơ. Bơ phờ. Tiều tụy. Nơi thôn miền lành thánh, đất Bê-lem. Nơi đây, hôm ấy, cộng đoàn cùng Đạo khác phái, đã trở về cùng vui chung ngày Chúa Giáng Trần, rất lễ hội. Ở nguyện đường sát cạnh, hợp hoan mừng Chúa hiển hiện với con dân. Thân thiết. Kết đoàn.

May cho bần Đạo, bước chân về quê nhà của Chúa, không phải nghe đến lời buồn, khi xưa:

“Nơi xưa, ôi giờ đây nát tan,

đò vắng không người sang,

thôn xóm trông điêu tàn.

Xa xa, nghe tiếng chim gọi đàn

Nghe suối reo bên ngàn

Dường như oán, như than.” (Châu Kỳ - bđd)

Làm sao có thể như oán với như than được, bởi khi đặt chân đến đây người người đều đã thấy tinh thần đại kết giữa giáo phái, đã về lại. Về lại, qua nghi thức phụng thờ, ngày lễ lớn. Về lại, vào ngày 7 tháng Giêng, khi cả Giáo hội bạn lẫn Hội thánh ta mừng Chúa, thể hiện cuộc sống phàm trần, với toàn dân. Về lại, để cùng với Giáo hội, ta mừng Chúa hiển vinh với dân ngoại, ở trời Đông.

Ở trời Đông hay phương Tây, nay người người vẫn thể hiện một thế đứng, khi nguyện cầu. Mà mừng lễ. Chẳng thế mà, hầu hết các nghi tiết phụng thờ, ở nơi đó, người người thường hay chọn thế đứng nguyện cầu, rất xứng hợp. Tư thế này, thánh Mát-thêu mô tả như cách thức nguyện cầu hiên ngang, người của Chúa:

“Họ thích đứng mà nguyện cầu

trong hội đường.”

(Mt 6: 5)

Thật ra, nguyện cầu theo thế đứng hay quỳ, không là vấn đề cần bàn cãi. Bàn hay không, đó vẫn là tư thế chọn lựa, của riêng mình. Nhưng, với cộng đoàn hiện diện trong tiệc thánh, tư thế cùng đứng và cùng cầu, mới thành chuyện. Thành chuyện, là thắc mắc của một số bạn Đạo ở trời Tây, vẫn hay hỏi. Hỏi rồi, thắc mắc và vấn nạn như đọc được ở đâu đó:

“Vừa rồi tham dự thánh lễ ở họ đạo khác nhau, tôi thấy có nhiều nơi đứng ngồi không đồng bộ, gây chia trí. Như, vào lúc bắt đầu lễ, khi sửa soạn của lễ để dâng lên, và khi chiêm niệm nguyện cầu, sau hiệp lễ. Xin ngài cho biết để còn dạy dỗ đám trẻ, khi nào ta buộc phải đứng mà cầu nguyện? Và tại sao lại làm thế?”

Thắc mắc và giải đáp vấn nạn, cho mọi người, vẫn là thói quen của đấng bậc nhà Đạo, ở Sydney. Hỏi/đáp, cả vào khi không có người hỏi; hoặc cũng chẳng cần có người giải. Nghĩa là, mỗi khi đấng bậc thấy cần nhắc nhở bà con Đạo mình phải để ý, mỗi khi đến nhà thờ, cùng dâng tiến của lễ hiệp thông.

Nói cách khác, giải và đáp vẫn là “nghề của chàng”, chàng trai không trẻ ở giáo phận lớn, cỡ Sydney:

“Ngay từ đầu, khi vào lễ, cộng đoàn dân Chúa cùng đứng dậy để chào đón chủ toạ đoàn, vào dâng lễ. Cử chỉ này, là để tỏ lòng cung kính chào đón Đức Kitô, hiện thân nơi linh mục hoặc Giám mục đang bước vào, chủ trì buổi Tiệc Thánh.

