“Mơ người yêu lý tưởng.
Monday, 4 February 2013
“Em thường hay ước mơ”
Chuyện
phiếm đọc trong tuần thứ Năm Thường niên Năm C 10-02-2013
“Em thường hay ước mơ”
“Mơ người yêu lý tưởng.
“Mơ người yêu lý tưởng.
Với vẻ hào hoa lắm nét kiêu
hùng,
điểm chút phong sương.”
(Y Vân – Tình
Yêu Lý Tưởng)
(Mt 23: 11)
Ước mơ của bần đạo, hồi đó, rất lý tưởng. Lý tưởng, không chỉ vì Tình
Yêu Thiên Chúa rất trừu tượng, mà còn là tình yêu hiện rõ nơi mọi người. Chí
ít, là người ít tiền, ít của, ít cả tham vọng nữa. Tham vọng, mà làm gì khi các
nhân vật mà người Hoa bên Trung Quốc vẫn cứ ước và cứ mơ chỉ là Lưu Bang, Tần
Thuỷ Hoàng, Mao Trạch đông, vv… nay đi vào chốn quên lãng, rất chê bai.
Nhớ về “Tình Yêu Lý Tưởng”
có ước và mơ, bần đạo lại nhớ về chuyến “tư du” Trung Quốc đầu niên lịch 2013
có khá nhiều điều buồn/vui lẫn lộn. Điều vui buồn đáng nhớ hôm ấy, là khi bần đạo
được hai hướng dẫn viên du lịch trẻ một tên Khương và một tên là Alison Wong
dám nói lên điều mình nhận xét về nhân vật nổi tiếng tàn bạo là Tần Thuỷ Hoàng
và cả Mao Trạch Đông, khi xưa đốt sách giết người có học. Anh Khương nói: “Về với
lịch sử Trung Quốc, theo tôi bạo chúa họ Tần là người đầu tiên từng đốt sách, hạ
bệ và diệt trừ giới trí thức. Ngàn năm sau, lại cũng có một đấng hậu duệ khác
cũng rơi vào dấu mòn vết cũ, như tội ác... Người đó là ‘Mao sếnh sáng’, tức Mao
Trạch Đông. Ông này là vị đồ tể cuối cùng của lịch sử của người Hán.”
Là ‘sếnh sáng’, đồng nghĩa với đấng chóp bu lịch sử mà
nhất cử nhất động vị ấy vẫn được người đời biết đến. Được biết đến, là biết về “tình
lý tưởng” đeo mang ý tưởng hơi khác người như một ước mơ cũng rất khác, như lời
người nghệ sĩ sau đây:
“Em thường hay ước mơ.
Mơ người yêu lý tưởng.
Với vẻ hào hoa lắm nét kiêu hùng
điểm chút phong sương.
Đây là chàng chiến binh,
Hay là chàng phi công hay là
chàng thủy thủ..”
(Y Vân- bđd)
Nhân
vật nào dù “lắm nét kiêu hùng” của bạo chúa, rồi ra cũng có ngày tan tành tâm
trí lẫn tâm tư và sẽ chìm lắng trong hôn hoàng, trời mây. Thế nhưng, nói thế đâu
có nghĩa bảo rằng vị nào vị nấy cứ tung hoành bạo tàn như hai đấng ‘chóp bu’ nọ
của Trung Quốc/nước Tàu đều quẫn bức giới có học đâu. Nơi nhà Đạo cũng thế, thủ
lãnh nhà Đạo mình chẳng bao giờ tung hoành lập thành tích bất ưng, nhưng vẫn được
nhiều người nhớ và ước mơ, được như thế. Ước mơ, một lý tưởng hoặc ước vọng tưởng
là mơ, lại được đấng bậc chuyên chăm nhà Đạo biến thành chuyện để kể, rất hôm
nay. Truyện, do đấng bậc hôm nay kể lại chính là đan viện phụ nọ ở Bỉ, cũng có
ước và có mơ về một lý tưởng; nhưng “nửa đường đứt…bóng’ rất như sau:
‘Nhất định. Nhất định rồi!
Tôi không thể trở thành đương
kim Giáo Hoàng được nữa rồi! Bởi các đấng bậc của tôi, nay lại bầu vị khác thay
vì tôi. Thế nên, nay tôi xin bộc bạch dự kiến/chương trình mà lâu nay tôi hoạch
định để mọi người còn biết mà cảm thông.
Giả như tôi được bầu làm đấng
bậc cao cả đến là thế, hẳn là đương nhiên tôi đã trở thành vị giám quản giáo phận
La Mã rất đương nhiệm, thôi! Và khi ấy, tôi sẽ yêu cầu Hồng y giáo chủ Ratzinger,
lên án các triết thuyết ngộ đạo này khác và cáo buộc bất cứ lập trường/tư tưởng
này khác của người đạo rối. Nhất thứ là những vị cứ giả tảng/làm ngơ muốn biến
vai trò của vị ‘giám quản giáo phận Roma” thành đấng chủ quản toàn cầu hoặc trở
thành vị chánh-trương/chánh-quản toàn thế giới.
Và lúc đó, có lẽ tôi cũng gỡ
bỏ mọi chất kích tác mọi ước vọng khỏi niềm mơ ước của Cộng Đồng Vatican 2 chỉ
muốn thiết lập một tập đoàn giám mục rất đoàn kết. Và rồi, vào năm đầu triều đại
giáo hoàng, tôi sẽ triệu tập một thượng-hội-đồng giám mục gồm toàn các vị chủ
quản giáo hội toàn cầu, quyết đề ra chương trình hành động khả dĩ khiến mọi
giám quản tham dự thượng hội đồng này được coi như ‘phụ mẫu chi dân’, rất trong
Đạo.
Để chuẩn bị cho một thượng-hội-đồng
giống như thế, có lẽ tôi sẽ phát tán toàn bộ thư luân-lưu đến hội đồng giám mục
các nơi trên thế giới; và nói với các đấng một câu như: “chư huynh đừng sợ!’ Tôi sẽ khuyến khích các ngài nhận lãnh
trách nhiệm mới, để rồi còn truyền bá cho toàn hội-đồng, hầu các vị mới am tường
về nhu cầu của mọi người, nam cũng như nữ đang sống đạo ở giáo phận; cả người
Công giáo cũng như người ngoại Đạo. Và khi đó, có lẽ tôi sẽ yêu cầu Hồng Y
Ratzinger hoàn tất một số tài liệu mới về nền tảng thần học cho tập-đoàn giám mục
khắp nơi. Có thể, tôi cũng sẽ kêu mời các giám mục đia phương nhận lãnh trọng
trách mục vụ của các ngài, mà chẳng sợ gì đội ngũ ‘đức ông‘ vẫn có thói quen điều
hành cơ quan/sở bộ khác nhau, ở giáo triều.
Sau đó, có lẽ tôi cũng
sẽ yêu cầu bãi bỏ các chuyến công du của chính tôi và các vị giáo chủ kế-tục tôi,
ta sẽ không còn xuất dương ra khỏi giáo phận La Mã, cho đỡ tốn. Và, tôi sẽ thiết
lập một thế hệ mới mẻ bao gồm mọi thành phần giáo-dân có khả-năng truy cập mạng
của giáo triều La Mã mình. Bằng vào tiền tiết kiệm/dành dụm, thay vì xuất dương
du ngoạn nước ngoài như thế, sẽ giúp tôi thiết lập một dự án cho phép tất cả mọi
công dân trên địa cầu này được tự do vào mạng này cách dễ dàng, trước nhất ưu
tiên cho người nghèo hoặc ít tiền.
Và, tôi sẽ chuẩn bị dư
luận để cuối cùng lại cũng cho phép nữ-giới được tấn phong làm linh mục đã chọn
kỹ từ các vị nữ-lưu khôn ngoan, khéo léo, lành thánh. Đương nhiên, tài liệu này
sẽ khởi lên như một bản văn chính thức của tông-toà trong đó ghi đôi câu như
sau: “Hội thánh La Mã lúc nào cũng tin tưởng và đặt nặng vào giáo huấn như thế.’
Còn nữa, tôi sẽ mời gọi
hết thảy các thánh bộ trong giáo triều hãy cải-hối chính mình thành cơ-quan chức-năng
thực tế, chỉ phục vụ giáo hội và các cơ sở tôn giáo địa phương thôi. Tôi sẽ cố
gắng tin tưởng các hội-dòng chiêm-nghiệm chuyên sống khắc kỷ và các tu hội này
khác vẫn cứ tồn tại sau nhiều thế kỷ gặp khủng hoảng. Đồng thời, tôi cam kết với
họ rằng: các ngài sẽ không bị khuyến dụ hoặc kêu mời làm thành-viên trong tổ chức
Công-Trình Của Chúa (tức Opus Dei); đồng thời nhắc nhở các
ngài rằng: nhiều thế kỷ qua, các ngài vẫn thật sự là ‘chiến hữu’ Đức Kitô. Và,
tôi cũng tự mình xem xét các phong trào mới - hoặc để giải thoát/hiệp thông hoặc
làm tân tòng của Chúa- nhưng vẫn tôn trọng quyền tự trị và sức sống của hội
thánh địa phương.
Bên cạnh các cơ sở tôn
giáo mang tính cổ truyền, là cơ quan có mục tiêu chính như tái sáng chế ra thứ nước
nóng đang cần. Tôi cũng sẽ yêu cầu giáo triều La Mã -trước khi tự biến cải chính mình – sẽ đồng thuận
để trở thành hình-thái mới khả dĩ phối-kết giáo hội, hầu đáp ứng những gì được
coi như hơi thở của Thần Khí cho nhiều thập niên mà không cần đến chỗ đứng
trong giáo luật. Là, gia-đình linh-đạo gồm cả nam lẫn nữ, có gia đình hoặc độc
thân, giáo dân hay linh mục, sống năng-động hay chỉ chiêm-nghiệm, nhất nhất đều
kết hiệp quanh thị-kiến linh-đạo cũng rất chung qua hiệp-thông phục-vụ Thiên
Chúa, thế giới và Nước Trời.
Tôi sẽ tiến đến giải-pháp
đình chỉ việc phong chân phước và hiển thánh cho đến khi tất cả tín-hữu tốt-lành
hôm nay được biết đến cả danh tánh, sử hạnh và giáo huấn của các bậc hiển thánh
trong quá trình 25 năm qua. Tôi sẽ đề ra một luật trừ cho vị nào được toàn thể
dân Chúa coi là vẫn muốn phong làm thánh nhưng lại bị thánh-bộ “phong thánh”
quên tên như trường Đức Giám mục Oscar Romêrô chẳng hạn.
Tôi sẽ hít vào buồng phổi
lớp tro tàn của phong trào Linh thánh dấy lên ở Châu Mỹ La-tinh vào năm tháng
quẫn bách dưới chế-độ hà-khắc của đám quân-binh độc-tài kiểu Pi-nô-chê để rồi tặng
ban sự sống mới cho các phong trào bị xoá tên vì sợ bị ảnh hưởng từ chủ-nghĩa
xã-hội đích thực. Tôi sẽ tổ chức các buổi hội-nghị chuyên đề thảo-luận và trình-bày
cho thấy nền thần-học giải-phóng cũng đem đến cho hội thánh hiện-tại các thần-học-gia
sâu sắc của Châu Âu thời Công đồng Vatican 2 nay tuyệt chủng; vì nền thần học này
đang ngày càng thoái hoá, suy sụp.
Tôi sẽ đề nghị các thần-học-gia
nhà mình hãy sáng-tạo hơn nữa trong điều nghiên, hầu dẫn-giải sứ-điệp Tin Mừng
thành thứ gì đó cho mọi người cả nam lẫn nữ đều có thể hiểu được, để rồi họ sẽ có
vai trò không chỉ bó mình trong việc bình giải văn bản của các Tổ phụ, thôi.
Tôi sẽ khuyến khích các vị ấy biết chỉnh-sửa lẫn nhau và biến đổi giáo-triều hầu
bảo vệ niềm tin đi vào cơ sở chuyên chăm nghiên cứu thần học.
Tôi cũng nói thêm một lần
nữa, cho giới trẻ biết tương lai của Hội thánh và yêu cầu họ giới hạn chuyện đi
đây đó trong các năm sắp tới, dành tiền tiết kiệm cho việc dựng-xây nơi-ăn-chốn-ở
cho các vị cao niên –có khi cũng là ông bà của họ tại nước họ đang sống. Tôi vẫn
biết Đại Hội Giới Trẻ ở Cologne bị lỗ nặng về tài chánh và bãi bỏ các Đại hội như thế bằng cách bán cơ
sở/cao ốc hiện được dùng làm văn phòng ở Vatican.
Tôi chỉ muốn bán các cơ
sở ở Vatican đi, trừ Vương Cung Thánh Đường Phêrô thôi, rồi sau đó, mua một căn
hộ nho nhỏ để sống tại quận lỵ dân dã ở Rôma, và khi muốn đi đây đó tới các ty/sở,
tôi sử dụng xe chuyên-tu dành cho Giáo Hoàng, thôi.
Và rồi, tôi quyết tâm sẽ
về hưu sớm. Nhưng ở tuổi 75, xem ra tôi vẫn còn trẻ vì tôi cũng sắp đi vào tuổi
đó rồi. Tôi sẽ bớt việc của các hồng y xuống thành những việc mang tính danh dự
thôi, và sẽ tổ chức bầu cử Giáo Hoàng kế tục cho dân La Mã, vì đó là giáo phận
ngài chăm sóc.
Đấy! Quí vị thấy đấy. Họ
có cho tôi cơ hội nào đâu dù chỉ một cơ hội duy nhất để biến chương trình này
thành hiện thực.” (xem Lm Armand Veilleux Trappist – Abbot of Scourmont, Belgium- If I
had been elected Pope…)
Là đấng bậc viện-phụ mà chỉ ước và mơ mỗi như thế,
cũng không thành. Nghĩ cho cùng, làm sao thành sự được khi đó chỉ là những mơ
cùng ước. Ước mơ/mơ ước thành sự ở thơ văn/âm nhạc, mà thôi. Bởi thế nên, người
nghệ sĩ của ta vẫn hát câu thơ khá mơ và ước như sau:
‘Tuổi mộng
mơ,
tuổi mộng mơ ước mơ tiên.”
(Phạm Duy- Tuổi mười ba)
Tuổi mộng mơ, chưa chắc là tuổi của những mơ và ước. Ước
và mơ, thật ra cũng chẳng cần đợi tuổi tác hoặc năm tháng/ngày giờ, mới đạt được.
Mơ và ước, hầu như ai cũng có cơ hội và có quyền hạn để thực hiện. Tuy nhiên, cứ
sự thường thì người đời chỉ mơ và ước khi mình còn trẻ, tức thời gian còn dài để
có thể đợi mong nó thành hiện thực. Trường hợp đấng bậc trên, kể cũng lạ và hiếm
có. Thế nên, đức thày mình vẫn cứ mơ và cứ ước lại không nghĩ rằng những ước mơ
của ngài sẽ được thực hiện, cũng chóng thôi.
Tuy nhiên, người đời tuy biết thế nhưng vẫn ước và mơ.
Mơ ước, nhưng không là mơ mộng. Và, chắc chắn không là mộng ảo, mộng tưởng hoặc
mộng mỵ. Mộng gì thì mộng, tưởng gì thì tưởng hẳn cũng không là mộng ước của vua
cha như truyện kể, ở bên dưới.
Truyện rằng,
Vị vua tài đức nọ giàu đức hạnh, nhưng không có hoàng tử nối ngôi. Vua ta
bèn nghĩ tới việc chiêu mộ những người trẻ tài đức để có thể kế vị ông sau khi
ông qua đời.
Một ngày kia, vua cho mời tất cả các trẻ em từ 5 đến 12 tuổi vào hoàng
cung. Vị vua giải thích cho các em ý định của ông là muốn tìm người tài đức để
thay ông cai quản đất nước. Ông trao cho mỗi em một hạt giống và dặn các em rằng
sau ba năm, các em hãy mang mỗi cây mà mình sẽ trồng đến trình diện tại cung điện.
Sau khi nhận hạt giống, mỗi em đều nhiệt tình trồng hạt giống của mình và ngày
đêm chăm sóc chúng với hy vọng là cây của mình sẽ lớn nhanh và có thể sinh hoa
kết quả. Một số em nghĩ rằng, mình phải gây sự chú ý của nhà vua bằng cách làm
cho cây của mình thật lớn và có hoa quả.
Ðúng ngày đã hẹn, cả nước nhộn nhịp tiến vào cung điện để xem thử cây
nào là cây đẹp nhất, có nhiều trái nhất, và để xem ai sẽ là vị vua tương lai
cho đất nước. Quả đúng như dự tính, mỗi em đều mang đến cây mà mình đã trồng với
nhiều màu hoa hương sắc. Người ta cũng thấy có những cây đã kết trái thật xum
xuê. Nhà vua đi đến từng địa điểm để hỏi thăm các em, cách thức các em trồng
cây. Sự hồi hộp và im lặng của đám đông càng tăng lên khi nhà vua tiến đến những
cây tươi trái tốt; nơi mà nhiều người nghĩ rằng một trong số các em này sẽ được
chọn là hoàng tử.
Thế nhưng, nhà vua vẫn tiếp tục đi qua và bỗng dưng ông dừng lại trước một
cậu bé. Trên tay cậu bé là một chậu đất không cây. Thấy nhà vua đứng lại bên
mình, cậu biểu lộ sự thất bại bằng dòng nước mắt chảy dài trên má. Nhà vua hỏi,
"Tại sao con khóc?" Cậu bé thưa, "Con đã gieo hạt giống vào chậu
đất này, con đã bón phân cho nó, con đã tưới nước cho nó hằng ngày, con đã che
nắng cho nó và con đã làm nhiều cách để chăm sóc hạt giống của con, nhưng cuối
cùng không có cây nào." Càng nói, cậu bé càng khóc lớn tiếng.
Nhà vua ôm cậu vào lòng và ra lệnh cho quân lính mời cậu lên chỗ cao
danh dự. Giờ đây, trước sự sửng sốt của bao nhiêu người, và kể cả cậu bé, nhà
vua bắt đầu lên tiếng. "Hôm nay, bệ hạ đã tìm được người mà bệ hạ mong đợi
từ lâu. Cậu bé đây đã chân thật khi nhận sự thất bại của mình. Và thực đúng là
như vậy. Vì tất cả hạt giống ta trao cho các con cách đây ba năm, chúng đã bị
luộc chín cả rồi."
Nhà vua quay qua cậu bé và nói. "Con đã biết trung thành và trung
tín trong việc nhỏ; con đã không bị ngai vàng và danh lợi mê hoặc; con đã cần mẫn
chu toàn công việc của con với hết khả năng của mình. Ðó là điều ta mong muốn."
Nhà vua nói tiếp, "Trên tay con là chiếc chậu đất không cây, nhưng chính
trong trái tim con, con đã gieo hạt giống sự thật vào lòng mọi người hôm
nay."
Thật ra thì, vua cha mơ ước như thế, có thể là chuyện thực tế ở đời, cũng
rất thật. Khổ một điều, là: sự việc ở đời thường vẫn không như vua cha mơ ước.
Thế nên, thi ca/âm nhạc lại vẫn thấy có những câu ca rất mộng và rất mơ, như
sau:
“Em ước mơ em là,
em được là tiên nữ
Ban phép tiên cho hoa
biết nói cả tiếng người
Ban phép tiên cho người
chắp cánh bay giữa trời.
Thật đẹp thay! Thật đẹp thay! Giấc mơ tiên!
Thật đẹp thay! Thật đẹp thay! Giấc mơ tiên!”
(Phạm
Duy – Tuổi Mười Ba)
Ước và mơ của nghệ sĩ và của đan-viện-phụ nọ ở Scourmont,
nước Bỉ vẫn là chuyện thực tế, nhưng hơi mơ. Mơ và ước, cả những mệnh lệnh của
Chúa sẽ thành hiện thực, như Kinh sách nói:
“Các ngươi cũng chớ gọi mình
là lãnh đạo.
Vì lãnh đạo của các ngươi
chỉ có một: Đức Kitô.
Kẻ lớn hơn trong các ngươi
sẽ là tôi tớ của các ngươi.”
(Mt 23: 11)
Phải chăng mơ và ước đó, là của mọi người trong Đạo.
Như Đạo Chúa vẫn dạy?
Mơ gì thì mơ. Ước gì thì ước, hãy cứ ước và mơ những
chuyện nho nhỏ, nhè nhẹ như truyện kể để suy nghĩ, rất như sau:
“Nhà nghèo, chạy vay mãi mới được xuất hợp tác lao động, Thanh coi đó
như cách duy nhất để giúp đỡ gia đình. Nhưng ảo mộng chóng tan. Xứ người chẳng
phải là thiên đường. Thanh chỉ còn biết làm quần quật và dành dụm từng đồng.
Để nhà khỏi buồn, trong thư Thanh tô vẽ về một cuộc sống chỉ có trong
mơ. Ngày về, mọi người mừng rỡ nhận quà, Thanh lại tiếp tục nói về cuộc sống
trong mơ.
Đêm. Chỉ có Mẹ. Hết nắn tay, nắn chân Thanh rồi Mẹ lại sụt sùi. Thanh
nghẹn ngào khi nghe Mẹ nói:
-Dối Mẹ làm gì! Giơ xương thế kia thì làm sao mà sung sướng được hở
con!” (x.
Kangtakhoa, Lòng Mẹ)
Trong mọi mơ ước, nhiều người vẫn cứ sống trong mơ mà chẳng giấu được ai
hết, chí ít là mẹ hiền. Vì, mẹ hiền hiểu biết lòng dạ của con cái, cũng rất nhiều.
Hệt như thế, nếu dân con nhà Đạo chạy đến hỏi han Mẹ hiền Hội thánh xem nay Mẹ có
mơ hay ước gì không? Phải chăng, Mẹ đang có nỗi mơ và ước về con cái và cho các
con của mình được hạnh phúc, hơn khi trước?
Hỏi, tức đã trả lời rồi,
dù không rõ.
Trần Ngọc Mười
Hai
Cũng ít khi hỏi người, hỏi mình
về những ước mơ
rất như thế.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment