Wednesday, 31 July 2019

“Đàn chim tung cánh xa khuất mờ"


Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 18 thường niên năm C 04/8/2019

“Đàn chim tung cánh xa khuất mờ"
Chiều thu lưu luyến màu thương nhớ.”
(Lâm Tuyền – Hình Ảnh Một Buổi chiều)

(Thư Rôma 1: 20-23)

Hình ảnh này, lâu nay vẫn chỉ là những hình và những ảnh còn lại trong lý ức của tôi, của bạn và của mọi người như “Màu thương nhớ”, rất nhớ thương. Nhớ và thương, như vẫn thương và nhớ lời đấng thánh hiền từng bảo ban lan man vào độ trước:

“Quả vậy,
những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa,
tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người,
thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ,
trí khôn con người có thể nhìn thấy được
qua những công trình của Người.
Do đó, họ không thể tự bào chữa được,
vì tuy biết Thiên Chúa,
họ đã không tôn vinh hay cảm tạ Người cho phải đạo.
Trái lại, đầu óc họ suy luận viển vông
và tâm trí ngu si của họ hoá ra mê muội.
Họ khoe mình khôn ngoan,
nhưng đã trở nên điên rồ.
Thay vì Thiên Chúa vinh quang bất tử,
họ đã thờ hình tượng người phàm là loài phải chết,
hay hình tượng các loài chim chóc, thú vật, rắn rết.”
(Rôma 1: 20-23)

Nhớ và thương, lại là tình-tự còn vấn vương như câu ca còn sót lại, những hát rằng:

“Nhớ mái đầu ai nhuộm nắng vàng.
Buồn biết bao giờ cho hết nguôi.
Lòng ta ai oán man mác sầu.
Nhìn xa xôi nhớ thầm mong ước.
Như sóng trùng dương theo cánh buồm.
Là lúc quên đời không tiếc thương.
Bao năm qua ta sống giang hồ xa quê nhà.
Nơi xa xôi muôn ý phiêu lưu dâng cho đời.
Dù bao nhiêu cay đắng.
Đến làm nát lòng ta.
Tan nát rồi không đoái hoài.
Dù bao nhiêu sóng gió.
Quyết đem chí tung hoành.
Sống quên hết bao hận bên lòng.
Hồn ta luôn vương vấn.
Bóng người khuất ngàn mây
Ai biết lòng ta những khi chiều tàn.
Nhìn ta say đắm man mác sầu.
Lòng ta tha thiết tình thương nhớ.
E ấp ngàn câu trong mắt buồn.
Người biết ta sầu muôn ý nao.
Miền xa mây núi xanh ngát màu.
Hồn bơ vơ lúc hoàng hôn xuống.
Khi nắng vàng phai trên núi đồi.
Là lúc ta buồn bao kiếp nguôi.”
(Lâm Tuyền – bđd)

Nhớ mái đầu ai nhuộm nắng vàng” lại cũng là ảnh hình của người ấy, vào độ nọ, vẫn còn ghi-tạc trong ký-ức rộn-ràng những thương và nhớ. Nhớ và thương, còn là và sẽ là hình ảnh của người mang nặng nét “buồn bao kiếp nguôi”, mà thôi.

Thế đó, là ký ức của bạn, của tôi hoặc của ai đó, vẫn cứ rải rác ở đâu đó, chốn miên trường. Ký ức đầy mến thương, như lời độc-giả nọ ở nhà Đạo từng gửi đến ‘đấng bậc’ trên tờ Tuần báo Công giáo Sydney là báo chí có mục hỏi/đáp thân thương hôm nào. Hỏi và đáp, cũng khá chuẩn như “nỗi buồn man mác” của người hỏi được ghi lại ở bên dưới.

Nhưng trước khi để mắt xem đấng bậc nhà mình ghi gì chép làm sao khi có đấng bậc dám đổi lời kinh Chúa dạy. Vận nên, nay mời bạn/mời tôi, ta nghe câu truyện kể nói lên sự khác biệt giữa lời nói và sự thể cũng rất thật ở ngoài đời, rằng:
           
“Truyện, là câu truyện từng kể rằng:
“John Carter là diễn-viên đi bộ trên dây thép giỏi nhất thế giới. Có lần, anh tham gia cuộc thi biểu diễn đi trên dây thép giữa 2 ngọn núi đá cheo leo. Người thi, phải đi từ bên ngọn núi này sang ngọn núi kia mà không có bất kỳ phương-tiện bảo-hiểm nào hết Nhìn xuống khe núi, ai cũng bất chợt giật mình, và hãi sợ. Đây, quả là thử thách nguy hiểm nhất từ trước đến nay!

Đứng trên vách đá cheo leo ở đỉnh núi bên này, John Carter phải đi sang bên đỉnh núi bên kia rồi trở về nơi chốn cũ. Anh chăm chú nhìn về phía trước, hai tay giang thật rộng, nín thở từng bước một. Khi anh hoàn thành bài thi, mọi người vỗ tay reo hò, thán phục.
Anh nói:
-Tôi sẽ biểu diễn lần nữa nhưng lần này buộc 2 tay vào người. Mọi người có tin là tôi có thể đi qua và về an toàn không?
Ai cũng biết đi dây thép trên không dựa vào sự thăng bằng từ 2 tay là chính, nay nếu trói, sao đi đươc? Nhưng ai cũng tò mò muốn biết kết quả nên đồng thanh hô:
-Chúng tôi tin anh, vì anh là người giỏi nhất

Sau khi trói 2 tay, John Carter lại đi về phía trước từng bước chậm rãi, sang quả núi bên kia rồi đi về an toàn trong sự thán phục tất cả mọi người. Anh lại đề nghị:
-Lần này tôi sẽ vừa buộc tay vừa bịt mắt. Mọi người có tin là tôi làm được việc ấy
 không?
Mọi người đồng thanh hô to:
-Chúng tôi tin vì anh là người giỏi nhất
Anh lại lấy 1 miếng vải đen buộc kín hai mắt, 2 tay trói chặt, từ từ bước lên sợi dây trong sự hồi hộp của mọi người. Tất cả nín thở và dõi theo từng động-tác của anh. Có người còn toát mồ hôi ướt cả áo vì lo cho anh. Không làm mọi người thất vong, anh lại biểu diễn xuất sắc một lần nữa.
Vẫn chưa chịu dừng lại ở đó, anh tiếp-tục hỏi:
-Giả như tay tôi bị trói chặt, mắt tôi bịt kín và đây là con tôi. Tôi sẽ để nó lên vai, rồi hai cha con tôi cùng đi trên dây thép. Mọi người có tin là tôi làm được thế không?
Mọi người lại trả lời:
- Chúng tôi tin anh là người giỏi nhất
- Mọi người có tin thật không?
-Tin!
-Mọi người có thật sự tin là tôi đi được không?
-Chúng tôi tin 100%
Lúc này, anh lại chậm rãi nói:
-Quí vị đều thật lòng tin tôi. Vậy bây giờ, tôi sẽ đặt con tôi xuống và lấy con của các bạn thay vào đó, có ai tự nguyện làm việc này không?
Tiếng nói của John Carter làm quả núi im phăng phắc, không ai dám nói là mình tin như thế nữa…” (Truyện kể có thể trích và dịch từ nhiều nguồn gốc).

Và, người kể lại có lời bàn về bài học ở đời như sau:

“Các bạn ạ! Giữa lời nói và sự thật có một khoảng cách, có nhiều sự việc qua đó mọi người thấy khoảng cách ấy thật xa, thậm chí còn trái ngược sự thật. Muốn biết lời nói có phù hợp với sự thật hay không, thì chỉ một cách duy nhất ta có thể nhận ra được, đó là: THỬ THÁCH. Nhà khoa học yêu nướcMỹ Benjamin Franklin có một câu nói rất chí lý khi ông bảo: "Nếu bạn muốn biết giá trị của đồng tiền như thế nào, hãy cứ thử đi vay mượn một ít đi, hẳn rồi sẽ tỏ". (Truyện kể lại cũng rút từ mạng vi-tính do bạn bè người thân rất gần gửi đến).

Và, nay là chuyện hỏi/đáp ở nhà Đạo Sydney, vẫn có giòng chảy xuyên suốt những ý-kiến sau đây:

“Thưa Cha,
Là bậc mẹ cha trong gia đình, chúng tôi thấy quan ngại về động-thái xảy ra ở một số trường/lớp của ta, cả trường Công giáo cũng như công-lập trên toàn nước Úc. Và, con em chúng ta nay tỏ ra không mấy chắc-chắn về ‘giới tính’ của chúng có thật như thế mãi không? Và, Đức Giáo Hoàng đã nói gì về vấn đề này? Xin cho chúng tôi vài giòng để có lập-trường vững-chắc khi bạn bè bàn cãi bọn tôi còn biết đường mà xử-trí. Cảm ơn cha rất nhiều.”