Ngoài đời cũng thế, dân chúng cùng đứng dậy chào đón, mỗi khi có nhân vật vị vọng bước vào phòng, dù chỉ để cùng dự tiệc, bắt đầu nghi thức gì đó, hoặc cùng khởi sự một nghi tiết. Thấy nhân vật lỗi lạc xuất hiện ở ngưỡng cửa, mà ngồi ỳ, thì há nào muốn bày tỏ sự bất kính coi thường nhân vật ấy!

Ở một số nhà thờ, còn có thói quen rung chuông khi vị chủ tế bắt đầu rời phòng thánh, là để báo cho cử toạ biết rằng đoàn tuỳ tùng đã bắt đầu tiến bước, để mọi người còn đứng dậy cung nghinh đón chào, Đức Chúa của mình.

Làm như thể, dân con đón mừng Đức Giêsu tiến vào đền thánh Giêrusalem, ngày lễ Lá. Đứng, là tư thế thích hợp hơn cả để khởi đầu phần Phụng vụ, là Thánh Lễ.

Trong tư thế đón chào đoàn tuỳ tùng bước vào khởi sự thánh lễ, cộng đoàn ta cứ đứng như thế, cho đến hết phần nghi thức xưng thú mọi lỗi lầm. Đây là lúc, dân con nhà Đạo, lọc sàng lương tâm đạo đức hầu sẵn sàng mà khởi hành thánh lễ. Tới kinh Vinh Danh, lời kinh xưa để tôn vinh Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh thần. Và cuối cùng, cũng đứng yên như thế cho đến hết kinh Nhập lễ hoặc kinh tiền lễ, là một trong ba kinh được gọi là “Kinh dành cho vị Chủ tế”, tức linh mục hoặc vị Giám mục chủ trì đọc thay cho toàn thể mọi người, đến tham dự.

Cộng đoàn sẽ lại đứng để hát bài kinh “Allêluya” hoặc “kinh Suy tôn Tin Mừng”; đồng thời cứ đứng như thế mãi trong thời gian đọc Tin Mừng. Ở đây nữa, đứng ở đây, là tư thế diễn tả cả hai việc: thứ nhất, là: tôn kính Đức Giêsu, Đấng đang dùng Lời Chúa để khuyên dạy con dân của Ngài; và: đứng như thế chứng tỏ dân con Chúa đã sẵn sàng để nghe và thực hiện những điều Chúa dạy bảo.

Sau bài chú giải sẻ san, cộng đoàn dự Tiệc thánh cũng lại đứng lên để lập lại lời tuyên xưng niềm tin, hoặc đọc kinh Tin Kính, là kinh được đặt từ thế kỷ thứ Tư. Khi đứng để nghe Chúa nói chuyện với con dân của Ngài, qua Phúc Âm, nay cộng đoàn lại đứng để ứng đáp lời “tuyên tín” đáp trả những gì mình mình nghe biết.

Cộng đoàn vẫn cứ đứng khi đọc lời Nguyện Giáo dân, qua đó cộng đoàn ứng đáp qua niềm tin về những gì mình nghe biết trong các bài đọc bằng lời kêu cầu Chúa hãy đoái nhậm lời thỉnh cầu của mình để cầu cho Giáo hội và thế giới.

Sau khi đã ngồi để sửa soạn của lễ dâng lên bàn thờ, cộng đoàn niềm tin đứng dậy khi vị chủ tế kết thúc lời cầu :Anh chị em hãy cầu nguyện để lễ vật của tôi và của anh chị em được Chúa là Cha Toàn Năng đoái nhận”, nghe xong lời ấy, cộng đoàn sẽ đứng để đáp ứng bằng lời khẩn cầu: Xin Chúa nhận Lễ vật bởi tay cha…” Bằng tư thế đứng thẳng, cộng đoàn xác định mình ưng thuận trong phụng thờ.

Đến đây, có vài vài khúc mắc hỗn độn không biết khi nào thì cộng đoàn nên đứng. Thế nhưng, theo sách Những Chỉ dẫn Thông Thường trong Thánh Lễ theo nghi thức La Mã (số 43) có nói đến những điều vừa kể, ở bên trên. Tức là, cộng đoàn tiếp tục đứng khi chủ tế dâng của lễ, khi vị này đọc lời nguyện thứ hai, tức là: một lần nữa chủ tế cầu nguyện thay cho cho cộng đoàn đạo đạt lên Chúa Cha. Chính vì thế, cộng đoàn nên cùng đứng với chủ tế, trong tư thế chuyển đạt lời cầu lên Cha.

Ở kinh Tiền Tụng và lời xưng tụng Thánh Thánh Thánh, là kinh tung hô Chúa theo dáng dấp của của cộng đoàn truyền thống khi xưa, tức vẫn đứng. Ở đây nữa, sách Những Chỉ Dẫn Thông Thường trong Thánh Lễ theo nghi thức La mã, còn nói: cộng đoàn có thể đứng khi dâng lời cầu Thánh Thể, trừ phi cộng đoàn được Hội Đồng Giám Mục quyết định nên ở tư thế nào cho thích hợp, đối với tập tục của xứ sở mình.

Theo ấn bản 2007 nơi sách Những Chỉ Dẫn Thông Thường trong thánh Lễ theo nghi tiết La Mã, các Giám mục Úc có lời khuyên giáo dân ở đất nước mình: “hãy nên quỳ gối từ lúc đọc xong lời tung hô Thánh Thánh Thánh! cho đến lúc thưa Amen thật lớn, và sau đó sẽ đứng vào lúc chủ tế bắt đầu mời cộng đoàn xướng hát kinh Lạy Cha, cho đến khi kết thúc kinh Lạy Chiên Thiên Chúa, thì tất cả cùng quỳ lần nữa cho đến khi rước Chúa vào lòng.” (sđd, số 43)

Sau Hiệp klễ, cộng đoàn lại đứng dậy để đọc lời nguyện cầu lần thứ ba, tức Kinh Hiệp Lễ, lúc ấy vị chủ tế lại kêu cầu cùng Cha, ngang qua Đức Giêsu, Con Chúa, Chúa chúng ta.

Và như thế, cộng đoàn cũng sẽ đứng cho đến khi nhận phép lành và lời cầu chúc ra đi rao truyền Lời Chúa, vào cuối lễ. Vào lúc này, cộng đoàn sẽ trong tư thế sẵn sàng ra đi, mà phục vụ rao giảng Lời Chúa. Và rồi, mọi người sẽ ra về để tháp tùng Đức Giêsu, thể hiện ngang qua vị chủ tế, để rồi sẽ ra đi khắp thế gian mà đại diện Chúa, đến với mọi người.”(Lm John Flader, The Catholic Weekly 26-4-2009, tr. 10)

Chỉ dẫn vẫn là thế. Chỉ và dẫn, về tư thế đứng ngồi nơi thánh lễ. Đứng/ngồi buổi tế tự, vẫn là cử chỉ cần rập ràng, cho xứng hợp. Nhưng, đứng/ngồi ở đời thường, là thói quen nay đã đổi ở vài nơi. Thói quen hay thói tật, của một số người. Ở một số nơi. Đây, vẫn là đề tài của chuyện cười ra nước mắt. Cười không dứt. Chuyện rất buồn mà cứ cười. Buồn cười. Buồn là thế đó. Cười là ấy vậy. Như dưới đây, là chuyện rất buồn, mà vẫn cười. Cười, là bởi người người vẫn cứ hát:

“Về đây, buồn trông cánh chim bay

về đây, buồn nghe gió heo may

về đây, đâu còn phút sum vầy

đâu còn thắm niềm say

lạnh lùng ngắm trời mây.” (Châu Kỳ - bđd)

Lạnh lùng ngắm trời mây, cả vào khi tham dự thánh lễ. Lúc chia sẻ. Lạnh lùng ngồi đứng ngoài trời. Trên Honda hai bánh. Với thuốc lá phì phà, trên môi. Lạnh lùng, khi thiên hạ mang rổ mời ta sẻ san niềm thương đau người nghèo, mà bố thí. Lạnh lùng, khi bạn Đạo quay sang chúc bình an, rất chân phương. Thương tình. Mình vẫn lạnh. Lạnh lùng, là tư thế của người vẫn sống “một ngày như mọi ngày”, ở dương gian chốn thế trần. Nhiều hệ luỵ. Những hệ rất luỵ phiền, như truyện kể sau đây:

“Nhóm trẻ nọ, vẫn muốn tìm hiểu xem, lý do từ đâu, mà dạo này ít người chịu đi lễ, thế. Chí ít, là có đi nhưng cứ đứng ngồi chẳng đồng bộ/rập khuôn, đúng lễ nghi quân cách. Nhóm này, bèn tìm đến đấng bậc đạo mạo nọ, thuộc bậc thày, ở nhà trường. Sau lúc hàn huyên, trong nhóm trẻ ấy, có người bèn thổ lộ: làm gì cũng được, nhưng nếu làm mà chẳng vui thích, sẽ bị căng thẳng, trầm mặc, dễ ưu tư. Bậc thày thấy vậy, bèn mời nhóm trẻ quá bộ bước vào phòng ăn để thưởng thức tách cà-phê, do ông chế. Từ bếp bưng ra, những là ly tách và nước nóng để pha chế. Thày mời nhóm học trò cũ, cứ tự tiện chọn ly tách, mà thưởng thức.

Khi mọi người đâu đấy ổn định ly tách trên tay, thày ôn tồn bảo:

-Để ý một chút, bạn sẽ thấy người nào cũng chọn ly tách gọn/đẹp, bỏ tách ly nào xấu xí. Nặng nề. Rẻ tiền. Thường thì, ai cũng muốn điều hay, món lạ. Cứ thích những gì tốt nhất, cho riêng mình. Đó, là cội nguồn của mọi vấn đề. Của những căng thẳng. Ưu tư. Trầm mặc. Tuy nhiên, điều bạn vẫn muốn, chỉ là cà-phê ngon, chứ đâu phải ly hoặc tách? Ấy vậy, tại sao ai cũng chọn tách ly đẹp nhất? Rồi còn đảo mắt nhìn quanh xem ly của người khác, có đẹp bằng mình không. Cho nên, nếu ta coi cuộc sống ngoài đời, hay trong Đạo, như ly cà phê ngon, hẳn mọi thứ khác như tiền bạc, công việc, chức vụ.. chỉ là những ly cùng tách, thôi. Tất cả, chỉ là dụng cụ hay công cụ hào nhoáng bên ngoài, để chứa đựng sự sống, ta trân trọng. Nhưng phẩm chất cuộc sống, nào đổi thay? Thành thử, đôi lúc ta thấy người người tập trung vào ly tách, tức những gì bề ngoài, không quan trọng. Tất cả sẽ thất bại. Không thưởng thức được chất lượng ngon/đẹp, ở bên trong. “

Truyện kể ở trên, có kèm lời bàn của người kể, rằng: mọi việc, nếu chỉ để ý đến động tác thứ yếu/bên ngoài thôi, ta sẽ thất bại. Thất bại, gọi là: căng thẳng. Chán ngán. Lặng câm.

Áp dụng chuyện đứng ngồi, ở nhà thờ. Tưởng, cũng nên mời bạn, mời tôi, ta thử suy xem đâu là điều chính yếu, trong phụng thờ. Khi đã tìm được rồi, người người sẽ hân hoan thực hiện. Thực hiện trong phấn khởi. Vui mừng. Đồng loạt. Thực hiện rất lớp lang. Trật tự.

Trần Ngọc Mười Hai

Từng đứng ngồi nhiều giờ

nào đã nản.

Chỉ mỗi nản, chỉ là khi

để luột mất tương quan.

Với mình và với bạn, thôi.