Friday, 5 June 2015

“Làm sao, giết được người trong mộng”,



Chuyện Phiếm đọc sau Chúa Nhật thứ 11 Thường Niên năm B 14/6/2015
 
“Làm sao, giết được người trong mộng”,
Để trả thù duyên kiếp, phũ phàng.”
(Phạm Duy – Giết Người Trong Mộng)
(Lc 12: 51-53)
            Ối giào! Giời ạ! Giết gì mà giết lắm thế? Giết được cả người trong mộng nữa sao? Mà sao lại chỉ giết người bội thề, u mê, quên tình nghĩa phu thê, như thế? Giết nhiều, rủi lỡ tay giết cả người “trong mộng đã đi về”, hoặc “đã hiện về” như “loài bướm đong đưa”, dễ sợ chưa? 
            Thật ra thì, có chém giết như thế, kể cũng tệ. Bởi, nếu suốt ngày hát hò rồi kêu lên “Giết người đi!”, “Giết người đi!” tức là: cứ giết và giết, để “trả thù duyên kiếp phũ phàng” thì, ôi thôi lại thi-ca với âm nhạc!  
            Hết nhiều nhất, là khi có bé em vừa hát câu trên xong, lại thêm ca-từ lê thê như để bảo: “Đêm qua em mơ gặp… chú/bác” gì đó, say mơ đến độ thấy cả  râu/tóc bạc phơ của chú/của bác, nên không còn muốn “giết người trong mộng” nữa, thế có chết không!
            Thôi thì, bạn và tôi, ta có hát đi hát lại đến chán chê mê mỏi cũng chỉ có mỗi câu những giết là giết, mà thôi. Có mơ đi mơ lại toàn người này người nọ rồi gọi là chú/bác cuối cùng cũng lại than vãn, hát thêm rằng:

“Nhưng người ơi! Nhưng người ơi!
Sao người trong mộng vẫn hiện về?
Nhưng người ơi! Nhưng người ơi!
Sao người trong mộng vẫn say mê?
Ơi người ơi! Ơi người ơi!
Sao tình trong mộng vẫn ê chề?
Ơi người ơi! Ơi người ơi !
Sao mình trong mộng vẫn ngu si?
Ơi người ơi! Ơi người ơi!
Thôi đành thôi, thôi đành thôi
Giết người trong mộng mơ…”
(Phạm Duy – bđd)

Vâng! Vấn đề lâu nay đặt ra với người đời, chỉ có thế. Giết người trong mộng hay giữ người trong mộng, vẫn cứ là thơ/văn cho hợp vận, chứ làm gì có ai đòi giết nhiều quá sức vậy chứ? Vâng. Phiếm luận chuyện Đạo/đời, đôi lúc cũng để giết, nhưng không phải “người trong mộng”, mà là thời gian, ấy chết là ngôn-từ với ngôn-ngữ, rất vô-tích-sự.
Nhưng “thời gian”, sao gọi được là vô-tích-sự? Dù, bàn dân thiên hạ cứ mừng đi mừng lại các kỷ-niệm những giết và giết đầy chết chóc cả vào hôm nay, như báo/đài vẫn tường-thuật.
Báo đài nhà Đạo hôm nay, chỉ muốn tường-thuật chuyện chết chóc tuy không giết người trong mộng, bên trong hay bên ngoài nhà Đạo. Nhưng, những chuyện thần học, tu-đức lẫn tin tức, cũng không thoát. Ví-dụ ư? Thì, đây: vừa qua có báo/đài nọ đã cả gan loan tin tức…mình bảo rằng Đức Giáo Tông Công-giáo nói ta cũng có thể chấp-nhận giải-pháp “dĩ độc trị độc”, để tránh chiến-tranh, bạo-lực (?) vv…   
Người loan tin trích-dẫn chuyện này ở đâu không biết, chỉ biết là: ở Úc người ta đã trích câu nói về chiến tranh, giết chóc hoặc bạo loạn, từ đấng bậc vị-vọng chốn chóp bu Giáo hội Công giáo như sau:

“Tôi kêu gọi mọi bên, mọi phía đang dính dự hãy chấm-dứt vòng quay xoắn ốc đầy ghét ghen/bạo-lực để có can-đảm mà đưa ra quyết-định hoà-giải hầu đi đến hoà-bình. Xây-dựng hoà-bình thật rất khó, nhưng sống mà không có hoà-bình lại chỉ là sống trong dằn-vặt, khổ đau mà thôi.” (Đức Giáo Hoàng đã có kêu gọi khi một số đồng bào bị tấn-kích tại hội-đường Do-thái ở Giêrusalem tháng 11/2014, The Australian Catholics Hè 2015 tr. 4)

Nói về chiến tranh, lại phải nói cả về hoà bình nữa mới được. Nói về hoà bình, lại cũng nên nói đến những chuyện kể mang tính vui tươi, bổ ích, tích cực dễ nghe và dễ sống với đời hơn, thế mới phải. Bần đạo đây, có anh bạn đang sống ở đảo quốc phương xa vẫn nhất quyết không nghe và không đọc báo/đài truyền-thanh/truyền-hình suốt ngày nói toàn chuyện giết người hoặc chết chóc, mà thôi. Đổi lại, anh kể cho bần đạo câu chuyện bên dưới tạo niềm vui hưng-phấn mà sống:

“Truyện rằng:
Hôm ấy, có người mù nọ thèm món Vịt quay bèn quyết định đến tiệm mì, kêu:
-Cho ngộ một con dzịt quay Pắc Kinh à!
Anh bồi bưng vịt ra, và người mù sờ con vịt hít một hơi rồi nói:
-Ồ! Cái lầy là con dzịt quay Thượng Hải, đó nị.
Anh bồi bèn mang vào bếp yêu cầu làm con vịt khác. Nhưng mang con nào ra, cũng bị cho là không phải, lúc thì khách bảo: cái lày là dzịt Quảng Đông, cái kia Hải Nàm. Đến con thứ tư, ông mới bảo đây đúng chánh-hiệu là nó đó. Nhà bếp nghe vậy rất ư khâm phục. Chợt có người từ trong bếp ra, bèn hỏi khách:
-Thưa khách xộp! Sao ông lại có thế biết đích xác vịt nào là vịt Bắc Kinh vậy?
-Đơn giản thôi. Ngộ chỉ cần rờ cái phao-câu của nó rồi ngộ hít một hơi là biết ngay hà!
Anh phụ bếp quá xúc động bèn mếu máo nói:
-Thưa ông! Tôi đây mồ côi cha mẹ từ hồi chiến tranh/loạn lạc, không biết mình sinh ra từ phương nào, Bắc Kinh hay Thượng Hải, có thể nào ông đoán giùm tôi được không?
-Ồ, cái lày thì ngộ không có làm lược à!. Sờ phao-câu con dzịt thì lược, chứ lụng chạm cái con người nị thì ngộ không có dám, à. Lỡ pậy, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, thì sao?”

Truyện kể đây, cốt chỉ để minh-hoạ một chuyện, rằng: ở đời, nhiều người chẳng sợ gì chuyện “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Cũng chẳng ngần ngại mọi thứ, nên cứ hay lẫn lộn người với vật, hoặc người này với người khác, rồi làm chuyện xằng bậy, gây chiến.
Chiến hay hoà, có thể không do người đời làm chuyện xằng bậy, nhưng cứ hay lầm lẫn những điều mà người mình gọi nôm na, là “cầm nhầm”. Đạo Chúa, cũng có trường hợp không nghiêm-trọng, nhưng cũng là ngộ-nhận được đấng bậc ở Melbourne, Úc Châu trình bày như sau:

“Mặc dầu, lâu nay “Kinh Hoà Bình” được gán ép cho thánh Phanxicô thành Assisi là tác-giả, nhưng thật ra kinh này được viết cách đây không lâu lắm chỉ vào đầu thế kỷ thứ 20 mà thôi.

Cụ thể hơn, thì “Kinh Hoà Bình”, lần đầu được phổ biến trên tập-san tu-đức gọn nhỏ viết bằng tiếng Pháp vào năm 1912, như lời cầu dùng trong thánh-lễ, suốt thời gian đó. Kịp đến năm 1915, có nhóm người Công-giáo Pháp thấy kinh này quá hay bèn kính gửi lên Đức Giáo Hoàng lúc ấy là Đức Bênêđíchtô XV những muốn chấm-dứt cuộc đại-chiến thế-giới từng tàn-phát cả châu Âu. Và, Đức Giáo Hoàng truyền cho in bản kinh này trên các báo của toà thánh ở Rôma. Và rồi, sau đó nhật-báo Pháp La Croix cũng xin được phép phổ-biến rộng hơn như kinh nguyện-cầu bình-an hầu chiến-tranh mau chấm-dứt.

Ở Hoa Kỳ cũng vào thời đó, có nhiều người thấy kinh này hay và thích hợp nên đã gán cho thánh Phanxicô thành Assisi làm tác-giả, và rồi phân-phát rộng-rãi trên bìa cứng suốt Đệ Nhị Thế Chiến và những năm sau, nguyện cầu cho hoà-bình ở khắp nơi.

Bản kinh được dịch tiếng Anh thành nhiều văn-bản khác nhau cũng vì một mục-đích. Bản-văn được biết nhiều và ưa-chuộng nhất ở xứ này lại được tác-giả là Johann Sebastian von Tempelhoff, một tu-sĩ Dòng Phanxicô ở Nam Phi đã phổ nhạc thành ca-vịnh phổ-biến khắp chốn. Chính Mẹ Têrêxa thành Calcutta cũng có công đưa bản kinh này vào các lời nguyện-cầu buổi sáng cho các chị em Dòng Truyền Giáo Bác Ái, do Mẹ thành-lập. Mẹ còn khiến cho cộng-đoàn đọc kinh này ở Oslo vào buổi Mẹ nhận giải Nobel Hoà Bình, năm 1979.

Thật sự, cũng chẳng ai biết rõ tại sao Kinh này lại được gán cho thánh Phanxicô hết. Thế nhưng, tính giản-dị của lời kinh cùng với lòng nhiệt thành nóng-bỏng và sự độ lượng nơi ý-tưởng cũng như điều được nhấn mạnh vào các yếu-tố cuộc sống đã làm dội vang tinh-thần khó-nghèo bình-dị của thánh Phanxicô, rất trọn vẹn.

Lời kinh đây, mời gọi mọi người chúng ta hãy xa lánh động-thái tiêu-cực trong cuộc sống, vốn dĩ gây ảnh-hưởng lân mối quan-hệ giữa con người và Thiên-Chúa và với nhau, như các đặc-thù gây hại, tương-tự như: tính nóng giận, hờn ghen, nghi-kỵ và sự tăm-tối. Kinh này còn khuyến-khích ta ra đi mà thực-hiện hoà-bình cùng thứ tha, tin tưởng và hy vọng, mãi muôn đời.” (X. Lm Andrew Hamilton sj, Channelling God’s peace, The Australian Catholics Hè 2015, tr. 9)  

Nói như người đấng bậc nhà Đạo, là nói thế. Tức, chỉ nói đến yêu thương, an bình và giùm giúp. Còn, như nghệ sĩ lại cứ hát mãi ca-từ những giết và giết, nay hồi tâm thay vào đó bằng những câu ca rằng:

“Làm sao giữ được người trong mộng?
Để được tình yêu, dẫu bẽ bàng.
Giết người trong mộng?
Hay giữ người trong mộng?
Giết người trong mộng?
Hay giữ người mộng mơ?”
(Phạm Duy – bđd)

Có nói nhiều và hát không thiếu những lời dữ tợn/hiền dịu cũng chỉ để diễn-tả tình-trạng thực-tế của cuộc đời đầy nhiễu nhương. Đời nhiễu nhương, nhưng không có nghĩa tệ-bạc như một số người thường hiểu lầm khi nghe Đấng Thánh Nhân Hiền những bảo rằng:

“Anh em tưởng là Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao?
Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ.
Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau,
ba chống lại hai, hai chống lại ba.
Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái,
con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng."
(Lc 12: 51-53)

Xem như thế, thì đời người là một chuỗi ngày gồm toàn những hiểu lầm, ngộ nhận làm sai. Thế nên, lại có đấng bậc thày dạy khác, nay muốn minh-xác để bạn và tôi, ta hiểu rõ ý-nghĩa thần-học của Kinh thánh rất như sau:

“Mỗi khi các nhà chú-giải trích-dẫn đoạn này, thường bảo rằng: gia-đình rồi sẽ chia rẽ nhau tựa hồ tình-trạng của một số người tin vào Đức Giêsu, còn những người khác lại khước-từ không tin vào Ngài, chút nào. 

Theo tôi, vấn-đề ở đây không liên-quan đến niềm tin của ai hết, mà là quyền uy/sức mạnh của gia-đình thôi. Cũng nên để ý đến điều được nói ở dụ-ngôn về sự phân-cách giữa các thế-hệ. Đức Giêsu vẽ lên hình ảnh tiêu-biểu, về gia-đình Địa Trung Hải có 5 thành-viên, là: cha mẹ, con gái còn son sẻ, con trai đã có gia đình và vợ anh, tất cả đều chung sống dưới một mái nhà. Đức Giêsu nói: Ngài sẽ chia-cách những người như thế khiến họ sống riêng rẽ. Việc Ngài chỉ-trích, là sự sắp xếp sức mạnh/quyền-uy của gia-đình có bậc mẹ cha đầy uy-lực trên con trai, con gái và dâu con họ.

Thật ra thì, truyện này cũng giúp ta hiểu được những câu truyện kể và lời nói Đức Giêsu từng dạy-dỗ về cuộc sống gia-đình. Gia-đình, là xã-hội thu nhỏ. Là khung-cảnh trong đó ta học được khuôn-mẫu tình thương, ghen ghét, việc giùm-giúp và cả cách xách-nhiễu nhau nữa. Không phải gia-đình nào cũng đều có cảnh sống ấm-cúng và dung-dưỡng nhau theo kiểu Norman Rockwell. Bởi, đời sống gia-đình dính-dự vào quyền-bính, nên cũng dính đến chuyện lạm-dụng quyền-lực nữa. Và, đó là quan-điểm/lập-trường mà Đức Giêsu muốn đả-phá.

Nhóm/hội lý-tưởng của Ngài, trái hẳn sắp xếp xã-hội thông-thường của nhân loại. Nhóm/hội Ngài thiết-lập rất cởi-mở và ai cũng có thể tiếp-cận nhau dưới trướng của Ngài. Ở Vương Quốc Nước Trời, không có chuyện lạm-dụng quyền-lực. Tất cả, được đón chào vui vẻ. Mọi người đều ngang bằng nhau và giống nhau theo ý-định và mục-đích do Chúa muốn.             

Xã-hội dân-chủ vào thế-kỷ đương-đại, ta cũng không bị rút khỏi khuôn-mẫu thế-giới quyền-uy của Đức Giêsu. Ta từng biết thế nào là lạm-dụng quyền-uy thế-lực trong đời sống gia-đình. Thành-ngữ “bạo-lực trong gia-đình” ta từng nghe đi nghe lại nhiều lần hơn các thế-hệ trước. Nay, ta biết rằng lạm-dụng lớn thường ẩn nấp bên dưới mặt ngoài thấy êm ả.

Thành thử, dù có ở vào thế-kỷ thứ nhất hoặc 20, 21 này, việc Đức Giêsu chỉ-trích vẫn có đôi điều để nói, là: không có cơ-cấu gia-đình nào trở thành tuyệt-đối hết. Mọi cấu-trúc hiện-tỏ cho con người là để dung-dưỡng nhau, mà sống thôi. Đời sống gia-đình, giống như cuộc sống nhân-loại, đều nằm trong phạm-vi dưới Vương Quốc Nước Trời, do Chúa phản-biện. Đời sống gia-đình, giống các hình-thức khác nơi sự liên-đới với con người. Nó hiện-hữu vì mục-đích công-bằng và tình-thương, thôi.” (x. Cựu linh-mục John Dominic Crossan & mục-sư Richard Watts, Who is Jesus,Westminster John Knox Press 1996 tr.47)

Nói cho cùng và hiểu cho thấu các sự việc của con người trong đời, cũng nên nói và hiểu qua thơ-văn nhè nhẹ có truyện kể ở đời, để cho vui. Truyện kể hôm nay có giòng chảy những bảo rằng:

“Có hai con chim gáy rất thân với nhau. Hết tha thẩn xuống đồng lượm từng hạt lúa, chúng lại bay lên ngọn tre râm ran tiếng gù. Cứ tha hồ mà dồn dập, mà khoan thai có khi nhẹ nhàng như lời tình tự. Bỗng chẳng may một anh bị con người bẫy được đem về nuôi. Anh kia liền đi tìm bạn mới.

Mặc dù được chăm sóc chu đáo, nhưng bị giam hãm trong lồng phần thì nhớ da diết cánh đồng quê, phần thì nhớ bạn, chim cất lên những tiếng ai oán não nùng. Nghe tiếng than của bạn, anh chim gáy ở ngoài cũng tìm đến thăm. Thấy bạn mình được ở trong chiếc lồng son, có thức ăn nước uống đầy đủ, anh ta ganh tị bảo:
- Tưởng khổ cực lắm, hoá ra phúc đức ông cha bảy đời để lại mới có được kẻ nâng niu chiều chuộng còn than vãn nỗi gì.

Anh chim trong lồng nghẹn ngào không thốt nên lời.
Thấy thế anh chim ở ngoài nảy ra ý định: Mình muốn vào đó, nhưng có cả hai thì thức ăn sẽ ít đi, chi bằng tìm kế cho nó bay ra để ta vào tha hồ mà chén. Nghĩ vậy anh ta liền dùng lời ngon ngọt dụ dỗ:
- Muốn thoát thân thì nhịn ăn, giả vờ chết. Chủ sẽ bắt ra xem thử, lúc ấy nhanh chân mà tẩu thoát.

Quả thật bằng cách đó anh chim nọ được vùng vẫy nơi trời cao và say sưa cất giọng trầm bổng. Còn anh chim ở ngoài lại cứ quanh quẩn bên chiếc lồng, tất nhiên được vào trong dễ dàng.

Được no nê nhưng anh ta mới nhận ra sự cô độc, tù túng. Từ đó, chim càng lười biếng không cất nổi tiếng gáy. Người chủ thấy thế cũng chẳng còn săm soi, chăm sóc như ngày xưa nữa. Nhiều hôm phải nhịn đói, nước mắt lưng tròng, thân hình tiều tụy trông mà tội nghiệp, anh ta liền dở chiêu cũ nhưng có ai mà dại nữa. Lúc này, anh chim gáy nọ mới nhận ra rằng sống mà chỉ vì miếng ăn thì đó chỉ là kiếp sống thừa”.(truyện do St gửi)  

            À thì ra, mọi chuyện xảy ra trên đời không vừa ý, cũng chỉ do hiểu sai , hiểu lầm hoặc hiểu không tới nơi tới chốn căn-nguyên/cội rễ của nó.
Ở nhà Đạo cũng thế, có những chuyện và những việc cần điều-nghiên/học hỏi cho kỹ, mới tránh khỏi những sai sót, ngộ nhận cũng tương tự. Và, Đức Giáo Tông Phanxicô có lần cũng minh-định những chuyện như thế, trong sống Đạo rất thực-thụ:

“Ngày nay, sứ điệp của Giáo Hội cũng là sứ điệp của hành trình thẳng thắn, con đường can đảm theo tinh thần Kitô. Như Kinh Thánh đã nói: hai môn đệ đơn sơ, ít học, đã có can đảm. Lời để dịch từ can đảm, chính là thẳng thắn, nói tự do, không sợ nói sự thật.”

Đức Thánh Cha cũng giải thích:
Chính sự can đảm loan báo như thế, là điều phân biệt chúng ta với những kẻ chiêu dụ tín đồ. Chúng ta không quảng cáo để thu thập thêm những người gia nhập hội tinh thần của chúng ta. Điều mà Kitô hữu làm, chính là loan báo một cách can đảm, loan báo Chúa Giêsu Kitô nhờ Thánh Linh. Chính Thánh Linh ban sức mạnh cho những người đơn sơ, ít học, như Phêrô và Gioan, sức mạnh can đảm loan báo Chúa Kitô cho đến chứng tá cuối cùng, là cuộc tử đạo.” (Tin Vatican 13.4.2015, G. Trần Đức Anh OP dịch)

Tóm lại, có nói và hát về chiến-tranh, giết chóc hoặc mơ mộng nhiều như truyền-thông báo đài gì đi nữa, cũng chỉ nên hát và nói những câu cuối để còn quyết tâm thực-hiện chuyện để đời, là đem hy-vọng và bình an đến với mọi người.
Quyết thế rồi, ta không còn ngại-ngần gì mà không hát những câu ca thời-thượng một dạo như sau:

“Làm sao giữ được người trong mộng?
Để được tình yêu, dẫu bẽ bàng.”
(Phạm Duy – bđd)

Giữ được người trong mộng” hay trong cuộc đời rất thực tế, cũng chỉ để “được tình yêu, dẫu bẽ bàng”. Chính đó là thông-điệp của nghệ-sĩ già từng gửi đến người đời, bấy lâu nay.

Trần Ngọc Mười Hai
Không có gì để đời, nhưng vẫn muốn hợp
với người nghệ-sĩ nói lên được điều đó
với mọi người.    


 




Saturday, 30 May 2015

“Trong quan tài buồn hồn nghe thêm trống vắng”,



Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau lễ Mình Máu Chúa Năm B 06/7/2015

“Trong quan tài buồn hồn nghe thêm trống vắng”,
Tóc chưa xanh một lần nhưng tim nghe đã thương thân
Trong cơn gọi hồn đời nghe xa xôi lắm
Gót chân đi chưa mòn đường tình nay đã phai dần.
(Lê Hựu Hà – Phiên Khúc Mùa Đông)

(Ga 11: 36/Mt 27: 3-5)
Quan tài buồn? Đã như thế, sao Elvis Phương lại hát: “Hồn nghe thêm trống vắng”? Hát rồi, anh còn thêm lời buồn của tác giả, những là: “Gót chân đi chưa mòn đường tình, nay đã phai dần”.
 Vâng. Có thể là như thế. Như thế, tức là bạn và tôi, ta đã đồng ý với ca-từ cùng ý-tứ của người viết lời và nhạc, rất Lê Hựu Hà! Như thế, lại có thể là bạn hoặc tôi, ta chưa nghe câu nào khác, cũng nói về “quan tài buồn”, như câu: “Chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ!” Bần đạo đây, cũng không biết câu nào có trước câu nào sau.
Nhưng, có câu nói “trại” mà bần đạo cứ nói đi nói lại với bà chị ruột lâu nay vẫn sống ở Orange County, xứ Bông Kỳ rằng: “Chưa thấy Hoa Kỳ, chưa đổ lệ!” Tội nghiệp. Bà chị của bần đạo thuộc loại chân-phương thứ thiệt cứ tưởng là chê Hoa kỳ của chị, là nơi mà nhiều người từng đi đi/về về cũng khá nhiều lần, mà sao chẳng thấy ai đổ lệ hết vậy?
Chỉ đổ lệ xót thương cho thân phận bạn hiền của Đức Giêsu ở truyện Tân Ước cứ hiểu là: hễ thấy quan tài tức ngôi mộ của ai đó bạn bè người thân tự khắc sẽ đổ lệ hơn một lần trong đời, như sau:

“Thấy cô khóc,
và những người Do-thái đi với cô cũng khóc,
Đức Giêsu thổn thức trong lòng và xao xuyến.
Ngài hỏi:
"Các người để xác anh ấy ở đâu?"
Họ trả lời:
"Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem." Đức Giêsu liền khóc.
Người Do-thái mới nói:
"Kìa xem! Ông ta thương anh Lazarô biết mấy!"
(Ga 11: 36) 

Đấy. Thấy chưa? Đức Giêsu, dù Ngài chưa thấy quan tài đựng xác Lazarô-bạn-hiền là thế, nhưng Ngài vẫn “đổ lệ” khóc thương bạn hiền mình. Có thể, Ngài cũng khóc và thương, như ý/lời trong nhạc bản trên lại hát tiếp:

“Nước mắt ấy đã lau khô rồi.
Đôi môi ấy đã quen tiếng cười.
Cuộc tình lỡ đã phai nhạt rồi.
Người tình cũ đã xa ta rồi.
Tiếc nhớ mấy cũng thêm thừa.
Yêu đương biết nói sao cho vừa.
Cuộc tình đó để em vui đùa.
Đọa đày đó, giờ đã đến mùa.”
(Lê Hựu Hà – bđd)

Bần đạo đây, không mấy chắc người viết nhạc dạo ấy có nghe biết ý-từ “đổ lệ những khóc ròng” ở Tin Mừng chưa, nhưng lời lẽ anh viết không khác ý-từ của câu truyện, do mình viết.
Nhiều tác giả khác cũng nói về hiện-tượng “đổ lệ” của ai đó, khi nghe qua lời kể về tiếng khóc đã nghe thấy, dù chưa giáp mặt quan tài, hay “Bông kỳ” của bầy tôi đây, thế mới lạ. Lạ ở chỗ, như Tân Ước từng ghi chú rất rõ, như sau:

“Bấy giờ, Giuđa, kẻ đã nộp Người,
thấy Người bị kết án thì hối hận.
Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục mà nói:
"Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan."
Nhưng họ đáp: "Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh!"
Giuđa ném số bạc vào Đền Thờ và ra đi thắt cổ.”
(Mt 27: 3-5) 

Thế nhưng, theo một số nhà chú-giải chuyên nghiên-cứu trình-thuật Tin Mừng được cho là do cộng-đoàn mang tên Juđa Iscariốt được khai-quật vào năm 2006, lại đã biện-luận về ý-tứ của Lời Vàng ở trên theo cách khác:

“Lâu nay tôi vẫn ngờ-vực về tính-chất sử-học khi kể về trường-hợp Giuđa Iscariốt trong truyện Tân Ước như một kẻ “bội-phản”. Các ngờ-vực ở trên dựa vào 5 yếu-tố coi như nhu-liệu có thể định-vị được, đó là:

Thứ nhất, đọc Tân Ước nhiều lần cho thật kỹ, ta sẽ thấy rằng ký-ức về người đàn ông mang tên Giuđa hiện-diện trong nội-vi vòng cung-cấm rất mật-thiết gồm các tông-đồ kề cận Đức Giêsu, lại không phải là quỉ dữ/ác thần và cũng không là kẻ bội-phản nào ai hết. Tin Mừng thứ tư do tác-giả Gioan ghi, đã qui-chiếu một vị tông-đồ mang tên Giuđa nào đó, chứ không phải Giuđa Iscariốt (đoạn 14 câu 22). Còn trình-thuật do tác giả Luca ghi, thì trong danh-sách 12 tông-đồ, cộng thêm tên của ông Giuđa Iscariốt là một Giuđa nào khác được định-danh là bào-đệ của tông-đồ Giacôbê thôi (Lc 6: 16). Ông Giuđa này, thay cho ông Tađêo ghi ở danh-sách các tông-đồ do tác-giả Mác-cô thuật ở đoạn 3 câu 14-19; và tác-giả Mátthêu ghi ở đoạn 10 câu 2-4. Cộng thêm vào đó, lại cũng có thánh-thư mang danh-tánh của tác-giả Giuđa nào khác đã viết, lại được tín-hữu thời tiên-khởi đưa thêm vào bộ Tin Mừng ở Tân Ước. Tác-giả sách này lại cũng mang tên Giuđê, tức cũng được định-vị một cách khác với danh-tánh của Giuđa; và thư này lại gọi ông là “người tôi-tớ của Đức Giêsu và bào-đệ Ngài là ông Giacôbê (Hậu)” (x. Tin Mừng Giuđê 1: 1) Như thế, tức là: các tín-hữu thời tiên-khởi cũng nhớ về một kẻ tin mang danh Giuđa hiện-diện trong nội-vi cung-vòng mật-thiết của Hội thánh vào thời đầu.

Điểm ngờ-vực thứ hai của chúng tôi, đến từ sự-thể bảo rằng: việc bội-phản Thầy mình, là do một thành-viên trong nhóm Mười Hai, nhưng không thấy ghi chép trong các cảo-bản do cộng-đoàn tín-hữu thời tiên-khởi cung-cấp. Danh-tánh của ông Giuđa, lần đầu tiên gặp thấy ở trình-thuật các tín-hữu của Đức Kitô do tác-giả Mác-cô được viết vào những năm đầu hồi thập-niên 80s sau Công nguyên. Trước thời-kỳ này, ta còn có cộng-đoàn Phaolô được biết đến trong những năm tháng kéo dài từ thập-niên 50s đến năm 64, sau Công nguyên. Lại nữa, ta còn có Tin Mừng “Nguồn” với tên gọi là Quelle từng bị thất-truyền lại là nguồn-cội các trình-thuật mà hai tác-giả Mát-thêu và Luca đã rút ra từ đó rồi thêm vào các truyện kể ở trình thuật do tác-giả Mác-cô từng viết sớm hơn khi ấy.

Bản-văn truyện kể do tông-đồ Phaolô viết, ta lại thấy ý-niệm về sự “bội-phản” xuất-hiện trước cả khi Đức Giêsu bị đóng đinh và chỉ dùng như cung-cách định-vị năm tháng ngày-giờ cho bài mình viết chứ không ghi-chú nội dung chi-tiết chút gì hết. Cụm-từ ‘bội-phản’ được đề-cập trong Bữa Tiệc Ly do tông-đồ Phaolô kể, chỉ cốt để nói về chuyện khai-mạc bữa Tiệc Cuối Cùng mà thôi. Tuy nhiên, khi ghi-chú như thế, tác-giả Phaolô lại đã đưa ra một tự-vựng từng được các dịch-giả bên tiếng Anh hồi thế kỷ thứ 7 sử-dụng và chuyển thành động-từ mang nghĩa “tạo- phản”, nhưng kỳ thực, ý của tông-đồ Phaolô chỉ muốn nói đến việc “chuyển-giao” chứ tuyệt-nhiên không mang mặc một nghĩa ‘tạo-phản’ hoặc ‘phản-tặc’ nào hết. Cũng nên nhớ: trong toàn-bộ các cảo-bản do tông-đồ Phaolô viết, không thấy có bằng-chứng nào cho thấy rằng: ông từng biết rõ rằng: việc phản-bội ấy đã xảy ra, là do một thành-viên trong Nhóm 12 tông-đồ ra tay làm như thế. Tuy thế, bản dịch tiếng Anh khi viết các truyện kể thời sau đó lại đã chêm thêm ý-nghĩa của việc ‘giao-nộp’ vào trong đó.

Lý-do thứ ba khiến tôi ngờ-vực về tính-cách sử-học của truyện kể về ‘bội-phản’ này, là ở việc: tác-giả Mác-cô lại đã đưa vào trình-thuật do ông ghi, vào khoảng thời-gian từ năm 70 đến 75 sau Công nguyên, qua đó ông có nói rõ việc một người đồ-đệ lại đã nhúng bánh vào chung chén rượu của Đức Giêsu (Mc 14: 20). Và rồi, tác-giả Mác-cô lại còn kể về việc ‘bội-phản’ này đã xảy ra vào giữa đêm hôm ở vườn Gethsêmani bằng một cái hôn-vào-má Ngài. Đây là lần cuối cùng, ta thấy tên của ông Giuđa được gọi là Iscariôt ở trình-thuật do tác-giả Mác-cô ghi lại.

Lý-do thứ tư khiến tôi ngờ-vực chuyện ‘bội-phản’ nói đây, được dàn-dựng theo cung-cách rất bi-ai/hoành-tráng vào giữa đêm hôm. Chuyện dàn-dựng, được lập nên theo cách rất gọn nhẹ đến độ các tác-giả Tin Mừng đều tin rằng đó là hành động đen tối nhất trong lịch-sử nhân-loại lại đã diễn ra giữa đêm tối đen như mực. Chuyện này trông giống như một nghi-thức phụng-tự nhiều hơn là sự-kiện lịch-sử.

Và lý-do khiến tôi ngờ tính-cách sử-học của bài viết, chính là tên tuổi của kẻ phản-bội được gọi là Giuđa, không là gì khác ngoài lối phát-âm bên tiếng Hy-Lạp của chữ Judah. Trong khi tên của kẻ phản-bội là tên ‘rất riêng’ tại đất nước của người Do-thái. Các lãnh-tụ đảng phái chính-thống ở nước này từng định-danh cho việc thờ-phượng do người Do-thái thực-hiện vào thời-điểm có các Tin Mừng được viết lên, về phong-trào Kitô-giáo ngày càng nổi lên quyết chống-đối mọi địch-thù của mình. Xem thế thì, cách hay nhất để áp-đặt sự trách-móc/đổ tội cho cái chết của Đức Giêsu là trút-đổ tội này lên Do-thái-giáo ‘chính-thống’ bằng cách nối-kết việc đặt tên kẻ bội-phản với toàn-bộ đất nước Do-thái. Khi yếu-tố kết-hợp nỗ-lực đặc-biệt để miễn lỗi cho thực-dân người La Mã bằng cách mô-tả tính chân-thật của Quan Philatô bằng việc rửa tay sạch rồi nói: “Ta vô-can trong việc tắm máu người này”, thế là việc trách-móc/đổ lỗi đã được bãi bỏ. Chính người La Mã mới là thủ-phạm giết Đức Kitô, nhưng mãi đến thập niên 80s sau Công nguyên, khi truyện-kể về Sự Thương Khó của Đức Giêsu được viết ra, thì các tác-giả Tin Mừng mới bị thúc-ép phải miễn-lỗi cho công-tố-viện người La Mã, là Quan Philatô và rồi đổ lỗi qui hết mọi tội  cho người Do-thái chính là dân-tộc giết Đức Chúa của mình. Và, đó cũng lại là lúc Giuđa bị gán cho là kẻ ‘bội-phản’ bị/được định-danh là một người trong nhóm Mười Hai từng là đối-tượng kéo dài hàng ngàn-năm sau này từ chủ-trương bài Do-thái qua hành-xử đầy tính bạo-lực bằng vào  việc giết-hại Nhân-vật trọng-đại ở Đạo Chúa.” (xem thêm Tgm John Shelby Spong, The Sins of Scripture, HarperCollinsPublishers tr. 199-204)

Lại cũng có một số học-giả chuyên-môn về Kinh Thánh lại đã xác-quyết tất không yếu mềm, rằng:

“Nhiều ngàn năm cho đến nay, các tín-hữu Đức Kitô đều vẽ lên chân-dung của Giuđa Iscariốt hệt như thể ác-thần/sự dữ đã nhập vào người ông. Lại nữa, do động-lực ghét ghen và/hoặc do Satan thúc-đẩy cách sao, ông vẫn bị coi là kẻ bội-phản, thứ người mà triết-gia Dante đặt vào tầng lớp chót cùng nằm dưới đáy hoả ngục. Tuy nhiên, Tin Mừng của tác-giả Giuđa Iscariốt lại  cho thấy chính tông-đồ Giuđa Iscariốt mới là người cận-kề đáng tin cậy nhất trong nhóm Mười Hai. Bởi, ngang qua ông, Đức Giêsu lại đã bộc-lộ toàn-bộ huyền-nhiệm sâu-sắc nhất cho riêng ông; đồng thời, ông chính là người được Thầy Giêsu có tin-tưởng lắm mới nói trước về cuộc thống-khổ của Ngài sắp diễn ra…” (x. Elaine Pagels & Karen L. King, Reading Judas, The Gospel of Judas and the Shaping of Christianity, Penguin Book 2007 tr. 3-5tt)

Hôm nay, khi được nghe nghệ sĩ đồng thời là người viết nhạc dám hát lên những ca-từ đầy nước mắt này, bần đạo bầy tôi chỉ muốn khóc. Khóc, không vì thương quá bạn hiền của Đức Chúa là Lazarô hoặc tông-đồ Giuđa Iscariốt rất cận-kề Ngài là thế nhưng vẫn bị hiểu lầm, mà vì nhiều người vẫn cứ hát và nói những tiếng giọng ỉ ôi, ôi thôi là sầu buồn.
Đời mình và đời người, quả thật vẫn có các sự/việc rất đáng khóc, nhưng sao vẫn không khóc được mà chỉ hát lên có ba lời trần tình, như sau:

“Tiếc nhớ mấy cũng thêm thừa.
Yêu đương biết nói sao cho vừa.
Cuộc tình đó để em vui đùa.
Đọa đày đó, giờ đã đến mùa.”
(Lê Hựu Hà – bđd)

Hát thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cũng đừng suy-tư nhiều quá để rồi lạ sẽ khóc; mà hãy cùng nhau đi vào vùng trời “truyện kể” rất dễ nể ngõ hầu nay mai mình sẽ không còn khóc nữa mà chỉ suy-tư nhiều về các sự-kiện tuy dễ-khóc nhưng không buồn, như sau:

Con người sợ những cái gì mập mờ, không rõ ràng.Khi gặp những cái không biết rõ, họ thường hay tưởng tượng, mà xu hướng thường là nghĩ đến những cái đáng sợ nhất.
Cũng có thể do bản năng tự vệ của con người, họ nghĩ ra như vậy để cảnh báo bản thân trước mối nguy hiểm nào đó.

Chuyện cận tử, thân trung ấm, lúc vừa mới chết thì hồn bay lơ lửng đâu đó, rồi vào đường hầm thấy toàn ánh sáng chóa lòa, gặp lại bà con đã chết từ lâu, kêu réo nhau la ới ới, chuyện đầu thai lại, chuyện tái sinh, chuyện ma quỷ, và còn nhiều thứ lắm lắm…có thật hay không có thật chẳng có ai biết được hết. Tin hay không là chuyện riêng của mỗi người.

Có người còn so sánh sự chết cũng không khác gì giấc ngủ mỗi đêm. Tối ngủ, mình chẳng còn biết gì hết, hổng khác gì như mình đã chết rồi. Sáng ra thức dậy như được tái sanh trở lại, sống thêm một ngày nữa. Mừng hết lớn.

Vậy sợ chết là sợ những gì mình không rõ, những gì bí mật mình chưa biết được.
Người ta sợ chết vì sợ thân xác bê bết máu me, nát bấy, xấu xí đi, sình thúi ghê tởm quá.

Trường hợp những giây phút trước khi phi cơ lâm nạn lao xuống đất chắc hành khách phải hãi hùng kinh hoàng tột độ. Đây là một thí dụ rõ rệt nhất về sự kiện sợ chết.
Có cả trăm câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu giải đáp nào hết về sự chết. Mọi người cứ tưởng tượng thế nầy thế nọ cho nên thiên hạ vẫn còn lo và vẫn còn sợ chết.

Người đời thường nghĩ rằng hễ chết là hết, là trống không, là rơi vào vực thẩm âm u, là hư vô, tĩnh lặng. Chết rồi thì mình sẽ đi về đâu sau đó, rồi mình sẽ ra sao? Bởi vậy nên ai ai cũng đều sợ chết lắm.
Ai cũng phải có ngày chết hết. Đây là một sự thật. Chạy đâu cho khỏi. Đây là điều chắc chắn 100%, thật rõ ràng và là lẽ công bằng của trời đất..
Nhà chánh trị Benjamin Franklin (1706-1790) có nói một câu để đời: «Trên cõi đời nầy có hai việc không thể tránh khỏi được, đó là cái chết và thuế má.»

Nhận-định thế rồi, người kể hôm nay, lại nói tiếp đôi điều rất “vô thường” bằng một truyện kể khác, như sau:

“Cuộc đời thật vô thường, vậy phải biết trân quý sự sống. Thù hận, tranh đua, phân biệt, cố chấp, ganh tị, suy bì, hơn thua nhau từng tiếng, từng lời, từng chút một rồi cuối cùng cũng phải chết mà thôi.

Đến lúc đó thì ăn năn hối cải, than khóc, kể lể, luyến tiếc… làm chi cho mất công, muộn màng rồi bạn ơi. Tại sao hồi còn sống không biết sống cho hòa thuận, thương yêu nhau, giao hảo nhau trong tình người,biết thông cảm và tha thứ cho nhau?
Mọi người đều đến cõi đời nầy với hai bàn tay trắng, thì lúc ra đi cũng chỉ với hai bàn tay trắng mà thôi.

Tuy biết vậy nhưng vẫn lo, vẫn sợ. Ai ai cũng đều biết như vậy, nhưng hễ sao mỗi khi nghĩ đến chết thì thấy rờn rợn và hơi lo một chút. Bằng mọi giá họ phải níu kéo sự sống lại. Bỡi lý do nầy mà ngày nay khoa học đã sáng chế ra vô số kỹ thuật để kéo dài thêm sự sống... Nào là kỹ nghệ thuốc trường sanh, nào là kỹ nghệ ngâm xác trong khí lỏng liquid nitrogen để chờ ngày tìm ra thuốc trị liệu để tiếp tục…sống v.v…

Người ta sợ chết vì sợ mất người mình thương, sợ xa lìa người thân, bạn bè, xa lìa vợ con, chồng con, sợ không ai nuôi con mình, sợ rồi đây tụi nó sẽ...sống ra sao?, sợ mất đi cái tôi cùa mình, sợ mất hết tài sản của cải mà mình đã thật sự khổ công tạo dựng được trong suốt cả cuộc đời, cũng như sợ chưa thực hiện được những hoài bão mà mình hằng mong ước, và sợ bị lãng quên, v.v... (trích điện-thư của một bạn khác đạo từng gửi trên mạng rất ê hề, nhiều vô kể)

Biện-luận ra sao cũng đặng. Hát và nói thế nào cũng chẳng sao. Duy có điều, là: có kế hoặc hát nhiều cho lắm, ta cũng nên nhớ lại lời vàng của thánh-nhân hiền lành từng dặn dò mọi người bằng một chú thích, như sau:

Đức Giêsu liền khóc.
Người Do-thái mới nói:
"Kìa xem! Ông ta thương anh Lazarô biết mấy!"
Có vài người trong nhóm họ nói:
"Ông ta đã mở mắt cho người mù,
lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư?
(Ga 11: 354- 37)   

Có khóc được, hoặc được khóc như Đức Giêsu khi xưa hay không, thiết tưởng ta vẫn nên ca và hát ý/lời của người viết nhạc từng ê a, ca rằng:

Tiếc nhớ mấy cũng thêm thừa
Yêu đương biết nói sao cho vừa
Cuộc tình đó để em vui đùa
Đọa đày đó, giờ đã đến mùa.”
(Lê Hựu Hà – bđd)

Hát xong rồi, giờ đây hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ hiên ngang đứng thẳng để nghe tiếp những điều như thế diễn ra bằng các sự kiện trong đời, rất con người.
  
Trần Ngọc Mười Hai
Thật cũng chẳng hơn ai
Nhưng vẫn cứ phiếm để còn nhớ và thương
Những “quan tài buồn”
Thuộc tầm cỡ rất Giuđa Iscariốt.