Có cảm ơn cha nhiều hay ít, thì đấng bậc đạo mình vẫn không màng đưa ra lời minh-xác rất chính-chuyên, tức: vẫn lấy giấy bút ra viết cho tỏ tường, kẻo thiên-hạ coi thường Đạo. Trắng đen tỏ tường bàn ở đây, đại để như sau:

“Đức Phanxicô có nói và viết về vấn đề này, rất nhiều lần. Nay, cũng là dịp thuận tiện để ta nắm rõ những gì ngài từng phát-biểu.

Nói cách khác, tháng Hai năm nay 2019 vừa rồi, Thánh Bộ Giáo Dục của Tòa Thánh có đưa ra một tài-liệu quan trọng về vấn đề đem lại lợi-ích cho trường Công giáo cũng như các thể chế giáo dục này/khác. Tôi sẽ viết rõ hơn chuyện này vào lần tới.

Một trong nội dung bài phát biểu của Đức Phanxicô được rút từ Tông thư Amoris Laetitia (Niềm vui Yêu Thương) ban hành vào năm 2016, qua đó ngài có bàn về giới-tính con người. Thêm vào đó, Ngài “chối từ là có sự khác biệt và nhân nhượng nơi bản chất nam-nhân cũng như nữ-giới để định ra một xã hội không có khác biệt về giới tính. Thành thử, từ đó xóa bỏ nền tảng nhân-chủng-học của gia đình.

Đây là hệ tư-tưởng vốn dẫn đến chương trình giảng-dạy và ban-hành luật pháp nhằm thăng tiến tính nhân-bản cũng như sự mật-thiết tách-biệt khỏi mọi khác biệt về sinh lý nam-nữ. Vì thế nên, nhân-cách con người trở-thành một chọn-lựa mỗi cá-thể là thứ lại cũng có thể đổi thay, với thời-gian.” (Đoạn 56)

Ở đoạn khác, trong cùng bản-văn nói trên, Đức Phanxicô có viết là: “Người trẻ cần được giúp đỡ để họ chấp-nhận chính cơ-thể mình như được tạo-dựng do họ nghĩ rằng mọi người chúng ta vui hưởng uy-quyền tuyệt-đối trên các chuyển-biến tinh-tế nơi cơ-thể con người... Giáo dục tình-dục phải giúp người trẻ chấp-nhận cơ thể của mình tránh mọi kỳ vọng là sẽ biến mọi khác biệt về giới tính bởi lẽ con người không còn biết cách đối-đầu với nó”. (đoạn 285)

Trong một buổi họp kín với các giám mục Ba Lan nhân có chuyến viếng thăm nước này hồi 2016, Đức Phanxicô có nói: “Ngày nay, tại trường lớp ở nhiều nơi trên thế giới, người ta đang giảng-dạy điều này cho con trẻ, và các trẻ bé ở đây được dạy rằng: mọi người, ai cũng có quyền lựa chọn giới-tính cho riêng mình.” Đức Giáo Hoàng lại đã trách-cứ điều mà ngài gọi là “thực-dân-hoá-ý-thức-hệ” được nhiều nước có ảnh-hưởng lớn hỗ-trợ, và ngài thấy không tiện nêu tên nước ấy, nhưng thêm vào đó nhận-đinh bảo rằng: “Đây quả là chuyện quái-gở”.

Đức Phanxicô nói với các giám-mục hôm ấy rằng: ngài có bàn về vấn-đề này với Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 và Đức Bênêđích 16 bảo: “Đây là thời con người phạm tội cả với Thiên Chúa Đấng dựng nên đất trời và con người.”

Và, Đức Phanxicô đã bình-luận về câu đó, bảo rằng: “Ngài thông minh đấy! Thiên Chúa tạo nên người nam và người nữ, theo cách này, kiểu này và kiểu cách này, còn chúng ta lại cứ làm chuyện ngược ngạo với Chúa.”

Trong lần phỏng vấn kéo dài giờ với ký giả người Pháp là Domique Wolton dưới tựa đề: Chính trị và Xã-hội: Chuyện trò với Dominique Wolton, Đức Giáo Hoàng có bảo: “Quả thật đằng sau tất cả những chuyện này ta nhận ra hệ tư-tưởng về giới-tính. Trong sách vở, con trẻ lại được dạy rằng: con người có thể thay-đổi giới-tính của con người, Thế thì, có phải là chuyện giới tính, tức: trở-thành nam-nhân hay nữ-phụ, là một chọn-lựa chứ không là sự-việc của thiên-nhiên, đất trời? Đây là điều dẫn đến sai lầm là thế!”

Trong Tông-thư Laudato Si (ban hành năm 2015) ngài có đề-cập đến “hệ sinh-thái con người” là thứ “tôn-kính” nhân-cách con người như hữu-thể người” và mối tương-quan thiết-yếu giữa cuộc sống của ta với “luật luân thường đạo lý là những thứ được ghi trong bản-chất của chúng ta.” (sđd đoạn 154-155)

Trong buổi thảo-luận chuyên-đề hồi tháng Mười Một năm 2014 bàn về sự Bổ sung giữa Nam-nhân và Nữ-giới do Thánh bộ Tín-lý và Giáo-điều tổ-chức, Đức Giáo Hoàng Phanxicô có nói đến tầm quan-trọng của gia đình thiết-lập giữa một nam một nữ cốt để sinh con đẻ cháu khuếch trương lên.

“Con trẻ, chúng có quyền được lớn lên trong gia-đình có mẹ có cha là những vị có khả-năng kiến-tạo một môi-trường thích-hợp cho con trẻ sinh sôi nảy nở hầu phát-triển cả về mặt cảm-xúc. Đó là lý do tại sao trong Tông Thư cổ vũ mang tên “Ebangelii Gaudium, tôi có nhấn mạnh đến sự cần thiết đóng góp của hôn nhân đối với xã-hội, là sự đóng góp vốn ‘thăng-tiến cảm-giác cũng như nhu-cầu thoáng chốc của đôi vợ chồng.” sđd đoạn 66)

Tháng Bảy năm 2010, khi còn làm Tổng Giám mục thành Buenos Aires, khi ấy quốc hội Argentina cũng đã tranh-luận nhằm đề ra dự-luật hợp-pháp-hóa “hôn-hân đồng tính”, ngài có viết một bức thư gửi 4 Dòng nữ chuyên về Chiêm niệm ở trong nước yêu cầu các nữ tu này cầu nguyện cho dự luật này bị đánh bại.

Trong thư ấy, Đức Giáo Hoàng lại cũng nói: “Nay thì tính-chất và sự tồn tại của gia-đình gồm một cha, một mẹ và các con cái đang có nguy-cơ biến-dạng. Cũng thế, lại cũng có nguy cơ như thế xảy ra với sự sống của nhiều con trẻ bị kỳ-thị sớm khiến gia đình không còn phát-triển gồm người cha, người mẹ như ý-muốn của Thiên Chúa nữa. Nguy cơ còn thấy nơi việc phá bỏ luật của Chúa từng khắc sâu trong tâm-khảm chúng ta.

“Ta cũng đừng ngây thơ ỡm ờ nữa. Đây, đơn giản chỉ là cuộc tranh-đấu biện-luận về chính-trị mà thôi, nhưng lại những muốn phá-hủy kế-hoạch của Chúa. Đây không chỉ là dự-luật (tức: chỉ là công-cụ) nhưng là “nước cờ chuyển động” của người cha lếu láo đang tìm cách khiến cho con cái Chúa bị hoang mang và thất vọng thôi”. (X. Lm John Flader, The lie of gender ideology, The Catholic weekly 28/7/2019 tr. 19)

Cha đạo nhà có mình nói gì thì nói, chúng dân ngoài đời vẫn cứ khư-khư bảo vệ ý-tưởng sai lạc của họ một cách rất kiên trì. Cụ đạo mình, lâu nay dù có muốn “sống chết mặc bay” bỏ ngoài tai mọi ý-kiến của dân thường ở huyện quyết bảo-vệ giòng tư-tưởng mà cụ cho là chính-đáng như mọi lúc, ngang qua lý lẽ mà người kể truyện đặt tên cho là “Đắc ngộ” cũng rất ‘ngộ’ như sau:

