Saturday, 30 June 2012

"Có những niềm riêng, làm sao nói hết”

Chuyện phiếm đọc trong tuần Thứ 14 Thường niên Năm B 08.7.2012

"Có những niềm riêng, làm sao nói hết”
“Như mây như mưa, như cát biển khơi.”
(Lê Tín Hương – Có Những Niềm Riêng)
(Ga 10: 17-18)
            Niềm riêng ấy, nếu em lại coi như mây mưa/cát biển rồi giữ nó trong lòng chẳng nói ra thì có ma nào dám biết. Niềm riêng này, phải là niềm rất chung của anh/của chị, là niềm gì đó vẫn muốn tỏ cho mọi người khắp nơi biết mà thông cảm. Có thế mới là tình đồng Đạo, vẫn rất vui. Phải thế không bạn? Phải thế không tôi? Tôi hay bạn, vẫn là dân con nhà đạo cứ ê hề, ngoài phố chợ. Đó có là nỗi niềm riêng tây chung đụng, mà  báo/đài vừa  đưa vào thị trường chữ nghĩa, rất mê ly, ly kỳ, nhiều cuốn hút?
            Niềm riêng hay chung ở đời, chả biết có cuốn hút không, mà sao nghệ sĩ vẫn bày tỏ thật rất rõ:

“Có những niềm riêng, làm sao ai biết
Như trăng trên cao, cách xa vời vợi.
Có những niềm riêng, lệ vương khóe mắt
Như cây sau mưa, long lanh giọt sầu
Có những niềm riêng, làm tim thổn thức
Nên đôi môi xinh, héo hon nụ cười”
(Lê Tín Hương – bđd)

Hôm nay đây, bần đạo muốn mời bạn/mời tôi, ta thử đi một vòng xâm nhập địa hạt nhà đạo xem thử sự thể về “những niềm riêng” ra sao mà báo đài nói nhiều thế. Nói, như nhận định bên dưới:

“Vừa qua, tôi được yêu cầu thuyết trình một bài về ngôn ngữ truyền thông đại chúng cũng như suy tư phẩm bình về tầm nhìn của ngành truyền thanh/truyền hình ngày nay. Đây là đề tài mà tôi chưa hề nghĩ tới, nhưng thấy khá hấp dẫn nên không thể bỏ lỡ cơ hội mà không bàn.

Theo thiển ý, thì nhiều người vẫn cứ để tình cảm của họ chuyển mình theo gió đong đưa từ các khuynh hướng rất khác biệt. Những khuynh hướng có ngoại hình khuynh loát như các buổi diễn trên truyền hình đại để trình bày về: quần áo, cảnh trí, nhạc điệu hoặc cảm giác mơn trớn lẫn nhau do hai nhân vật mà khán giả ưa thích cứ gọi là ở bên nhau làm chuyện lạ. Thật ra thì, khán giả bị đánh động cũng không nhiều về chủ đích của buổi diễn. Cũng chẳng được bao người bỗng nhiên dừng lại mà xét xem những chuyện như thế nếu xảy đến với mình, thì thực tình mình thấy thế nào.      

Thực tình mà nói, bên trong và đằng sau các buổi diễn như thế, vẫn có cái-gọi-là bẫy cạm mở ra cho con mồi là người thưởng lãm ở chỗ: khi tự cho phép mình ngồi xuống thưởng thức mà lại không để mắt xâm nhập tình huống dễ kích bốc như thế. Thưởng thức buổi diễn như thế lại chẳng màng tự hỏi lòng mình xem có bao giờ mình lại học đòi bắt chước các nhân vật ấy mà xử sự trong đời?” (x. Katie Hinderer, TV and the manipulation of emotions, MercatoNet 19/5/12)

            Hỏi như người viết ở trên, cũng là hỏi và nói như nghệ sĩ nhà mình vẫn từng hát:

Này niềm riêng như nước vẫn đầy vơi
Đâu đây vang vang tiếng buồn gọi mời
Ôi nỗi sầu đong chất ngất
Như một ngày như mọi ngày
Như vạn ngày không thấy đổi thay.”
(Lê Tín Hương -  bđd)

            Niềm riêng người thưởng lãm, nếu có hỏi, chắc cũng chẳng bao giờ có được câu trả lời, cho đúng cách. Bởi, như người nghệ sĩ đã diễn bày, thì niềm riêng của mỗi người, dù người ấy có là nghệ sĩ hay giáo chức, thuyết trình viên, niềm rất riêng của họ vẫn cứ là “nỗi sầu đong chất ngất”, hoặc “đâu đây vang vang tiếng buồn gọi mời.”
Và, nhà thuyết giảng, thấy không có người ứng đáp vấn đề mình đặt ra, lại diễn tả thêm lần nữa, mà rằng:

“Mỗi năm, tôi thường có một số các buổi thuyết trình về truyền thông xã hội. Người dự thường đa dạng, đủ loại hình. Nhưng, mục đích của buổi thuyết vẫn là một. Một ưu tư/trăn trở để thuyết phục mà nói rằng: Truyền thông xã hội là công cụ rất có uy lực nếu ta biết sử dụng nó đúng cách, sẽ thấy tốt.

Cử toạ của tôi, thường là giáo chức trung học, cùng giới trẻ tuổi “teen”, các bậc cha mẹ, cũng như nữ giới sinh hoạt ở trường lớp. Tức, thế hệ trẻ ngày nay đang sử dụng hệ truyền thông rất đại chúng. Mỗi người mỗi cách, đều tiếp cận buổi diễn theo cung cách riêng tư, khác ý. Bậc cha mẹ hoặc giáo chức thường gióng lên quan niệm phản đối. Các vị này, thường coi truyền thông đại chúng như những tổ chức cứ mất thì giờ đeo đuổi những chuyện vô bổ, rất hỡi ôi. Các vị lại còn tin rằng truyền thông đại chúng nói chung phá hoại tình bằng hữu khi họ nhất quyết đòi định nghĩa lại chữ tương quan theo cung cách tệ hại. Và cứ thế lại cứ thế.

Tôi hoàn toàn đồng ý với quý vị về chuyện này, nhưng với tôi, thì truyền thông đại chúng cũng có điểm son của nó đấy chứ. Nói cho cùng, thì dù có là Facebook, Twitter, Instagram, LinkedIn hay gì gì đi nữa, chúng vẫn chỉ là công cụ mà thôi. Mà, đã là công cụ, thì tốt hay xấu cũng tuỳ cách ta đặt nặng lên đó, chứ không do bản chất của chính nó. Sự hiện diện của truyền thông xã hội tự nó không có nghĩa xấu/tốt hoặc dữ/lành mà chỉ tuỳ cung cách ta dùng nó để làm gì, có thế thôi.” (x. Katie Hinderer, Social media for the good – it’s a decision, MercatorNet 20/5/2012)

            Nói gì thì nói, vấn đề là bạn và tôi, ta có “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” với lập trường của thuyết trình viên Katie Hinderer mà thôi, không? Đồng thanh hay đồng khí hay không, cũng nên nghe thêm một ý kiến phản hồi do một người mang tên Alex ở Mỹ đã có lời bàn như sau:

“Theo tôi nghĩ, điều dễ thấy nhất ở xã hội ta sống hôm nay là: càng ngày thiên hạ càng có những cách thức để trao đổi/đả thông với nhau bằng nhiều cách. Người cao niên chẳng hạn, lâu nay cũng quen dần với lối ấy. Cũng tựa như thời kỳ xuất hiện điện thoại phổ biến rộng rãi để thay thế cho điện tín. Nói cách khác, điện thoại là một thứ điện tín có phát tiếng những hai chiều. Dĩ nhiên là, khi sử dụng điện thoại, thiên hạ mất nhiều thì giờ và lời nói hơn là chỉ viết vài giòng chữ để thông tin. Có điều hay, là: Twitter đã giúp con người quay trở về với thời đại điện tín biết nói. Vâng, đúng thế. Ở đây nữa, bạn có thể sử dụng phương tiện truyền thông này thường xuyên hay không là tuỳ bạn. Cũng tựa như mọi thứ trong đời, bạn vẫn có thể mất thì giờ nhiều ít với nó, cũng như có thể tìm thấy cái hay ở trong đó. Có người dùng nó để học hỏi nhiều thứ, như một số vị đã và đang hưởng lợi từ truyền thông đại chúng, giống như vậy. Đó là thiển ý của tôi. Bạn vẫn có quyền suy nghĩ và nhận định một cách khác.” (x. bđd)

            Đó là ý kiến/lập trường của người đời, sống ngoài đời. Tức, những người có tự do chọn lựa lối sống cũ/mới, hay/dở ở mọi nơi. Có những nơi, như nhà Đạo mình, nay cũng thấy được “niềm riêng” ấy, như lời than thở ở nhạc bản mình vừa nghe:

Có những niềm riêng lòng không muốn nhớ
Nhưng sao tâm tư cứ luôn mộng mơ
Có những niềm riêng gần như hơi thở
Nuôi ta cô đơn nuôi ta đợi chờ.”
(Lê Tín Hương – bđd)

            Vâng. Ý kiến là ý kiến của riêng ai. Lập trường là lập trường của một người. Dù bạn/dù tôi, ta có đồng ý hay không với lập trường và ý kiến khác là “niềm riêng” ấy, cũng vẫn thấy nó nảy sinh khắp chốn. Như chốn nhà Đạo ở Sydney, nay cũng có đấng bậc vị vọng từng đặt vấn đề, như sau:

“Vừa qua, mục “Thần Học Qua Bia Bọt” trên tuần báo The Catholic Weekly ở Sydney có đăng tải đề nghị của Đức ông Paul Tighe, Thư ký Ủy Ban Giáo hoàng Phụ Trách Truyền thông Xã hội, đã nhắn nhủ giới trẻ tụ tập hôm ấy, ngày 3/5/2012 ở câu lạc bộ Công giáo Sydney, rằng: ‘Các bạn nên phụ với chúng tôi giúp đem niềm tin từ thế giới của chúng tôi đến thế-giới son trẻ của các bạn.

Sau khi khuyến khích giới trẻ hãy bắt chước gương lành của thánh Gioan Tẩy Giả trong sinh hoạt mục vụ. Bởi, thánh Gioan Tẩy Giả là vị thánh luôn dẫn dắt mọi người đến với Đức Kitô vì Chúa là người bạn đích thực của mọi người trong đời, già hay trẻ.

Đức ông Paul Tighe nói: “Tôi nghĩ ta nên sử dụng ngành truyền thông mới mẻ hiện nay không phải để nó dìu dắt ta trong cuộc sống, mà là để ta đến với những gì thiết thực hầu đem đến cho ta hy vọng và sức sống, đó là Đức Kitô Giêsu. Ta sử dụng ngành truyền-thông xã-hội về lâu về dài, nhưng cũng nên đề cao cảnh giác vì những chuyện như thế cũng rất hạn chế. Phải quan niệm truyền thông là nơi để ta liên hệ mà thôi, vì ta không thể mãi đi sâu vào đó được.” (x. Jessica Langrell, Mons Paul Tighe and New Media, The Catholic Weekly 20/5/12 tr. 28)

            Truyền thông đại chúng rúng động cả xã hội có là “niềm riêng” hay không, cũng chẳng rõ. Chỉ rõ có một điều, là: ngày nay truyền thông đại chúng đã và đang sử dụng các phương tiện rất thời thượng. Nó lôi cuốn con người đến độ, người bàng quan như tôi hoặc như ba, ta vẫn không thể nào đứng ngoài để phê phán, hoặc phản bác. Nó vẫn ăn sâu vào tận thâm căn của mọi người, như lời nghệ sĩ còn muốn nói:

Có những niềm riêng một đời giấu kín
Như rêu như rong đắm trong bể khơi
Có những niềm riêng một đời câm nín
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi.
(Lê Tín Hương – bđd)

            Với truyền thông hôm nay, “niềm riêng một đời giấu kín”, cũng như “rong rêu đắm trong bể khơi”. Đắm và chìm, rồi lại câm nín. Thế nên “khi xuôi tay, còn chút ngậm ngùi”, rất buồn và cũng tủi. Buồn hay tủi, vẫn là những niềm rất riêng tây của nhiều người, trong cuộc đời.
Nỗi niềm ấy, có buồn và có tủi, cũng chỉ là niềm riêng trong chốc lát, rất ngắn hạn. Bởi, dù có là niềm rất riêng tây, chắc cũng ngắn. Bởi, đời người, đâu chỉ có thế và mỗi thế. Càng không thể như thế, nếu người người biết định hướng nỗi niềm rất riêng của mình chung cùng niềm với vui của Đấng Thánh Hiền từng kinh qua nhiều giai đoạn ở đời người, vẫn rất “người”.
Về những niềm riêng mà chung/chung mà riêng của ai đó, bần đạo nhớ về ý tưởng của đấng bậc nọ ở Úc, từng tưởng nhớ về “niềm riêng” của một người đã cùng chung thân phận của Đức Kitô chịu đựng sự buồn tủi của cuộc sống giống như Chúa. Đấng bậc ở Úc, là bậc vị vọng từng dấn thân rất nhiều năm trong công tác điểm phim và sắp hạng các loại phim trình chiếu ở hiện truờng, là: Lm Richard Leonard sj có giòng chảy suy niệm Tin Mừng về niềm Thống Khổ rất riêng của Đức Chúa, như sau:

Mấy năm về trước, tôi có dịp xem nghệ sĩ bi hài Dòng Tên, là Michael Moynahan trình diễn vở kịch câm mang tựa đề “Bi hài và nỗi niềm thống khổ rất riêng tây”, kể về giờ phút cuối của Đức Kitô ở trần thế. Vào kịch, là sự xuất hiện của một anh hề với nụ cười quên tắt trên môi. Anh biểu diễn các màn tung bóng ngay trước mặt khán giả, rất đẹp mắt. Tiếp đó, là cảnh đám quân binh bước đến, dẫn Đức Kitô ra trình diện bá quan thiên hạ; để rồi, bọn họ đóng đinh Ngài lên khổ giá hình chữ thập. Tay hề chứng kiến cảnh tượng đầy kịch tính ấy với nỗi niềm xao xuyến, rất hãi sợ. Khi thấy Đức Kitô thực sự đã chết, đám quân binh ra về, không đợi gì. Nhưng, tay hề vẫn nán lại, ngồi bệt dưới chân khổ giá. Anh ta bắt đầu gỡ bỏ các dấu đinh còn sót nơi tay và chân Chúa. Xong đâu đấy, anh đặt thi hài của Chúa nằm sõng lên đùi anh, hệt như bức tranh “La Pietà” nổi tiếng của nhà điêu khắc Michel Angelo.
Tay hề xót xa, rơi nước mắt khi phải chứng kiến cảnh tượng Đấng Chí Công bị đóng đinh trên khổ giá, hình chữ thập. Cùng lúc ấy, đám quân binh quay trở lại, thấy tay hề còn ngồi đó thẫn thờ khóc cho thân phận của Đức-Chúa-làm-người. Chúng vực xốc anh dậy, đóng đinh anh lên cây thập tự thay cho Chúa. Tay hề rất đau đớn, chịu đựng được một lúc, rồi cũng trút hơi cuối cùng trên cây thập tự bằng gỗ cứng, sần sùi nhiều chỗ. Khi đoàn quân binh đi rồi, Đức Chúa trỗi dậy, Ngài về lại với sự sống khác thường, cũng rất mới. Ngài hướng mắt nhìn anh hề đã từng chịu chung cùng một thân phận khổ ải như Ngài, bèn đến gỡ bỏ các đinh khoen đóng xác anh, rồi đỡ anh xuống. Ngài ôm gọn anh vào lòng và để như thế mãi.
Xem trình diễn vở kịch câm hôm ấy, tôi thấy như có tiếng thở dài rớm lệ, ở đâu đó nơi người dự khán. Chẳng ai trong họ, lại cứng lòng đến độ trơ như đá; không nhỏ đến một giọt lệ ướt mi, trước bi hài kịch đầy xót thương, ai oán đến như thế. 
Thật ra, chữ “xót thương” là cụm từ lấy từ tiếng “Compati” bên La ngữ, mang ý nghĩa chịu đựng, khổ ải. Tuyệt nhiên, cụm từ này không mang ý nghĩa thương hại, đồng cảm; hoặc san sớt nỗi buồn bực, nào hết. Cũng thế, cụm từ “xót xa”, “buồn tủi” bên tiếng Việt lại bao hàm lập trường xa cách, đứng ngoài, chẳng mảy may dính dự đến kinh nghiệm bản thân; hoặc, chỉ là cảm xúc rất riêng tây hướng vào trong. Cụm từ ‘xót thương’, mang nặng một ‘cảm xúc’ của người đồng cam đồng chịu, cùng một thân phận. Thân phận, mà Vị Mục Tử Nhân Hiền đã gánh lấy cho Ngài. Và, đây cũng là ý nghĩa đích thực của mùa Phục Sinh, vào mọi ngày.
Giả như, ta xứng đáng để trở thành người dấn bước theo chân Chúa, hẳn ta cũng sẻ san cùng một tâm trạng ngày Thứ Sáu Chịu nạn, như thế. Tuy nhiên, Phục Sinh trong cuộc sống không mang ý nghĩa riêng tư, nhưng thật rõ nét. Ý nghĩa đó, là: Chúa Cha đã trung tín với Con Một của Ngài thế nào, thì Ngài cũng một lòng chung thủy đối với ta, hệt như thế.
Những năm tháng gần đây, nhiều đấng bậc chủ quản ở địa phương cũng bị chĩa mũi , nhìn soi mói vào khía cạnh đời sống có nỗi niềm riêng tư của các mục tử dưới trướng, mà người đời có thói quen gọi là đời sống tu đức của các ngài. Sự việc người đời quan tâm nhìn soi mói như thế, cũng chẳng có gì lạ. Vì, đời sống con người ngày nay, chẳng còn gì là nỗi niềm riêng tư nữa. Nói cách khác, với cuộc cách mạng truyền hình/phim ảnh, nói chung là truyền thông, cuộc sống “riêng tư” của mỗi người đã bị xâm phạm, soi mói.
Bởi thế nên, với người thời đại hôm nay, dấn bước theo Chúa là âm thầm nhận trách nhiệm về những gì mình đã làm và những gì mình đã không chịu làm. Dấn bước theo Chúa, là biết rõ nỗi niềm dù rất riêng tây của mình, vẫn có thể bị người đời dòm ngó, xét nét và phẩm bình không thương tiếc. Dấn bước theo Chúa, là cảm thông với nỗi niềm của Chúa khi Ngài tỏ bày với đồ đệ, rằng: “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được." (Ga 10: 17-18) (Xem Lm Richard Leonard sj, Suy niệm Chúa Nhật thứ tư Phục Sinh Năm B, Bản tin Giáo xứ Fairfield, Sydney 29/4/2012)

            Đó là quan niệm của đấng bậc nhà Đạo ở Sydney về “nỗi niềm” rất riêng và cũng rất chung của con dân Đạo Chúa. Bới, nếu ta công nhận Kitô-hữu là cành nho tháp chung vào cùng cây nho là Đức Chúa, thì nỗi niềm của Chúa sẽ là niềm riêng của mỗi người và mọi người, thôi.
            Hiểu thế rồi, nay mời bạn/mời tôi, ta tiếp tục hát ca từ rất là “niềm riêng” ở nhạc bản ở trên:
Có những niềm riêng, làm sao nói hết”
“Như mây như mưa, như cát biển khơi.”
Hát rồi, ta sẽ lại cứ thế mà vui sống, suốt cuộc đời. Của một người, giống như tôi.

            Trần Ngọc Mười Hai  
                        Cũng có niềm riêng
mọi người biết đấy.
                        Là, niềm tin-yêu Chúa dạy
sống trọn đời người, đầy chất “người”.

Saturday, 23 June 2012

"Em đến bên tôi, một chiều khi nắng phai rồi,”

Normal 0 MicrosoftInternetExplorer4

Chuyện phiếm đọc trong tuần Thứ 13 Thường niên Năm B 01.7.2012

"Em đến bên tôi, một chiều khi nắng phai rồi,”
“Nắng ngừng bên, chiếc cầu biên giới.”
(Phạm Duy -  Bên Cầu Biên Giới)
(1Ti 3: 12)
            Trong cuộc đời, rất nhiều lần, cũng có người “em” hoặc cháu chắt vẫn đến bên tôi ngỏ đôi lời. Đến, không chỉ mỗi “chiều khi nắng phai rồi”. Đến, cả vào lúc tôi buồn/chán (không như con gián) rất cần người hỗ trợ, ủi an và đỡ nâng. Nâng và đỡ, cùng giùm giúp những thứ mà cái tôi là đầy tớ Chúa cần đến, như thế đó. Thế đó, còn là tình tự của nhiều người, giống như tôi/như bạn. Chứ đâu chỉ, như ai đó vẫn cứ hát những lời nghe rất quen, ở bên dưới:

“Bên cầu biên giới
Tôi lặng nghe giòng đời từ từ trôi
Sông nước xa xôi,
Mây núi khắp nơi.
Không tỏ một đôi lời ...
(Phạm Duy –bđd)

            Vâng. Quả có thế. Một khi “giòng đời (đã) từ từ trôi”, rồi thấy những là “sông nước xa xôi”, “Mây núi khắp nơi”, thì thật ra có ma nào dám “tỏ một đôi lời”. Dù, lời đó có là lời âu yếm, thiết tha, và nóng bỏng?
            Thế nhưng, với Nước Trời nhà Đạo, thì lại khác. Khác, ở chỗ: mỗi khi có người “em” tôi hay “em” của ai đó, đến với tôi và với bạn, mà ngỏ rất nhiều lời, những lời và lẽ như ở đây, bên dưới:

“Nhưng đường quá xa vời
Hương trời vẫn mê mài
Lòng tôi sao vẫn còn biên giới!
Lòng tôi sao vẫn ngừng nơi đây?
Ôi giòng tóc êm đềm!Ôi bể mắt đắm chìm!
Đời phong sương cũ, chỉ là thương nhớ
Mộng bền năm xưa, Chỉ là mơ qua!”
(Phạm Duy – bđd)

            Thật đúng thế. Rất đúng, cả những lời lẽ nói lên được sự thể “đường quá xa vời”, rồi lại bảo: “lòng tôi sao vẫn còn biên giới”, và: “lòng tôi sao vẫn ngừng nơi đây” hay nơi đó, ở xó xỉnh nhà thờ, ở Đạo Chúa hay giữa đời, cũng rất ư là tơi bời hoa lá.

            Hôm nay đây, nói giông dài lai rai chỉ để nói rằng: giữa lòng đời lẫn nơi nhà Đạo, lại cũng có những “đời phong sương cũ”, “chỉ là thương nhớ”, “chỉ là mơ qua” thôi. Mơ, là mơ những chuyện mà bạn và tôi, ta vẫn gặp ở khắp chốn, vốn chuyện của ta và của người. Những chuyện hiện đang xảy đến với thế giới của ta và của người, như lời hỏi han của người nào đó ở Sydney, như bên dưới:

“Xin đức ngài giải thích cho bọn tôi biết, tại sao: cũng vẫn là đấng bậc thờ chung một Chúa, mà sao tôi thấy Giáo hội Công giáo theo nghi thức Đông Phương và nhóm bạn đạo bên Chính Thống Giáo lại cho phép linh mục lấy vợ sống đàng hoàng, rất ngang nhiên, bề thế? Còn linh mục Công giáo La Mã thì lại không? Sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng, trông giống như chuyện kỳ thị ở xã hội trời Tây vậy?” (Một người có hỏi nhưng không đề tên)   

            Thời xưa, ở một số nơi, hễ ai dám hỏi han/vấn nạn kiểu như trên đều được coi như hỗn láo hoặc phạm thượng, dám thách thức đấng bậc vị vọng bắt các “đức ngài” giải đáp những chuyện không cần thiết. Nhưng, hôm nay, đó vẫn là chuyện thường ngày ở huyện, rất Sydney tính khí rất Âu Úc. Sở nhắc đến Úc mình, là vì ở đây vẫn có nhiều vị không ngại chuyện kỳ thị hoặc phân biệt chủng tộc hoặc chủng gì đi nữa, vẫn cứ nhẹ nhàng trả lời theo cung cách vô tư, không hoành tráng, vẫn xứng đáng để nguời đọc để thì giờ ra nghe cho phải lẽ.  

Tuy thế, trước khi để đấng bậc trả lời, tưởng cũng nên nghe thêm lời ca/tiếng hát rất như sau:

“Người đi chưa hết hương sầu lữ thứ
Hồn theo cánh gió quên tình xa xưa
Tuổi xanh như lá thu rụng cuối mùa
Mộng về đêm đêm khát vừng trán ngây thơ.”
(Phạm Duy – bđd)

            Hát rồi, nay ta về với ý/lời nhà Đạo có lập trường “lý đoán” rất chánh đạo như sau:

“Tôi có thể nói mà không sợ sai lầm, rằng: từ thế kỷ đầu đời của Hội thánh ai cũng rõ là: các linh mục, phó tế đều có thể lập gia đình được hết. Bằng chứng là: ngay như thánh Phêrô vốn là cột trụ của Hội thánh lúc theo Chúa và sau vẫn có vợ ở gần bên, nên Phúc Âm mới có câu viết: bà gia của ngài lâm bệnh (x. Mt 8: 14-15). Và, thánh Phaolô lại cũng viết cho đồ đệ mình là Timôthê để bảo: các vị phó tế và linh mục phải là nam nhân có một vợ (x. Ti 3: 12; Titô 1: 6)

Tuy thế, thánh Phaolô lại là thừa tác viên độc thân như Đức Giêsu thày của ông là Đấng vẫn tán dương giá trị của việc ở độc thân, không lập gia đình (x. Cr 7: 25-27)

Đức Hồng Y Alfons Stickler, vốn là quản thủ thư viện và cũng là người chịu trách nhiệm lưu giữ nhu liệu trong thời gian từ năm 1985 đến 1988 và là tác giả cuốn “Trường độc thân của hàng Giáo sĩ” (nhà xuất bản Ignatius Press 1995), cho thấy dù rằng hàng giáo sĩ được phép lập gia đình vào thời Hội thánh tiên khởi, nhưng cả giáo hội Đông Phương lẫn Tây Phương đều kỳ vọng là các ngài vẫn hạn chế chuyện gần gũi với vợ mình.

Văn bản đầu tiên viết về chuyện giáo sĩ sống đời độc thân là các bản văn của Công Nghị tỉnh Elvira, miền Nam Tây Ban Nha đã đứng ra tổ chức vào năm 305. Công đồng này cấm cản toàn thể giáo sĩ tận hiến cho sứ vụ thánh thiêng trên bàn thờ -đại để như các Giám mục, linh mục và phó tế- không được gần gũi tính dục với vợ mình và không nên có con cái. Những ai vi phạm điều luật này sẽ bị cất chức ngay lập tức.

Luật này đặt ra là để hỗ trợ tập tục vẫn có từ thời trước đó, chứ không phải là qui định gì mới mẻ, nên cũng chẳng thấy ai dấy lên làn sóng phản kháng hết.

Điều luật số 3 do Công đồng đại kết Ni-xê ban hành vào năm 325 cũng đã đưa ra tiêu chuẩn hệt như thế, nhằm cấm cản hàng giáo sĩ không được cho bất cứ phụ nữ nào được gần gũi sống chung bị nghi như thế, tức những vị như: mẹ, chị hoặc em gái, cô dì, thím mợ, vv… Mọi người lúc ấy đều hiểu là các ngài có thể có vợ nhưng phải sống thanh khiết với người vợ ấy.

Nhiều Công đồng tổ chức tại Carthage vào cuối thế kỷ thứ tư cũng như đầu thế kỷ thứ năm đều khẳng định là hàng giáo sĩ nên giữ mình thanh khiết.

Giáo hội ở Phi Châu có điều khoản về giáo luật dựa trên quyết định của các đấng Nghị phụ Công đồng Carthage nhóm họp năm 419 cũng đồng thuận bảo rằng: “Một điều khiến tất cả chúng tôi, các giám mục, linh mục cũng như phó tế là ta nên giữ lòng thanh sạch, không quan hệ thể xác giữa vợ chồng để giúp các đấng bậc phục vụ bàn thánh có thể giữ được lòng khiết tịnh cách toàn hảo.” Điều này còn áp dụng cả với các tông đồ, như có nói: “điều mà các thánh tông đồ từng khuyên dạy và chính các đấng bậc khi xưa cũng từng tuân thủ, là mọi người chúng ta cũng nên hăng say tuân giữ.”

Giáo huấn của các đức giáo hoàng, như Đức Siricius viết vào năm 385 cho các giám mục thành Tarragona, nước Tây Ban Nha rõ ràng đã khẳng định việc cấm đoán các linh mục và phó tế không được có con cái, như nguồn gốc Giáo hội từng tuân giữ.

Đức Hồng Y Stickler đã trích dẫn tuyên ngôn của nhiều vị Giáo hoàng cùng các thánh và Công đồng từng đồng thuận rằng ngay từ đầu, hàng giáo sĩ đều sống độc thân, hiểu theo nghĩa không gần gũi với phụ nữ, việc này có nguồn gốc từ các thánh tông đồ, thời tiên khởi.             
Mãi sau thời Công đồng Triđentinô nhóm họp vào thế kỷ thứ 16, việc sống đời độc thân đã trở thành chuyện thông thường cần tuân thủ. Và, hội thánh chỉ phong chức linh mục cho nam nhân không có gia đình mà thôi. Từ đó trở đi, đời linh mục độc thân đã trở thành điều kiện tiên quyết như ngày nay. Điều kiện rõ ràng là: muốn trở thành linh mục, phải sống đời độc thân không có vợ. 

Thế nhưng, làm sao hàng giáo sĩ bên giáo hội Đông Phương lại được phép có gia đình và có quan hệ gần gũi với vợ mình như thế?

Trả lời câu hỏi này, cũng nên viện đến một số lý lẽ có tính lịch sử, trong đó phải kể đến các biện pháp kỷ luật được định đoạt ở cấp địa phương. Đàng khác, các đức giáo hoàng thuộc giáo hội phương Tây đều nhất loạt tỏ bày rằng các ngài không hỗ trợ mạnh cho việc này như Giáo hội Đông Phương.   

Ngoài ra, một trong các lý do khác không kém phần quan trọng là các giáo luật được Công đồng Trullo thứ hai ban hành vào năm 691-692 tại Constantinople. Công đồng này là do Hoàng đế Justinian II triệu tập các Giám mục ở Phương Đông không đếm xỉa gì đến lập trường của Giáo hội Phương Tây. Khi ấy, Công đồng Trullo đã trích dẫn sai lầm điều khoản 13 của Công đồng Carthage (năm 390), chỉ ngăn cấm các giáo sĩ có quan hệ xác thể với vợ mình khi phải lên bàn thánh mà tế lễ, tức lúc đó chỉ một tuần một lần mà thôi.

Dù các đức giáo hoàng chẳng bao giờ công nhận quyết định của công đồng này, người anh em bên Giáo hội Đông Phương lại coi đó như Công đồng Đại Kết và vì thế, Giáo hội Chính thống cho đến hôm nay vẫn cho phép hàng giáo sĩ được lập gia đình và có quan hệ thể xác với với mình.

Các giáo sĩ Công giáo Phương Đông cũng được phép theo thông lệ này. “ (x. Lm John Flader, Question Time, Tuần Báo The Catholic Weekly 20/5/2012 tr. 10)    

            Nếu là nghệ sĩ sống ngoài đời lại biết chút ít về chuyện đạo, chí ít là chuyện linh mục trong Đạo sống đời độc thân không lấy vợ, thì chắc nghệ sĩ ấy sẽ viết nhạc và hát những lời như sau:

“Ôi giấc mơ qua
Mộng đời phiêu lãng giang hồ
Sống trong lòng người đẹp Tô Châu
Hay là chết bên bờ sông
Danube
Những đêm sáng sao.”
(Phạm Duy – bđd)

            Có thể, nghệ sĩ hát những lời lẽ rất “huề vốn” ở trên là để mọi chuyện ở đời sao cho thoải mái, vô tư chứ không có tính chỉ trích, diễu cợt hoặc giúp giải quyết vấn đề. Bởi, làm sao giải quyết được vấn đề của người khác, trong khi chính mình vẫn “Ôi giấc mơ qua”, rồi cứ “mộng đời phiêu lãng giang hồ”, rồi thì “sống trong lòng người đẹp Tô Châu” hay “chết bên bờ sông Danube” rất ư là tình tứ. Tình và tứ, như nghệ sĩ ở mọi thời và mọi nơi. 

            Điều đáng sợ, ở đây là: nhiều đấng bậc vị vọng vẫn cứ sống đời nghệ sĩ trong lúc làm mục vụ, thế mới khổ. Và vì lối sống quá ư thực tế với đời người, ở đời nên mới thành chuyện. Có lẽ vì thế nên, nghệ sĩ lại sẽ khuyên:

Ngừng đây soi bóng bên giòng nước lũ.
Cầu cao nghiêng dốc bên giòng sông sâu.
Sầu vương theo sóng xuôi về cuối trời.
Một vùng đau thương chốn làng cũ quê xưa.”
(Phạm Duy – bđd)

            Nói cho cùng, thì có là nghệ sĩ hay giáo sĩ, cũng nên sống thực cõi lòng mình, trước khi chọn lựa. Bởi, khi đã chọn đời độc thân linh mục rồi, mà cứ mơ/cứ mộng như nghệ sĩ, dù giấc mơ ấy đơn thuần chỉ là mơ một đời sống vô tư trầm lắng kiểu Phương Đông rất chính thống, cũng bất tiện. Chẳng thế mà, nhiều vị đã thất bại cả trong sống Đạo lẫn cuộc đời ở ngoài đời.

Chẳng thế mà, nhiều đấng bậc bề trên vẫn cứ khuyên giới trẻ nên đắn đo suy nghĩ trước khi có chọn lựa. Chí ít là chọn và lựa một cuộc sống ở đời, rất để đời. Để cho đời người biết người đời cũng có nhiều bậc, nhiều đấng sống khác mình. 

Tuy nhiên, nếu có vị nào đó vừa sống đời linh mục nhưng có vợ theo kiểu Giáo hội Đông Phương, thì cũng nên trao cho nhau những kinh nghiệm “để đời” về cuộc sống không-còn-độc-thân nhưng vẫn mang dáng dấp rất thanh và khiết như đời linh mục. Chuyện ấy có thật chăng? Đã xảy ra ở nơi đâu? Khi nào? Phải chăng, đó chỉ là tiếu lâm chay, rất “huề vốn”.

Bần đạo đây chưa có kinh nghiệm về cuộc sống giống như thế. Nhưng cũng nghe biết khá nhiều truyện kể, nay đồng thuận kể lại cho bầu bạn nghe để thư giãn hay minh hoạ, hoặc sao đó, chỉ như một đề tài để phiếm. Phiếm lai rai, phiếm dài dài với những truyện về má vợ má chồng, hoặc bố chồng, bố vợ, rất giản đơn như sau:

“Thư gởi má vợ   
Thưa má, trước hết con xin ngỏ lời cám ơn má vì đã sinh ra và dày công nuôi nấng đằng đẵng hai mươi mấy năm trời con gái của má, để rồi sau đó ưng thuận gả cho chàng rể hiền lành là con đây.
Nhớ ngày bước chân lên xe hoa, vợ con khóc rấm rứt khiến phấn son nhòe nhoẹt. Y chang với câu thành ngữ “Khóc như thiếu nữ ngày vu quy”, khiến nhiều người đưa dâu cũng mủi lòng “rưng rưng ngấn lệ” ăn theo. Thời gian đầu, sau khi mới về nhà chồng, vợ con ra vẻ “mèo nhỏ” nhu mì, ngây thơ tựa như “con nai vàng ngơ ngác”. Nhưng má ơi! niềm vui và hạnh phúc ấy chưa tày gang, thì “bão” đã ập tới, để rồi cái vụ rơi lệ sau đám cưới đã chuyển hệ sang cho con.
Má đâu có biết rằng, “con mèo nhỏ” giờ đây đã đột biến gien hóa thành “gấu mẹ vĩ đại”. “Con nai vàng ngơ ngác” ngày nào đã không còn nữa, mà hiện hình thành “sư tử Hà Đông” cực kỳ đáng sợ. Lúc nhỏ, má đẻ của con dạy: “Phải luôn thành thật với mọi người”, con đã tuân giữ điều ấy cho đến khi lớn khôn. Nhưng má vợ ôi, sau khi cưới vợ rồi, con không thể thực hành lời dạy ấy được, vì vợ con không bao giờ biết chấp nhận “sự thật mất lòng”.
Lần gần đây nhất, vợ con hỏi ý kiến về bộ đồ mới mua về. Con dại mồm dại miệng nhận xét: “Trông không hợp với dáng em, màu sắc cũng quá lòe loẹt”. Ngay lập tức nhận được “ánh mắt mang hình viên đạn” cùng lời đáp trả: “Đúng là người không có óc thẩm mỹ!”. Những khi muốn mua bất cứ món đồ gì, con cũng chỉ dám nói một nửa giá mà thôi, nếu không muốn bị chê “khôn nhà dại chợ”. Do vậy, để “thần khẩu không hại xác phàm”, con phải thường xuyên nói dối.
Tiếng là chủ hộ, nhưng thực tế trớ trêu là toàn quyền quyết định lại nằm trong tay vợ con má ạ! Tiền lương mang về không được thiếu 1 xu. Đi đâu ngoài giờ làm phải báo cáo nơi đến và giờ về. Đi nhậu thì “cấm không được say”; điện thoại lúc nào cũng phải mở, để... nhận chỉ đạo từ xa.
Nhà thơ họ Đỗ đã khẳng định: “Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi...”, hình như ông ấy hơi bị lầm rồi, vì hiện tại con có tới 3 bà má lận! 1 là má đẻ, 2 là má vợ và 3 là... “vợ má”. Với má và má đẻ của con thì con có sai sót cũng không bị chấp trách. Nhưng với bà “vợ má” chỉ cần trái ý, lỡ lời là xem như “xong phim”, không bị bầm giập mới là chuyện lạ.
Túm lại, con viết thư này nhằm mục đích kêu gọi sự giúp đỡ, ý kiến tư vấn từ nơi má. Má có cách nào để hạn chế bớt sự “tăng trưởng” quá nhanh của vợ con không? Có giải pháp gì để “hoàn nguyên” cô vợ nhu mì như thuở mới về nhà chồng không? Rất mong má kịp thời đưa ra giải pháp, nếu không, rể của má khó sống sót qua hết con trăng này...
                        Thư hồi âm cho con rể 
Con à,
Trước hết má cũng xin ngỏ lời cám ơn con đã chịu khó viết thư vấn kế má về vấn đề con vợ của con tức con gái của má. Con hỏi bao nhiêu thì má đây trả lời bấy nhiêu. Trước khi trả lời chi tiết những vấn đề con đưa ra, má xin đưa ra một sự kiện tổng quát,  thời đại bây giờ là thế kỷ thứ 21, dù ở phương đông hay tây,  những chuyện của thế kỷ 19, 20 đã Xưa Như Diễm rồi con ạ.
Nếu con nhớ được điểm quan trọng này thì con sẽ thấy những câu trả lời của má chí  lý  để rồi con vui vẻ chấp nhân cuộc sống an phận thủ kỷ của một đấng nam nhi với con vợ của con.
                        Thôi má trả lời từng điểm một cho con nhé.
            Cùng là “khóc như thiếu nữ ngày vu quy” nhưng  thời nay khác hẳn thời xưa con ạ.  Tuy cùng nhạt nhòa phấn son , nhưng ý nghĩa trái ngược hẳn nhau. Ngày xưa người con gái đau lòng nhỏ lệ ….vì xa cha mẹ, không còn sớm chiều hầu hạ cha mẹ mình. Còn thời nay má biết vợ con rơi lệ …vì phập phồng  lo sợ chuyện tương lai với con…. Phận gái mười hai bên nước con có phải là người chồng tốt chăm lo cho nó như má đã suốt hai mươi mấy năm đằng đẵng lo cho nó hay không…?
Nếu con vẫn chiều chuộng nó, nghe lời nó… như thời gian con theo đuổi xin cầm bàn tay nó cùng con đi vào cuộc đời đầy rẫy chông gai thì đương nhiên nó vẫn ngây thơ tựa như con nai vàng ngơ ngác, làm gì có chuyện bão táp ập tới hả con ?
Chính con đây mới  là người thay đổi, sống thật con người của con, thì vụ rơi lệ chuyển hệ sang con, con mèo nhỏ  đổi Gene  thành gấu mẹ vĩ đại , con nai vàng thành sư tử Hà đông  là chuyện phải đến thôi. Tiên trách kỷ hậu trách nhân nhe con.
Má đẻ con dậy phải luôn thành thật với mọi người , theo má nghĩ con đã làm sai lời má con dậy, thần khẩu hại xác phàm,  từ lúc con theo tán tỉnh nó chứ không phải sau khi con cưới nó về con mới thành chuyên viên nói dối hơn cuội, như con than đâu.
                        Con nhớ lại xem….
            Thời kỳ lãng mạn chưa cưới, có bao giờ con nhớ lời mẹ con dậy, thật thà đưa nhận xét về mầu sắc quần áo vóc dáng của  nó  không ? Hay là con say đắm nhìn nó, nói cứ như thật, khen tưới hột sen … để rồi chính con ruột gan phèo phổi gì cũng lâng lâng sung sướng khi được nó nhìn con với  ánh mắt lung linh không hằn dấu vết một viên đạn nào, và khen con là người có óc thẩm mỹ….hợp Gout với nó ?
Nếu con chịu khó tìm hiểu giá cả những món đồ con muốn mua thì sẽ không bị mua hớ  thì đâu phải nói dối. Hay là con mê mẩn nhan sắc của các cô bán hàng nên ra tay hào phóng, chi tiền rộng rãi, tình nguyện bị cắt cổ …? Nó không chê con là khôn nhà dại chợ mới là chuyện lạ.
Nó là vợ con nên mới lo lắng tiền bạc cho con, giữ kỹ tiền hộ con…đó là trách nhiệm của người vợ, phải giúp con.. Con gửi người khác khi con cần đến liệu có lấy lại được dễ dàng như con xin lại tiền từ vợ con không ? Với vợ thì đương nhiên cũng dễ hơn một chút đó con ạ. Con không có tiền nhiều trong túi thì không bị sa chân lỡ bước với đàn bà con gái. Đi chơi với bạn không phải móc túi ra trả mà lòng vẫn bình an cho người dưới thế. Má bảo đảm nếu con cứ để vợ con quản lý chặt chẽ tiền bạc của con như vậy thì khi về già con có gia tài để lại tốt hơn là lâu lâu được đưa tay ra nhận tiền báo hiếu của con cái .
Chuyện báo cáo với vợ đi đâu, mấy giờ về, điện thoại lúc nào cũng phải mở để lãnh chỉ thị thực hành công tác…  là chuyện lịch sự với vợ  . Người chồng yêu vợ, ga lăng nào chẳng làm vậy sao con lại cảm thấy bị gò bó ?. Con có muốn vợ con tự tung tự tác đi đâu cũng không nói cho con biết không ? Cuộc đời vốn đã không Fair, thì chuyện con bị vợ bầm giập vì lỡ lời là chuyện nhỏ thôi con, đừng quan trọng hóa vấn đề mà tổn hại thần kinh chết sớm.  
Má đồng ý với nhà thơ họ Đỗ  “Mỗi người chỉ một mẹ “, con gọi má đẻ con và má là má thật đấy, đấy chỉ là danh xưng thôi. Trong cuộc sống hàng ngày trong bao nhiêu năm trời, trước khi hai con đóng dấu ấn chung thân, trên thực tế các con mới thực là cha là mẹ của hai bà má này. Một chứng cớ rõ ràng nhất là cuộc hôn nhân của tụi con, các con đặt đâu cha mẹ ngồi đó. Vậy là đời con trước sau thuận theo tự nhiên, chỉ có một bà mẹ thôi, đó là  “Vợ Má “. Quê hương là chùm khế ngọt, Vợ Má cũng là chùm khế chỉ khác là còn xanh nên chua thôi
Tóm lại lời con khẩn cầu xin má giúp con hạn chế bớt sự tăng trưởng quá nhanh của vợ con, trả lại con cô vợ nhu mì như thời gian mới cưới , má đã thao thức bao đêm trường mới nghĩ ra được một cách . Đó là con phải hoàn nguyên lại một anh chàng thanh niên yêu si khờ, lời giả dối lúc nào cũng sẵn trên môi, nàng bảo chàng nghe….em là nhất trên đời với anh….con sẽ có một gia đình trong ấm ngoài êm..
Còn nếu con cứ nhất định sống thật thà  phô  “Cái Tôi “ của con với vợ con thì má cũng chịu thua, chỉ biết cầu nguyện cho con , trông vào phước đức bao nhiêu đời của con để con được  sống sót dài dài, thêm nhiều con trăng nữa.” (x. Trần Cẩm Tú, viết trên báo điện tử năm 2011)

            Nói gì thì nói. Viết gì thì viết. Dù, bài viết của bạn có là lá thứ cho má vợ hoặc con rể, cũng vẫn đề cập đến những vấn đề thiết thực của đời người. Mà, chỉ người trong cuộc mới cảm nghiệm và chấp nhận những điều ấy mà thôi.

            Hôm nay ngồi một mình, nghĩ lại chuyện đời sống độc thân hay gia đình, đều có cái vui và nỗi bận tâm của nó. Còn lại vẫn là chọn lựa của bạn và của tôi. Mà, một khi đã chọn và lựa rồi, cũng nên đi hết quãng dài còn lại của quyết tâm. Và, chọn lựa nào mà chẳng có những qui luật riêng của nó. Có như thế mới là người nghiêm túc, đứng đắn. Và đúng đắn. 

Nói, là nói thế chứ bản thân bần đạo cũng chẳng dám có ý kiến gì, mà chỉ mơ ước sống trong đời, phải nói được như một Nguyễn Công Trứ từng ngâm nga: “Trai nam nhi sống trong trời đất, phải có danh gì với núi sông.”“Sông đây, là cuộc sống của thế gian. Rất nhiêu khê. Nhiều vấn đề.

            Và, vấn đề còn lại cũng rất tiên quyết là: ta hãy về lại với lời Kinh Sách thánh nhân từng khuyên nhủ, như sau:

            “Các trợ tá phải là người chỉ có một đời vợ,
biết điều khiển con cái và gia đình cho tốt.
Những ai thi hành chức vụ trợ tá cách tốt đẹp,
thì được một chỗ danh dự,
và được mạnh dạn nhiều nhờ lòng tin vào Đức Ki-tô Giê-su.”
(1 Tim 3: 12-13)

Được khuyên dạy thế rồi, nay hỡi bạn và tôi, ta hãy ra đi mà chọn lựa một cuộc đời. Dù đời đó có khó khăn hoặc giản đơn như cuộc sống độc thân. Hoặc như cuộc sống lứa đôi có vợ có chồng.

            Trần Ngọc Mười Hai  
            Vẫn nhủ mình
            nhủ người
            những điều vui như thế.