“Nghe thiên hạ đồn rằng ở đất nước Bhutan chùa thật không phải chùa giả, sư thật không phải sư quốc doanh, tu thật không phải tu lưu manh, nên vợ mình dắt mình sang gửi tu học kết hợp cai rượu. Sau khi nghe vợ mình trình bày tiểu sử rượu bia của mình, nhà sư bèn hỏi:

-Ngươi uống rượu có thích không?
-Thưa thầy thích, rất thích.
-Ngươi uống rượu có ngon không?
-Thưa thầy ngon, rất ngon.
-Rượu chỉ mang đến cảm xúc vậy thôi sao?
-Thưa còn nữa, mỗi lần uống rượu con thấy vui tươi, hoan lạc, yêu đời, yêu người, yêu thương, độ lượng, tha thứ, hào hiệp. Có chai rượu ngon con gọi bạn bè đến, có món ăn ngon con mời bạn bè đến. Uống rượu, đọc thơ và nói những lời tử tế.
-Thôi ngươi hãy về đi, đừng đến đây gặp ta làm gì nữa.
-Thầy không nhận những thằng uống rượu làm đệ tử phải không thầy?
-Không, ta tu tập 50 năm để được sống thích thú, vui tươi, hoan lạc, yêu đời, yêu người, độ lượng, tha thứ, hào hiệp nhưng vẫn chưa đạt đến cảnh giới đó. Còn ngươi chỉ uống rượu lại đạt đến cảnh giới cao nhất của đạo.
-Nhưng thưa thầy con muốn học đạo.
-Đến với đạo có nhiều đường. Ta ăn chay, tụng kinh, niệm Phật. Ngươi uống rượu, đọc thơ, nói lời tử tế. AI THÀNH TÂM THÌ THIỆN NGỘ!

Nói xong nhà sư quay lưng đi, để lại mình bơ vơ trong sân tu viện. Vợ mình "dắt" mình về, nói từ nay sẽ cho thêm tiền mua bia.” (Tửu đồ khuyết danh)

Truyện đến đây cũng khá dài, thiết tưởng bạn và tôi, ta nên đi vào vùng trời văn chương có những nhận-định này/khác về đời người với những đoạn viết vui vui như sau:

“Một người Pháp, một người Mỹ và một người Việt chính-tông tranh-luận xem Ađam và Evà vẽ trên hình là người nước nào.
Ông người Pháp tuyên bố trước:
-Trụy lạc trước cả Thượng Đế như thế chỉ có thể là dân Pháp, thôi.
Người Mỹ lại tỏ bày:
-Tự do đến mức có thể sống phúc hạnh, chỉ cần đừng sờ đến trái táo, thế mà họ cũng không chịu nổi sự cấm đoán đó chỉ có thể là dân Mỹ… cồ!
 Trong khi đó, người Việt nọ lại góp ý:
-Quần áo chẳng có  mà mặc, nhà cửa không nơi nương náu, thậm chí ăn mỗi quả táo cũng bị cấm, thế mà vẫn bảo là mình sống trên thiên đường vạn vật, phải chăng người ấy là Đại Cồ…Việt?” (Truyện kể rất thoáng do dân mạng vi-tính chế biến, chứ không thật)

Kể lể hoặc chế biến thế nào cố để có đôi giòng kết luận gọn trong đầu mà thôi. Nay mời bạn mời tôi, ta về lại với ca-từ được nghệ sĩ trên từng cất tiếng hát rằng:

“Đàn chim tung cánh xa khuất mờ
Chiều thu lưu luyến màu thương nhớ.
Nhớ mái đầu ai nhuộm nắng vàng.
Buồn biết bao giờ cho hết nguôi.
Lòng ta ai oán man mác sầu.
Nhìn xa xôi nhớ thầm mong ước.
Như sóng trùng dương theo cánh buồm.
Là lúc quên đời không tiếc thương…”
(Lâm Tuyền – bđd)


“Sóng trùng dương theo cánh buồm, là lúc quên đời không tiếc thương”, cả những gì tốt xấu cũng như thế. Tức: không tiếc xót những điều mình ước và mong, tự thuở nào. Và ở đâu chăng nữa, cũng thế thôi.

Trần Ngọc Mười Hai
            Rồi ra, cũng chẳng tiếc chẳng thương
            Những gì không cần thiết
đến mai sau.

No comments: