Saturday, 2 June 2012

“Sáng Chủ nhật đẹp, trời trong nắng mai,”


Chuyện phiếm đọc vào tuần sau lễ MìnhMáuChúa năm B 10-6-2012

“Sáng Chủ nhật đẹp, trời trong nắng mai,”
“Tiếng chim ca đùa, làm vui thú thêm.
Ôi! Chủ nhật đem tình yêu đến với nguời.”
 (Daniel Boone – Lời Việt: Sưu tầm)

(Ga 13: 34-35)

Không hiểu sao, mỗi khi nghe ai đó cất tiếng hát vang nhạc bản này, không biết tại sao trong tôi vẫn thấy nhiều điều khá lấn cấn. Lấn cấn nhất, là: cụm từ mà nhà thơ dịch từ nhóm chữ “Beautiful Sunday” của Daniel Boone ra như thế? Dịch giả nhà mình sao không dùng tiếng “Chúa nhật” thay cho “Chủ nhật” giống người thường ở huyện vẫn cứ bảo: “Ngày đẹp trời”, “trong nắng mai” là quà tặng Chúa ban, chứ đâu do ông “chủ”/bà “chủ” nào đó cho công nhân/thợ thuyền nghỉ, để rồi đám thợ của ông/của bà sẽ gọi ngày ấy là ngày của chủ, tức “chủ nhật buồn”, rất lấn cấn với dân con nhà Đạo? 

Thêm một lấn cấn khác, là: nỗi buồn “chủ nhật”, tức buồn bã ngày của “chủ nhân ông” khiến nhiều người nay không còn thấy vui như trước. Không thấy vui, như ai đó có viết ở đoạn sau đây:

Tôi hát trong ca đoàn ở Giáo Xứ Mỹ, giữ một chức rất quan trọng không thể thiếu: quét rác gác đàn và chuẩn bị sách vở. Ai cũng yêu mến nài nỉ tôi hát solo, nhưng tôi không dám mang chuông rè đánh xứ người. Dù ở Mỹ hơn hai chục năm, nhưng lỡ ăn nước mắm quê hương nên tiếng hát của tôi có chất giọng con bìm bịp gọi lục bình lững lờ trôi theo con nước ven sông quê ngoại: đục buồn ảm đạm, cứ lục cục trong cổ họng… Có người hỏi: “Sao giọng anh buồn thế ?” Tôi có dịp ca “cải lương” nửa đùa nửa thật: “Vì tận đáy sâu trong lòng tôi có một khối u buồn: nước mất nhà tan đành nương thân xứ người…
“Tuần vừa qua, sau Lễ vọng Phục Sinh, anh ca trưởng dẫn cả nhóm ra quán bồi dưỡng cho bõ tháng ngày vất vả tập luyện. Ngồi kế tôi là một em giúp lễ tuổi chừng 13, thấy mặt mày sáng sủa, dáng nhanh nhẹn tôi hỏi: “Có bao giờ em nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ trở thành Linh Mục không?” Cậu bé nhún vai le lưỡi. Tôi thấy hơi buồn.
Tôi hỏi bà dì ruột ngồi kế bên cậu: “Chắc bà cũng muốn em trở thành Linh Mục chứ?” Người dì ruột phán một câu chắc nịch: “Bố tôi bảo mày làm gì thì làm, chứ đừng bao giờ làm Nữ Tu…” Tôi hụt hẫng và rất buồn…” (x. Người Tôi Tớ Vô Dụng, Boston 4/2012 Ephata ViệtNam số 506 Chúa Nhật 22.4.2012, tr.20)

Bần đạo nghe truyện ở trên thấy cũng buồn, nhưng nghĩ lại đâu cứ phải linh mục mới là người đáp trả lời mời của Đức Chúa. Có nhiều vai trò không kém quan trọng và cũng thực thi sứ vụ Chúa giao phó, đó là vai trò của Thừa Tác Viên. Nghĩ thế rồi, bần đạo bèn quay về lập trường của đấng bậc trổi trang ở Sydney vốn có tư tưởng khá “cứng” về công việc thừa-tác cũng rất Đạo, như sau:

“Chức năng của “Thừa-tác-viên”, ta hiểu là của giáo dân có nhiệm vụ khác nhau ở Tiệc Thánh Thể, là để giúp người tham dự thêm lòng sốt sắng, long trọng. Trước nhất, là vai trò của thừa-tác-viên giúp lễ.
            Năm 1973, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục có ra tông thư “Motu proprio” có tựa đề “Ministeria quaedam” trong đó ngài đề cập đến “sứ vụ” thừa-tác giúp lễ, đọc sách thánh, trừ quỷ và giữ cửa, chuẩn bị cho chức thánh linh mục.
            Việc giúp lễ và đọc sách thánh, có thể giao cho giáo dân nay Giáo hội vẫn còn giữ và gọi đó là công việc “thừa tác”. Hơn nữa, cất nhắc các chức sắc này nay là định chế chứ không phải là “tấn phong”, như khi trước nữa.
            Tông thư của Đức Giáo Hoàng Phaolô đệ Lục cũng nói: “Sứ vụ của Thừa-tác-viên giúp lễ được đặt ra là để giúp phó-tế và để các vị hợp tác với linh mục chủ tế trong thánh lễ, đặc biệt còn cho phép các vị này được trao Mình Thánh Chúa với tư cách “thừa-tác-viên đặc biệt” khi thừa-tác thánh thể vắng mặt vì bị ốm hoặc vì lý do tuổi tác, hoặc bị ngăn trở này khác như điều 845 Luật Phụng vụ nói đến.” (xem Tông thư ở trên đoạn #6)
            Hơn nữa, thừa-tác-viên Thánh-thể ngoại lệ được gọi đến chỉ để làm công việc thừa-tác trong trường hợp linh mục chủ tế bị ngăn trở do sức khoẻ, tuổi tác hoặc lý do nào khác cũng chính đáng; hoặc khi giáo dân lên rước lễ đông quá, cần có thêm người trao Mình thánh để thánh lễ không kéo dài ngoài dự trù. Tuy thế, việc này chỉ nên làm trong thời gian ngắn thôi tuỳ hoàn cảnh và văn hoá của mỗi nơi.“ (trích Tông thư Redemptionis sacramentum đoạn 158) (xem Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly ngày 20.02.2012 tr.10).

            Phụng vụ Đạo Chúa, vẫn như thế. Như thế và như thể hơi bị “cứng”, một chút thôi. Chí ít, là khi số người “đi lễ” nhà thờ ở trời Tây độ này đà sút giảm, đâu cần nhiều người thực thi việc thừa-tác rất thánh, nơi Giáo hội! Có chăng, cũng chỉ xảy ra ở xứ miền nào đó, thôi.     
      
            Nói “cứng” theo đúng luật và lệ, là nói không khác thế vậy là mấy. Tuy nhiên, nói theo kiểu người đời ở đời người về niềm vui/nỗi buồn “ngày của Chúa” là nói giọng rất “Tây” có ý nhạc, sau đây:

            “Sáng chủ nhật đẹp, người yêu đến chơi,
             với đôi môi hồng, nàng sẽ hát ca:
            Ôi! Chủ nhật, tô đẹp thêm đôi mắt nàng.
            Hà! Ha! Há! Tiếng em đùa tươi cười
            Nhìn say đắm, mãi …mãi… trong tình yêu đầu.
            Nhìn em biết, nói! nói! bao lời cho vừa
            Ôi! Ta sẽ nguyền kề vai nhau suốt đời.”
            (Daniel Boone – Beautiful Sunday)

            Chả biết sao, Đạo mình cứ đòi bản quyền tác giả ở cụm từ “Chúa” Nhật, mà không vui. Vui sao được, khi đấng bậc mình chỉ phán và bảo những luật và luật, mà thôi. Trong khi âm nhạc mình, lại chỉ hát với ca những điều vui, như: “tiếng em đùa tươi cười”, rồi còn bảo: “sẽ nguyền kề vai suốt đời”, thế mới vui. 

            Thực thi công cuộc thừa tác ngày của Chúa, ở Tiệc Thánh, bần đạo đây chẳng là thầy tư/thày sáu bao giờ đâu, thế mà cũng được linh mục chủ tế mượn/nhờ làm thừa-tác-viên đọc sách và trao Mình Chúa, có lần lại còn được yêu cầu san sẻ Lời Chúa với bà con ở nhà thờ nhỏ có buổi lễ cũng khá lớn. Như thế thì, làm thừa-tác-viên cho Hội-thánh, là để chung vui cùng các thánh ở Tiệc Thánh, rất phụng vụ.

            Tuy nhiên, các thánh lâu nay dù quá vãng, đâu thấy buồn. Chỉ buồn một nỗi, có mỗi chuyện là: người đi Đạo hôm nay không định giá đúng mức tính sử học, vai trò và thành tựu mà các thừa-tác-viên khi xưa từng thực hiện. Thế nên, có đấng bậc nhà mình từng để nhiều giờ ra mà tìm hiểu lịch sử Đạo Chúa, thấy có điều khá “lấn cấn” nơi tâm tình người nhà Đạo, về việc này.

            Cũng thế, nay bần đạo đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta bỏ ra ba phút ngắn ngủi để về với lịch sử thánh thiêng hầu tìm hiểu chức-năng lành thánh mà nhiều vị quên đi, hoặc chẳng biết. Nói nôm na, thì: ta cũng nên điểm qua tình hình người mình nhận xét khá chính xác về lịch sử và/hoặc vai trò của một số thừa-tác-viên nữ tên là Maria Magđalêna, có lý lịch như sau:

“Trong số các thừa tác-viên nam/nữ có vai trò nổi bật và chỗ đứng hàng đầu vào thời Chúa sống phải kể đến Maria Mađalêna. Nhiều người vẫn cứ hỏi: chị ta là ai? Là, đồ đệ gần gũi Chúa hay người nữ phạm lỗi nay hối cải? Có chăng, vào thời trước, chiến dịch bôi nhọ tên tuổi bằng cách chuyển vai trò thừa tác viên gần gũi Chúa thành người nữ lỗi phạm, nay cải hối?
            “Lâu nay, ta nghe rất nhiều truyện kể về Chị là một trong số các tín hữu theo chân Chúa, và ngay đến nghệ thuật  cũng vẽ lên chân dung Chị như kẻ tội phạm, người nữ dâm dục chuyên khêu gợi đến độ coi Chị như gái điếm lúc nào cũng mang bên mình hũ dầu thơm, để bôi/xức.
“Tin Mừng thánh Luca đoạn 7 kể rất rõ về “bữa ăn tại nhà một Biệt Phái có mời Chúa đến dùng. Lúc ấy, lại có một phụ nữ, người tội lỗi (tức gái điếm trong châu thành) cũng xà tới mang theo bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị có cử chỉ khiếm nhã, thực hiện những động tác như nghi thức lạ, là: sờ chạm chân Ngài là nam giới (một việc chỉ được phép làm với cha hoặc chồng mình thôi). Chị xả dầu vào chân Ngài, xoã tóc trên đầu lau khô dầu ấy, khiến mọi người kinh ngạc trước hành xử khiếm nhã….” Nhưng Đức Giêsu kể lại chuyện ấy và biến nó thành một dẫn chứng cổ điển về tính hiếu khách.
“Các thánh tổ phụ trong Giáo hội tìm hiểu nhiều về trình thuật này và khẳng định rằng Maria Magđalêna chính là người nữ lăng loàn đổ dầu thơm lên chân Chúa và cũng là nữ phụ bị bắt quả tang đã ngoại tình, là một. Nhưng vấn đề là: làm sao các tổ phụ lại có được nối kết ấy. Bởi, cho đến giờ này vẫn có điều gì đó rất mù mờ về những bối cảnh mà Tin Mừng thánh Luca kể.
“Thật ra, “Maria” là tên gọi của rất nhiều phụ nữ trong dân Do thái vào thế kỷ đầu (ta biết được chuyện này là nhờ các hình/chữ khắc trên vài hài cốt ở Giêrusalem). Ngay Tân Ước cũng nhắc đến nhiều vị tên Maria. Trong đó, có Maria Mẹ Đức Giêsu, Maria mẹ của thánh Giuđa, Maria chị Martha và Lazarô; lại cũng có Maria xức dầu lên chân Chúa trong Tin Mừng thánh Gioan và Maria Mađalêna. Thật khó mà giữ được sổ bộ các Maria khác nhau như thế. Ngay sau đoạn kể về chuyện đổ dầu vào chân do một người tội lỗi làm, thánh Luca lại cũng nói đến tên của Maria Mađalêna, nhưng thánh sử lại không nói rõ người nữ phụ trong truyện kể có là Maria Mađalêna không.
“Ở đoạn khác, thánh Luca cũng lại kể truyện Đức Giêsu tống khứ bẩy ác thần ra khỏi người của Maria Mađalên, nên các thánh tổ phụ Giáo hội bèn chú giải coi đó như “7 mối tội đầu” rất trọng. Thế nên, nối kết trên bị tắc nghẽn ở đó.
“Tin Mừng thánh Gioan, lại cũng kể về nữ phụ ngoại tình không ghi rõ tên tuổi được đem đến với Chúa. Cuối cùng, Chúa phán hỏi: ai trong số những người có mặt lúc đó không có tội hãy ném đá trước đi… Và thánh sử cũng không nói rõ nữ phụ ấy có là Maria Mađalêna hay không. Ở đoạn khác, thánh Gioan lại cũng kể về chuyện Đức Giêsu được một nữ phụ tên là Maria thuộc làng Bêtania xức dầu thơm lên chân Ngài. Nhưng chắc hẳn nữ phụ này không phải là Maria Mađalêna.
Sở dĩ có chuyện Hội thánh khi trước đặt tên cho nữ phụ tội lỗi đã hối cải là Maria Mađalêna là do từ bài giảng ở Rôma năm 591 trong đó Đức Giáo Hoàng Grêgôria Cả, giảng như thế. Ngài thẩm định rằng Maria Mađalêna chính là người nữ phụ ngoại tình đã cải hối. Truyền thống Giáo hội bèn tin vào đó rồi cứ thế cả ngàn năm sau vẫn cứ giảng rao như thế ở nhà thờ; kết quả là điều này lại đã đi vào với nghệ thuật cao cả và lịch sử tệ hại. Đây chính là sự hài hoà giữa các bản văn kết tội người nào đó hành nghề đĩ điếm.
Tiếng Anh có cụm từ “maudlin” được phiên âm và diễn nghĩa lấy từ tên “Magdalen”, để chỉ thái độ tình cảm sướt mướt. Thế nhưng, chuyện phỏng đoán này lại khác hẳn những gì mọi người thấy ghi rõ trong Tin Mừng.Ở Tin Mừng, các thánh sử nói rõ Maria Mađalêna cùng đi với Chúa trong mọi hành trình. Chị còn ở lại với Ngài cho đến phút cuối trên đồi Canvariô, và cũng Chị chính là nữ phụ đầu tiên đến mộ phần của Chúa vào sáng Chúa Nhật cốt để lau sạch thi hài  Ngài bèn chứng kiến sự lạ đến độ khi Chị quay liền thấy Đức Giêsu “đứng” ngay đó (mà theo tiếng HyLạp có nghĩa là “trỗi dậy”). Chị lại là người đầu tiên thông báo tin vui Phục sinh, thôi.
Còn nữa, lại cũng theo cung cách diễn giải khác biệt, trong tài liệu lần đầu phát hiện ở Cairô năm 1896 –một cổ bản bằng da có từ thế kỷ thứ 5, được gọi là “Tin Mừng theo Maria” Maria này đích thực là Maria Mađalên. Trong Tin Mừng này có 4 trang còn nguyên vẹn, trong đó nói Maria Madalêna là thủ lãnh của toàn nhóm tông đồ và các trang đó cho thấy một lối hiểu biết rất khác về lời dạy của Đức Giêsu.
Chuyện rõ ràng, là: Hội thánh thời tiên khởi vẫn muốn loại trừ vai trò rất thực của Maria Mađalêna và để làm chuyện này, dứt khoát phải bôi nhọ hoặc bêu xấu tên tuổi của Chị và coi chị như người gái điềm đã hoàn tục.
Còn câu hỏi: đâu là lý lịch thực thụ của nữ phụ người Do thái này?
Để trả lời, thì:” tên tuổi của Chị được qui chiếu ở cả 4 Tin Mừng dưới danh xưng ‘Maria Mađalêna’. Theo tiếng Do thái và Aram cùng nghĩa tương đương bên tiếng Hy Lạp, thì tên của Chị được tả như ‘người làm đẹp đầu tóc’ mà thời nay ta gọi là ‘thợ làm đầu’
Ngoài ra, thị trấn Magđala ở vùng phía Tân miền cận duyên vùng biển Galilê, cách xa thị trấn Caphanaum chừng hai tiếng đồng hồ. Đây là làng đánh cá nhỏ, chứ không phải là chốn thị thành lịch lãm hoặc sinh tươi, mà chỉ là nơi được dùng để phơi cá. Theo tiếng Aram, thì Magđala chỉ có nghĩa như ‘cái tháp’, mà thôi.
Thành ngữ “thuộc” Magđala ở đây cũng bất thường. Phụ nữ nào có chồng thưòng được gọi tên chồng như thể Maria “thuộc về”chồng chứ không phải xứ miền, thị trấn. Điều này cho thấy thì có thể là Chị chưa lập gia đình và cũng không có con.
Xã hội Do thái phân biệt rõ ràng chức năng và vai trò của nam nhân lẫn nữ phụ. Ở đền thờ, phụ nữ ngồi ở khu vực dành riêng cho các chị, không ai được bén mảng vào “khu vực của tư tế”, tức nơi tế lễ. Nói chung, thì phụ nữ chủ yếu ở nhà lo việc nội trợ còn nam nhân mới là người ra ngoài sinh hoạt công khai.
Đức Giêsu không mấy quan tâm về những chuyện ấy hoặc Ngài từng bẻ gẫy qui định này. Tin Mừng thánh Luca có nói đến các nữ phụ như “Maria Mađalêna, Gioanna, Susanna cùng nữ phụ khác đã dùng của cải mình mà trợ giúp Ngài.” (Lc 8: 3) Điều này có nghĩa: các Chị sống độc lập với gia đình mình và cũng khá giả, dù thánh sử không muốn nói là sung túc. Nói cho đúng, các Chị là những vị có thực chất; có thể, các Chị cũng đã thừa hưởng hồi môn của gia đình. Xem ra, các Chị là những người từng theo chân Chúa và gia nhập nhóm ‘thừa tác viên’ đắc lực. Tác giả Carolyn Osiek giả thiết, là: Chị Maria Mađalêna có thể đã goá chồng, nên thừa hưởng gia tài nào đó sau khi chồng mất.
Đức Giêsu là Đấng Chữa Lành/trừ quỷ trong vùng Biển Hồ. Thế nên, trường hợp Maria Mađalêna đã bị ‘7 quỷ dữ ám hại’, nên Ngài xin Chúa Cha và nhân danh Cha Ngài cho phép tống khứ đám quỷ ấy ra khỏi Chị. Chuyện này sẽ không thể xảy ra, nếu người được chữa lại không tin tưởng vào quyền năng dũng mãnh của Đấng Chữa lành hết mọi chuyện. Và có thể, đây cũng là bước đầu của niềm tin giữa Maria Mađalêna và Đức Giêsu. Kết quả là, Chị đã trở thành người theo chân Chúa rất đắc lực và sốt sắng, mà nay ta gọi là ‘thừa-tác-viên’ trong Hội thánh.
Có điều là, giới phụ nữ sinh hoạt trong nhóm nhỏ của Đức Giêsu chẳng khi nào được gọi là ‘đồ đệ’ bao giờ hết. Để hiểu rõ điều này, có giải thích là cụm từ ‘đồ đệ’ bên tiếng Do thái gọi là “talmid” còn tiếng Aram gọi là “talmida” là từ ngữ không có giống cái. Bên tiếng Aram, ‘đồ-đệ-nữ’ lại có nghĩa khác hẳn ‘nam-nhân môn-đồ’. Với cộng đoàn thánh Phaolô, nữ giới luôn bình đẳng với nam nhân. Các Chị vẫn nguyện cầu, san sẻ mọi công tác phụng vụ và công việc của ngôn sứ nữa.” (xem Kevin O’Shea CSsR, Critical Studies of Women Linked With Jesus, tài liệu giảng huấn tại          
Đại Học Công giáo Sydney tháng 5/2011, xem thêm James Martin, Who was Mary of Magdala? America Magazine July 22/2011 và các bài viết của Jane Schaberg, The Resurrection of Mary Magdalene, Elizabeth Schussler Fiorenza, In Memory of Her.)

            Nói gì thì nói, có nói theo hoặc đúng như truyền thống của Giáo hội hoặc theo các bậc thày giảng dạy về lịch sự Hội thánh, vẫn là tuỳ động thái của mỗi người. Chí ít, là những vị nay rất khá về sử học, ngữ học hoặc Thánh Kinh học thời bây giờ. Đọc gì thì đọc, cũng vẫn là đọc để tìm hiểu về tính rất thực theo nhận thức của người thời đại vẫn tin vào Chúa cách hăng say, nhưng vẫn theo khuôn thước khoa học và sử học và đồng đều về giới tính, mới có giá trị. 

Ngoài ra, tất cả còn có vấn đề của niềm tin. Nói và đọc, chỉ để tìm hiểu rõ hơn rồi còn tin. Tin, Chúa Thánh Thần vẫn soi sáng để người người hiểu Đức Giêsu Kitô luôn là Thần Tượng của niềm tin chính đáng. Ngài là Thần Thiêng rất Chúa mà ta không cần phải đúc tượng. Bởi, có là tượng hoặc ảnh hình về Ngài chắc hẳn có giới hạn trong khi Thiên Chúa là vô hạn, và đồng thời vẫn có các thánh đồng hành với Ngài vẫn rao truyền niềm tin Thiên Chúa là Cha, qua nhiều cách thức. Và Chúa vẫn dùng mọi người, mọi đấng thánh cũng như kẻ phàm đầy lỗi tội để Danh Ngài được rạng sáng. Chói ngời. Vấn đề là: ta làm được gì để Danh Ngài cứ thế mà rạng sáng. Có làm được như thừa-tác-viên nữ bị coi là người tội lỗi nay cải hối hay không, thế thôi.     
  
Để Danh Cha rạng sáng, cũng nên dùng lời ca của người ở ngoài vẫn hát lên lời chúc tụng:

“Tình yêu đến, đến, đến đến trong lònh đôi mình.
Người yêu hỡi, nhớ nhớ đến tình yêu chủ nhật.
Ôi! Ô Ồ, ta đến cùng
vui tình yêu trong nắng đẹp.”
(Daniel Boone – Beautiful Sunday)

            Đúng thế. Một khi tình yêu đã đến trong bạn và trong tôi, hoặc trong chúng ta rồi thì tất cả sẽ là thánh nhân tuyên dương Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu sẽ cứ rạng sáng khắp muôn nơi. Rạng vào ngày Đức Kitô trỗi dậy khỏi mộ phần. Rạng, cả vào ngày Ngài hiển hiện vào dịp Ngài về với Chúa Cha để rồi gửi Thần Khí Ngài đến với mọi người vào Lễ Ngũ Tuần, ở mọi nơi. Mọi thời.

            Để minh hoạ sự rạng sáng của Thiên_Chúa-Là-Tình-Yêu với mọi người, cả người trong Đạo/ngoài đời, tưởng cũng nên về với truyện kể để minh hoạ, ở bên dưới:

“Bố câm điếc ngay từ khi sinh ra và bố xin lỗi con vì điều đó. Bố không thể nói được như những ông bố khác. Nhưng bố muốn con biết rằng, bố yêu con bằng cả trái tim mình”, lời người cha muốn nhắn nhủ tới cô con gái nhưng đã quá muộn…Vì có người bố bị câm điếc bẩm sinh nên cô gái thường xuyên trở thành mục tiêu trêu chọc của bạn bè ở trường.
Từ việc phản kháng đến gây lộn với các bạn, cô gái dần trở nên ác cảm với chính người bố của mình.
Trong khi đó, dù không thể nghe, nói như một người bình thường được, ông cũng phần nào hiểu được nỗi buồn của cô con gái mình cho dù ông luôn quan tâm, động viên, cố gắng làm con vui hơn trong mỗi bữa ăn của hai người.
Với tất cả tình yêu thương của một người cha, ông đã âm thầm chuẩn bị chiếc bánh mừng sinh nhật con gái và cùng với đó là những tâm sự ông muốn nhắn nhủ.
“Bố câm điếc ngay từ khi sinh ra và bố xin lỗi con vì điều đó.
Bố không thể nói được như những ông bố khác.
Nhưng bố muốn con biết rằng, bố yêu con bằng cả trái tim mình”.
Đáng tiếc, lời nhắn nhủ đó của ông mãi mãi không được cô con gái biết đến vì sự muộn phiền và áp lực không thể vượt qua, cô đã tự tử đúng ngày sinh nhật của mình.
Trong cơn tuyệt vọng, người bố bế thốc con tới bệnh viện, cầu xin các bác sỹ cứu sống cô con gái bé bỏng của mình dù có hết sạch tiền hay phải bán nhà với một hy vọng: “Con gái tôi, nó không thể chết”. Và cô con gái đã được cứu sống bằng những giọt máu và chính tính mạng của chính ông. Đến lúc này, cô con gái chỉ còn biết nắm tay cha và khóc…”

            Truyện kể ở trên nay đã rõ: Tình Yêu đôi lúc không được diễn tả đúng mức, nên dễ lầm. Dễ hiểu lầm, có khi chỉ một thoáng chốc. Cũng có khi, kéo dài cả ngàn năm. Tuy nhiên, có lầm lạc trong hiểu biết hoặc nhận định thế nào đi nữa, cũng chẳng nên quên lời dặn dò của chính Chúa, trước ngày Ngài ra đi tìm về với Cha, trong yêu thương. Đó chính là lệnh truyền của Chúa, như thánh Gioan từng ghi lại:

                        “Thầy ban cho anh em một điều răn mới
là anh em hãy yêu thương nhau;
anh em hãy yêu thương nhau
như Thầy đã yêu thương anh em.
Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này:
là anh em có lòng yêu thương nhau."
(Ga 13: 34-35)

            Lời cuối hôm nay, chỉ thế này: có là thừa tác viên tông đồ nam/nữ hay chỉ là người phàm đầy tội lỗi, một khi người người vẫn quyết tâm làm rạng Danh Cha, Danh Chúa, hẳn cũng là đã thực thi lệnh truyền của Ngài, trong yêu đương. Đúng lẽ thường, của trời đất.

            Trần Ngọc Mười Hai
được chỉ bảo rất nhiều điều,                 
            nhưng điều quan trọng hơn cả
lại cứ quên như nhiều người ở cõi thế.

Saturday, 26 May 2012

“Bài hát, tìm trong nỗi nhớ, từng ngày bình yên.”


Chuyện phiếm đọc vào tuần sau lễ Chúa Ba Ngôi năm B 27-5-2012

“Bài hát, tìm trong nỗi nhớ, từng ngày bình yên.”
“Bài hát, tìm trong ký ức, cuộc tình đầu tiên.”
(Thanh Tùng – Giọt Nắng Bên Thềm)

(1Ph 3: 18-19)
            Bài hát, viết không nên lời đã vội lãng quên”. Chao ôi! Bài hát nào mà lạ thế? “Bài hát, mang bao kỷ niệm những ngày đã qua”. Vâng. Thế mới là bài hát hay. Thật ra, với bần đạo, bài hát nào cũng nao nao một kỷ niệm. Kỷ niệm, là vì những bài như thế, vẫn được nhiều người liên tưởng đến chuyện của riêng mình, mà nhớ đến và ưa thích như bần đạo đây. Ôi chao! Nói thế, chắc bầu bạn hẳn sẽ cho rằng bần đạo thuộc loại “chảnh” hoặc ba phải, rất “huề vốn”? 

            Sự thật, thì bần đạo nay có trích dẫn bài hát ít nghe quen, ở trên, là do “chộp” được từ đêm “Hát Cho Nhau Nghe” ở Sydney chốn bình yên, hôm ấy. Bình yên, đến độ khiến bần đạo liên tưởng đến tình huống xảy đến với nhà Đạo, ở nhiều nơi. Tình huống có chuyện “rồi đến rồi đi bao tháng năm”, khiến bày tôi bần đạo chưa kịp “tạ ơn người/tạ ơn đời”, đã thấy đuối. Đuối lý. Đuối tình, đành về với bài ca để ê a, hát mãi:  

“Hoa vẫn hồng trước sân nhà tôi.
Chim vẫn hót sau vườn nhà tôi.
Giọt nắng bâng khuâng.
Giọt nắng rơi rơi bên thềm.
Bài hát bâng khuâng.
Bài hát mang bao kỷ niệm.
Những ngày đã qua.”
(Thanh Tùng – bđd)

Sở dĩ bần đạo cứ phải “tạ ơn người/tạ ơn đời” vì biết đời mình dù ngắn ngủi, vẫn mục kích nhiều “sự” ít thấy cả trong Đạo/lẫn ngoài đời, khiến mình coi đó như đặc sủng để ghi ơn. 

Đặc sủng, nay thấy giống tình huống được nghệ sĩ diễn tả ở câu thơ: 

“Lâu lắm rồi, anh không đến chơi. Cây sen đã lá bạc như vôi.
Sỏi đá rêu phong, sỏi đá chưa quên chân người.
Bài hát tìm trong nỗi nhớ, từng ngày bình yên.
Bài hát tìm trong ký ức, cuộc tình đầu tiên.
Trả lại cho tôi, trả lại cho anh. Trả về hư không giọt nắng bên thềm.”
(Thanh Tùng – bđd)

Hôm nay, “giọt nắng bên thềm” được trả về chốn hư không, để rồi: những chuyện xảy ra từ hồi trước, nóng bỏng như “giọt nắng bên thềm” lại đi vào chốn mông lung, lạnh lùng, chẳng ai nhớ. Không nhớ, phần vì quá lo cho cuộc sống ở đời có những chuyện khi xưa thì rất cần cho lòng đạo, nhưng nay lại đã đi vào dĩ vãng, cõi rất không. Thế nên, đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta cứ đi vào thực tại để thấy được trạng huống đang chợt đến với nhà Đạo, hầu suy tính cho tương lai/mai ngày, của thánh hội.

Một trong những chuyện từng khiến nhà Đạo mình quan ngại và thắc mắc nhiều, là: chuyện xưng thú tội lỗi mình vướng mắc với cộng đồng dân Chúa, và với nhau. Thắc mắc, thì: mỗi người một ý, một lập trường. Quan ngại, mà người người thường khắc khoải, lại cũng khác. Có người chỉ quan và ngại sơ sơ/lờ mờ vài ba nét rất thoáng, để rồi sẽ bỏ qua. Vì nay, có vài nhận định về người ở trời Tây đã bộc phát vào buổi hội bỏ túi ở Sydney, như sau:

“Nhiều lúc, tôi nghĩ: việc cốt yếu với người đi Đạo hôm nay, không chỉ tìm cách lánh xa dịp tội để được gọi là sốt sắng, đạo hạnh!”
*Tôi thì tôi nghĩ: dù ta có chấp nhận đưa cụm từ “mắc tội trọng” gán cho hành động này khác, vẫn không nặng đến độ dù chết chóc, cũng đâu có giết chết tình yêu ta có với Chúa, với mọi người trong cộng đoàn Hội thánh. Bởi, tội lỗi là gì đi nữa cũng đâu giết chết một ai…”
*Với tôi thì, có cố gắng đến toà giải tội cho nhiều, xem ra càng tạo thêm những tội mà mình không bao giờ vướng mắc… Tất cả, chỉ là danh sách tội phạm với lỗi phạm do cha/cố bày đặt thôi.
*Tôi có cảm giác, là xưng tội cũng giống như cái máy giặt cũ kỹ dùng để tẩy uế đồ dơ bẩn dính đầy những tội, thế thôi. Trong khi, tôi lại cần nhiều thứ hơn thế. Thí dụ như, cần tẩy uế đồ dơ theo kiểu “hấp tẩy nỉ sẹc” người xưa thường nói, đôi lúc cũng chỉ cần hong cho khô là xong, đâu cần gì đến máy giặt?
*Tôi chỉ cần để ý đến người mà tôi từng làm họ đau khổ, thôi. Chỉ muốn họ tha thứ cho việc tôi làm họ đau đớn chứ đâu muốn để các cha ở nhà thờ dính dự đâu. Tôi có làm cho cha hoặc hội thánh đau khổ đâu, mà mong mỏi họ tha cho tôi, chứ!
*Nói về Mùa Chay cần ăn năn xưng thú tội lỗi, thì tôi nghĩ: Đức Chúa Phục Sinh vẫn muốn tôi phải làm chuyện đổi thay cuộc đời sau khi tịnh tâm vào những ngày đó, chứ đâu bảo tôi phải lo sửa đổi tính tình/hạnh kiểm chỉ mỗi mùa chay này thôi đâu! 
*Nói cho cùng, nay được bao người chịu dẫn xác đến toà cáo giải để xưng thú các tội mình vướng mắc có dính hoặc không dính đến mấy cha và cố đâu? Những người khi xưa siêng năng xưng tội, nay bỏ đi đâu hết cả rồi? Sao không còn đến nhà thờ xưng thú tội lỗi nữa? Phải chăng, họ hết cần đến bí tích xá giải rồi?...” (trích phát biểu của anh chị em tham dự hội thảo tháng 5 năm 2012, ở Sydney)

            Tìm hiểu kỹ, bạn và tôi ta sẽ thấy giới trẻ ở trời Tây, nay nghĩ nhiều về chuyện xưng thú. Thấy rồi, ta hẳn cũng biết lý do còn nằm trong đầu họ. Nghe rồi, ta cũng có được kết luận rất chung chung, hoặc các nhận định vẫn nghe quen, như: dân con nhà Đạo ở trời Tây, nay không thấy hấp dẫn gì hoặc vẫn nghĩ là họ không có bổn phận phải đi nhà thờ/nhà thánh, nên chẳng cần gì chuyện xưng tội. Như thế, phải chăng là họ không còn cần đến Thiên Chúa hoặc cha cố những thứ tha, xoá bỏ tội?  

Nói cho cùng, tiếc nhớ thói quen đạo đức khi xưa cũng như ý/từ nghệ sĩ nay diễn tả ở câu hát:     
“Hoa vẫn hồng trước sân nhà tôi
Chim vẫn hót sau vườn nhà tôi…
Một sớm mai kia, chợt thấy hư vô trong đời
Người vẫn đâu đây, người cũng đã như xa rồi. Chỉ là ... thế thôi.”
(Thanh Tùng – bđd)

            Về với nhà Đạo, cũng nên nghe thêm ý kiến của một đấng bậc có trách nhiệm duy trì bí tích “hoà giải” hay giải tội để có được ơn lành Chúa ban. Trước nhất, là: nhận định của Lm James O’Toole, đấng bậc từng có câu hỏi tương tự, nay đáp trả bằng lời tự sự như sau: 

“Nhìn vào những gì xảy ra ở thời trước và trong tương lai/mai ngày về bí tích giải tội, ta vẫn thấy: có nhiều người Công giáo ở độ tuổi trên bốn mươi, cũng tiếc nhớ cái thời mà mọi người đổ xô đến toà cáo giải, cứ thế đọc thuộc lòng những câu như: “Thưa cha, con là kẻ có tội, xin cha ban phúc lành cho con. Nay, cũng được… tuần kể từ lần con xưng tội trước đây. Đến nay, con xưng các tội con mắc phải như sau…” Và cứ thế, rồi cứ thế, người xưng thú lại sẽ kể ra một loạt những tội và tội, điều mà nhiều người nghĩ chắc cũng phải ghê gớm lắm, mới khiến bổn đạo ấy phải “xưng” cho hết. Xưng, để thấy người mình nhẹ nhõm, chẳng còn “vương vấn những lỗi cùng tội” như hôm nào. Và nay, thói quen ấy xem ra không còn tồn tại đối với phần đông người Mỹ nói chung, nhất là những người ở độ tuổi dưới bốn mươi. Còn, với giới trẻ ở độ tuổi dưới ba mươi, thì ý niệm về tội trọng/tội nhẹ, cần “xưng thú”, nay không còn nữa.” (x. Lm James O’Toole, Empty Confessionnals: Where have all the sinners gone, www.Commonwealmagazine.org 24/04/2004)

            Nhà Đạo nói thế, là muốn bảo: bí tích giải tội khi xưa là chuyện thường tình, ai cũng biết, vẫn cứ thực hiện đều đặn, không thắc mắc. Nhưng hôm nay, chỉ một số rất ít con dân nhà Đạo ở trời Tây, là biết việc ấy có tầm mức quan trọng, mà thôi. Khi xưa, vào các ngày thứ sáu/thứ bẩy, người người cứ gọi là nối đuôi dài thườn thượt trước cửa toà cáo giải để chờ nhau vào “phòng tối” mà thú lỗi với cha/với cố, hầu hôm sau mới được phép rước Chúa vào lòng. Thông thường, thì khi xưng tội, ai cũng phải làm công việc xét mình/tự kiểm trước đó, để xem mình có sai phạm lỗi gì trong cuộc sống? Nếu có, thì phạm lỗi như thế cộng lại là bao nhiêu lần? Rồi sau đó, mới từ từ bước vào “toà cáo giải” để xưng/để thú với ông cha/ông cố, hầu được lãnh phép lành xá giải sau khi được “đức ngài” ban cho cái-gọi-là “việc đền tội” hỡi ôi, vẫn rất nhẹ.

            Bình thường, khi nghe hối nhân xưng thú, đấng bậc “giải tội” vẫn hỏi vài câu cho chắc là hối nhân biết việc mình làm, tức có tội, rồi sau đó cũng chỉ khiển trách lấy lệ vài ba phút, xong đâu đấy mới quay người đọc một tràng tiếng Latinh và “bổ” cho hối nhân đôi ba “việc đền tội”, như đọc kinh này kinh nọ, hoặc làm việc thiện này khác, vv. Chuyện này tưởng chừng cũng dữ dằn, nhưng thực tế chỉ là những việc mà người xưng thú vẫn làm như trước đó. Tức, vẫn như cũ, chẳng có gì đổi thay, sau nhiều ngày khá bối rối. 

Nay, thủ tục hoá giải và xưng thú vẫn như cũ. Nhưng xem ra có phần giản dị hơn. Vắn gọn hơn. Cả hối nhân lẫn “đức thày” đều có thể thực thi công tác ngay ngoài trời, phòng hội hoặc ở đâu đó mà “đức ngài” nghĩ là thích hợp, thế cũng xong! 

Về lỗi phạm mình vướng mắc, cũng nên suy thêm đôi lời nhắn nhủ của thánh nhân như sau: 

“Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi –
Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương-
hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa.
(1Ph 3: 18-20)

Vấn đề đặt ra hôm nay, là: câu hỏi của nhiều vị: mọi người nghĩ sao về chuyện xưng thú?
Ta có nên tiếp tục những chuyện như thế, để giữ Đạo không? 

Nhiều đấng bậc cũng đặt ra một số vấn nạn trong đó có nhiều câu đáng ta quan tâm. Những vấn nạn tương tự lời thơ mà nghệ sĩ ngoài Đạo lại vẫn hát:     

“Khi thấy buồn, anh cứ đến chơi
Chim vẫn hót, trong vườn đấy thôi.
Chỉ có trong tôi, ngày đã sang đêm lâu rồi.
Bài hát cho em, giờ đã hát cho mọi người
Để rồi lãng quên.”
(Thanh Tùng – bđd)

            Nhà Đạo mình, không lãng quên cũng chẳng thiếu sót, dù đó có là bài hát buồn/vui cũng mặc. Chẳng quên sót, dù người thân của mình không “đến chơi” hoặc chẳng còn viếng nhà thờ/nhà thánh như dạo trước. Có đấng bậc, nay lại đặt thành vấn đề, nên mới viết: 

“Về việc xưng tội và giải tội, chỉ mỗi đạo Công giáo là còn giữ. Và, coi đó như một đặc sủng tư riêng của Đạo. Thế nhưng, nhiều lúc việc sống đạo không đặt nặng vào chuyện xưng thú nữa, hãy coi đó là chuyện thời xưa, nay chẳng còn ai thiết tha, quan tâm. Từ đó, đem đến cho người Công giáo một khoảng trống, hố sâu chưa kịp lấp. Mùa Chay, là cơ hội thuận tiện, để ta khai thác chuyện “xưng thú tội lỗi” được mọi người vẫn từ lâu tuân thủ. Đó là hiện trạng đối với người Công giáo Mỹ, nói riêng.

Chẳng hạn, chỉ mỗi giáo phận Boston thôi, cũng đã có giai thoại ghi là: sau thế chiến thứ 2, có linh mục nọ được cha xứ bạn ở gần bên, kêu đến giúp “ngồi toà” từ 2 giờ trưa đến 6 giờ tối, chỉ 4 tiếng. Trong khi đó, chính ngài lại phải ngồi toà mãi đến 11 giờ khuya mới ngừng nghỉ. Đếm số người, thì cha bảo: nội chiều tháng 2 năm 1899 thôi, ngài nghe tội của 137 người tưởng đã nhiều, vẫn không bằng linh mục bạn ở New York đếm được 78 ngàn lượt người đến xưng, trong năm.” (x.Lm James O’Toole, bđd)

            Đó là nói về số luợng người xưng tội vào thời vàng son ở đất Mỹ. Còn, ở vùng khác thì như sau:
“Tại các xứ đạo miền Trung Tây và Cực Đông Hoa Kỳ, giáo dân ở đây thấy chuyện xưng tội nay không còn cần thiết nữa. Giữa thế kỷ thứ 20, số người xưng tội đều đặn đã giảm sút một cách đáng ngại đến độ khi hỏi đến, chẳng ai buồn đáp lại. Thập niên ‘50, số dân đi Đạo thuộc Nhà thờ Chánh toà Madeleine ở Salt Lake City, toàn giáo xứ đếm được có 3,200 giáo dân, nhưng số người thường xuyên xưng tội lại lên tới 2,500 người. Năm 1952, chỉ hai linh mục ngồi toà thôi cũng đạt 9,431 luợt người đến xưng tội một năm; tính bình quân, thì: mỗi tuần có đến 182 người xưng tội, rất đều.    
Nội trong năm 1965 và 1975, Trung Tâm Điều Tra Hoa Kỳ mở cuộc khảo sát đã phát hiện ra số người xưng tội giảm sút thấy rõ. Bình quân, mức giảm sút trong hai năm này đang từ 38% xuống còn 17% thôi. Trong khi đó, có người lại tuyên bố: họ chẳng hề xưng tội bao giờ đang từ 18% nay lên đến 38%. Năm 1977, một khảo sát khác của Trung Tâm còn cho thấy trong số 65% linh mục người Mỹ quả quyết là hàng tuần, các ngài vẫn cố gắng ngồi toà chờ giáo dân đến xưng tội, nhưng nay số người xưng thú giảm xuống chỉ còn 20 lần/một tuần so với thời trước, là cả trăm.
Giữa thập niên 80, Đại học Notre Dame ở Mỹ cũng thực hiện một điều tra/khảo sát xem giáo dân có năng đi lễ và xưng tội không, đã nhận được câu trả lời của hơn 26% người từng bảo: họ chẳng bao giờ đi xưng tội; và 35% người từng nói: mỗi năm xưng tội nhiều nhất chỉ một lần. Sự kiện này, đôi lúc cũng đòi giáo quyền nên có lời giải thích đích đáng, để mọi người biết mà nắm vững. Và, câu phản hồi từ các ngài là: tín hữu Công giáo nay dám tỏ bày bất mãn thấy rõ về chuyện xưng thú. Có người, còn nói thẳng: bọn tôi đi xưng tội nhiều lúc thấy các cha giải tội nhanh như cái máy, hệt như kiểu người ta bấm máy đếm số người đi xem triển lãm vậy. Rốt cục, thì ai cần linh hướng giúp mình sống lành thánh, nay không còn muốn đến toà cáo giải để hỏi han hoặc xưng tội nữa.” (x. Lm James O’Toole, bđd)  
            Dĩ nhiên, khảo sát hoặc thống kê dù chính xác cách mấy cũng không nói hết tình trạng “xưng thú” đang giảm sút với giáo hội Công giáo nước ngoài. Nhưng ở đây, tưởng cũng nên nghe thêm ý kiến của đấng bậc khác vẫn muốn bàn về lý do đưa đến hiện trạng như thế, đã cho biết:
“Thật ra, quyết tâm đòi bỏ chuyện xưng tội không thấy xuất hiện trong nghị trình bàn luận của các nghị phụ khi xưa đưa vào Công đồng Vatican II. Nhưng, trên thực tế, người Công giáo nay dám nói lên quan điểm của họ tức đã bỏ phiếu bằng chân, không còn hăng say đến toà cáo giải để xưng thú hoặc hỏi về chuyện linh hồn nữa. Việc này, khiến các nhà bình luận tôn giáo sửng sốt đến câm nín, chẳng muốn nói gì thêm. Nói cho cùng, việc giáo dân khi xưa siêng chăm xưng tội hàng tuần nay là chuyện hiếm có trong lịch sử hội thánh. Tựu trung, thì hình thức/chức năng của Bí tích Hoà giải cũng đã thay đổi khá nhiều, trong những năm gần đây.
Dĩ nhiên, chuyện thay đổi hình thức/chức năng của Bí tích này giảm sút đến độ, không chỉ mỗi chuyện xưng tội theo cách riêng tư, mà còn thay đổi cả hệ thống tin tưởng cũng như động thái của giáo dân xưa nay có quan niệm về tội và án chết, về nỗi sợ hoả ngục, về sự xấu hổ cũng như quyền chế ngự và hoá giải mọi lỗi lầm gọi là “tội” chỉ dành cho hàng giáo sĩ thôi, đó mới là vấn đề. Và, vấn đề là: phần đông người Công giáo, ai cũng nghĩ mình không thể chấp nhận/biện hộ hoặc coi đó như điều không thể trách cứ đặt nền tảng trên luân lý như chuyện mình tin Chúa tạo dựng trời đất trong 7 ngày, theo khoa học. Tóm lại, sự thật nay rõ ràng là: 7 phép bí tích hội thánh nay còn sáu phép thôi.” (x. Peter Steinfels, Examination of Conscience, viết trên trang blog tập thể giáo sĩ Mỹ ngày 06/04/2004)

            Viết trên “blog” hay mạng riêng của nhóm nào đó, là cách để nói lên sự thật mà nhiều người đều biết. Viết, để cảm thông hoặc lưu giữ làm tài liệu chứ không để bàn luận, cãi tranh. Bởi, có bàn luận cho lắm cũng chỉ làm tăng thêm tình trạng rẽ chia, buồn phiền. Chi bằng, ta cứ xem như tín hữu Công giáo nay tỏ bày thái độ của mình ra sao. Và, vấn đề còn nhiều ý kiến khác phát biểu như sau:

“Tôi là nhà tâm lý học lâu nay vốn dĩ hành nghề ở nhiều nơi, cũng có chút kinh nghiệm, đồng thời lại là người Công giáo chuyên chăm đi nhà thờ cũng khá đều. Vừa qua, có khách hàng nọ là người Công giáo đến tỏ bày cùng tôi, rằng: ông cũng quan ngại không ít, về thói quen nối mạng toàn cầu, để xem phim/xem hình kích dâm. Khi hỏi: lâu nay ông làm cách nào để kềm chế thói tật này? thì ông bảo: ông đã đi xưng tội nhiều lần; và mỗi lần đi như thế, ông vẫn yêu cầu linh mục xá giải giúp ông giải quyết cách sao đó cho chuyện ấy nó dứt điểm. Khi hỏi thêm: “Thế, linh mục ấy có giúp ông việc gì cụ thể không? thì ông trả lời: mấy ông cha ấy à, mấy ỗng chỉ bắt tôi đọc 7 kinh Lạy Cha, 7 kinh Kính mừng là xong. Làm thế, thì chỉ ra mỗi việc đền tội thôi làm sao giúp mọi người như tôi kềm chế thói quen khó trị, được chứ!
Đời thường, mọi sự trừng phạt dù nặng dù nhẹ có xứng hợp với lỗi tội mình phạm không, đều dấy lên một bất mãn nơi người thoạt nghe phán quyết, đề ra cho họ. Nhiều cuộc điều tra cho thấy: đối với con người, khi họ tin vào thứ công lý nào đó, thì nó vẫn là chuyện tự nhiên. Ai cũng muốn được tưởng thưởng khi có cố gắng, chỉnh sửa lỗi lầm mình sai phạm cũng như khi tội ác được trừng phạt đích đáng. Nhưng ở đây, đề ra việc “đền tội”, không có nghĩa là: mình đã trừng phạt được tội ác, như ở xã hội bên ngoài. Xá tội, không là chuyện ngẫu nhiên/bất ngờ để giúp mình đền tội. Bởi, sự thể có ra thế nào đi nữa, hẳn là: ta phải làm công việc ấy trước khi bước vào toà cáo giải, chứ không phải chỉ sau khi người xưng thú kể hết tội của mình cho linh mục nghe. Bí tích xá giải do hội thánh đề ra, cần hối nhân ăn năn/thú lỗi, tức công nhận rằng: ai cũng cần đến lòng xót thương Chúa ban cho mình hết. Bởi thế nên, mọi người đều luôn sẵn sàng đón nhận ơn lành ấy. Đền tội, là cốt diễn tả nỗi sầu buồn do mình phạm luật Chúa ban ra; và, cũng để cho mình có lòng cảm kích biết ơn tình Chúa thứ tha Ngài ban cho mình.
Thực thi bí tích xá giải, có thể để củng cố quyết tâm loại trừ mọi tật xấu hơn là kềm chế nó. Làm như thế, có thể khiến nhiều người nghĩ rằng: họ được khuyến khích coi việc xưng tội như phương tiện giúp họ giải toả cái cảm giác phạm luật cách dễ dáng; mà thực ra đó chỉ là cơ hội để ta làm hoà với Chúa, thôi. Một khi việc đền tội được thực hiện dễ dàng và máy móc như thế, thì việc xưng tội lại vẫn được các nhà tâm-lý-học coi đó như “kỹ năng trung hoà”, tức phương cách làm dịu lắng cảm xúc tiêu cực nhiều người vẫn có, sau khi vi phạm. Xưng tội đem đến cho ta lợi thế là dùng quyền bính thiêng liêng để thực hiện “kỹ năng trung hoà” giúp người vi phạm…”
“Nếu bí tích giải tội, là động thái giải hoà hoặc xá giải mọi lỗi phạm cách thiết thực, thì các vị xá giải cũng nên thực thi sao cho tốt. Và, hội thánh nên huấn luyện các vị ấy cách sao đó để các ngài làm tốt hơn xưa. Ở đây, tôi không đề nghị chỉnh sửa việc xưng tội như khoa tâm-lý trị-liệu, kiểu Công giáo. Nhưng, tôi nghĩ: khi đã thực hiện bí tích này cho đúng qui cách, ta phải làm sao củng cố quyết tâm chống trả cơn cám dỗ, hơn là làm việc gì đó cho nó yếu đi. Kịp đến khi có được cải tổ rộng rãi, thì hội thánh mới có thể yêu cầu hối-nhân tự kiểm xem mình có tuân giữ 10 điều răn Hội thánh không. Tuy nhiên, mọi chuyện vẫn chỉ là thực hiện qui định vàng này: “hãy yêu thương người đồng loại như chính mình”, thôi.” (x. Thomas L. Kuhlman, The floating Sacrament: How We Confess Today Not a Reset Button, www.Commonwealmagazine.org 03/27/2012)

            Bàn chuyện nghiêm chỉnh/khô khan cũng đã dài, nay đề nghị bạn và tôi, ta về với lời ca vang âm nhạc để suy tư về người ngoài đời vẫn còn hát:

                        “Bài hát, tìm trong khói thuốc, từng giờ bình yên.
                        Bài hát, tìm trong mắt biếc, từng chiều hoàng hôn.
                        Còn lại trong tôi, còn lại trong em, chỉ là lung linh giọt nắng bên thềm…”
                        (Thanh Tùng – bđd)

            Giọt nắng hay giọt “lung linh bên thềm”, nay đã chìm “trong mắt biếc, từng chiều hoàng hôn”. Hoàng hôn, của thói quen mà Hội thánh vẫn có từ thời vàng son, thuở trước. Còn lại, là câu hát “chìm trong khói thuốc”, “từng giờ bình yên”. Giờ yên bình/hiền hoà của nhiều người, nay lại có ý kiến cũng khá lạ về hiện trạng sút giảm người xưng thú, như tâm sự của linh mục nọ ở bên dưới:

“Đôi khi, ta vẫn thấy là: các đấng bậc trong Đạo mình vẫn muốn biết: các bổn đạo lâu nay hay xưng tội biến đi đâu hết vậy? Có lẽ, ta cũng nên thay câu thắc mắc bằng những lời như: không biết tại sao khi xưa người người chịu khó đến toà cáo giải để làm gì? Câu trả lời theo tôi cũng nên mượn ý tưởng của ai đó trong phim “Chàng Luke có bàn tay lạnh” của Stuart Rosenberg mà bảo: Đạo mình lâu nay, chừng như vẫn thiếu thái độ thực sự muốn đối thoại. Theo tôi nghĩ, điều này cũng đúng. Bởi, lâu nay Hội thánh mình có chịu nghe ai đâu, có chịu trao đổi hoặc đối thoại với người nào đâu! Lâu nay, ta cứ trông chờ trên ra chỉ thị để giúp ta giải quyết hết mọi chuyện. Nhưng, lại quên rằng: các đấng bậc nhà mình cũng nên lấy ý kiến của dân thường ở dưới. Mà, dân thường ở đây là giáo dân mình chứ nào ai khác!...
Ngày nay, hầu hết mọi người Công giáo đều hiểu là: không ai muốn đề cập đến hành xử nào ít liên quan hoặc chẳng liên quan gì đến lỗi/tội theo nghĩa khách quan. Mọi người nay ít quan tâm đến hành vi riêng rẽ tuy nổi bật, nhưng chú ý nhiều vào thái độ hoặc loại hình xử sự. Dù, họ biết là họ không thể dửng dưng với chuyện vi phạm luật Hội thánh, nhưng lại không thấy có nhu cầu cấp bách đến toà cáo giải để xưng thú trước khi đi làm. Theo ý Lm Chinnici ở Mỹ thì người Công giáo nay đã nghĩ về tội và lỗi theo phạm trù được xã hội định ra như vi phạm luật lệ hoặc động thái có ý đồ nằm sau hành động của mỗi người. Với phần đông người đi Đạo, thì: phạm trù mắc tội trọng hay nhẹ không còn nằm trong đầu họ như một vấn đề quan yếu nữa rồi. Hệt như người con thứ trong chuyện “Người con đi hoang” ở Kinh thánh, anh đâu có liệt kê danh sách các hành động vi phạm luật Đạo, đâu. Anh chỉ buồn phiền vì đã hành xử không đúng phép. Điều đó không toàn hảo cho lắm, nhưng cũng là điểm khởi đầu đủ đánh động lòng người Cha vẫn yêu thương anh.
Vấn đề là làm sao thuyết phục và hấp dẫn 74% giáo dân nay ít đi xưng thú để bảo rằng đây là phép bí tích rất cần. Nghi thức giải tội có nói gì nhiều với giáo dân về chuyện giao hoà với Chúa không? Tôi nhớ Gm Michael Pfeifer chủ quản giáo phận San Angelo, Texas khi viết thư mục vụ năm 2006 ngài có hỏi: sao ta cứ phải đến với linh mục để xưng thú trong khi dư biết là Chúa đã tha cho ta trước đó rồi? Vị Giám mục này còn viết: “Các nhà giải tội đích thực là người tìm cách giúp giáo dân đạt sự bình an, yên ắng mà họ tìm kiếm từ các nhà tâm lý hoặc phân tâm học. Nay, các loại hình chữa lành này chẳng bao giờ xảy đến bằng việc xưng tội mất có vài phút hoặc một năm chỉ một hai lần thôi. Sự thể là, đa số giáo dân người Mỹ hiểu là: việc giao hoà với Chúa và với anh em đồng loại là điều cần hơn đòi hỏi phải đi gặp linh mục về chuyện thiêng liêng trong chớp nhoáng. Ai cũng đều nghĩ là loại chữa lành qua nghi thức hoà giải như hiện nay không thể hiện thực được…
Nói cho cùng, dù việc xưng thú có giảm nơi toà cáo giải, nhưng việc thứ tha cho nhau nay gia tăng cùng khắp. Gia tăng, ở điểm giáo dân nay nhận thức rõ lòng Chúa thương con dân Ngài vẫn gia tăng đều đặn. Bằng chứng là, giáo dân hôm nay tuy ít đi xưng tội như trước, nhưng vẫn rước Chúa vào lòng nhiều hơn xưa. Nhiều người và nhiều lần hơn xưa, cũng rất nhiều.
Cuối cùng, có thế nói: trong khi toà thánh và hàng Giáo phẩm tìm cách tạo nghi thức mới cho phụng vụ và khuyến khích con dân tham dự các buổi này, thì nay là lúc ta nên tập trung học hỏi gương lành của Chúa nhiều hơn truớc. Như bậc thày dày kinh nghiệm, Đức Giêsu vừa là Đấng hăng say giữ luật vừa là Đấng biết lắng nghe mọi người. Với Ngài, vấn đề nay cần đặt ra là: bí tích đích thực chính là giao hoà với mọi người chứ không chỉ với linh mục, thôi.” (x. Lm Raymond C. Mann, The Empty Box: Why Catholics Skip Confession, Commonwealmagazine.org 02/05/08)
                    
Xưng tội và hoá giải, lâu nay trở thành “Bí tích”, tức nhiệm tích bí hiểm khó lòng hiểu hết ý nghĩa cao siêu/nhiệm mầu Hội thánh chọn. Bần đạo đây, thấy khó mà trích dịch hoặc thêm thắt ý kiến riêng tư của mình hoặc của ai đó hoặc lập trường/tư tưởng của các đấng bậc ở trên cao, rất Đạo được. Chi bằng, ta cứ đi vào truyện kể về đời người có sự kiện xảy đến với người và với đời, như truyện tâm tình của một người, nhiều người hoặc mọi người đều nghĩ thế. Nghĩ về những điều tuy không là tội và nghiệp, nhưng vẫn cần nhiều người suy tư nghĩ ngợi, rất như sau:

     “Hai mươi năm trước đây, tôi lái xe tắc xi để kiếm sống. Một đêm có người gọi xe ở khu chung cư vào lúc 2 giờ 30 sáng. Tôi đến nơi, các dẫy nhà đều chìm lẫn trong bóng đêm ngoại trừ ánh sáng mù mờ từ khung của sổ kéo màn kín. Trong trường hợp này, các người lái xe thường nhấn còi một hay hai lần và chờ khoảng một phút, nếu không thấy động tĩnh gì là họ lái xe đi....
     Nhưng tôi cũng biết rất nhiều người nghèo không có xe cộ gì cả và tắc xi là phương tiện di chuyển duy nhất mà họ trông cậy trong những hoàn cảnh đặc biệt hay trong những giờ giấc bất thường.... Trừ khi linh cảm có gì nguy hiểm ngăn cản, tôi thường ra khỏi xe và đi đến tận cửa, tự nhủ biết đâu có người đang cần tôi giúp...
     Nghĩ như thế tôi bước tới gõ cửa.
“Xin chờ một chút “ giọng nói rõ ràng là của một người già nhưng vẫn có phần trong trẻo và tôi có thể nghe tiếng của các vật dụng dường như đang bị kéo đi trên sàn nhà... Vài phút sau, cửa mở, một bà cụ khoảng 80 tuổi đứng ngay trước mặt tôi. Cụ mặc chiếc áo đầm dài in hoa, đội cái mũ trắng xinh xắn với giải lụa gài chung quanh, trông giống y như một người nào đó từ cuốn phim của những năm 1940 chợt bước ra, với chiếc va ly vải bên cạnh. Sau lưng cụ, căn phòng chung cư trống trải như quanh năm không có ai cư ngụ, tất cả bàn ghế đều được phủ kín bằng những tấm trải giường.   
     Liếc nhìn qua vai cụ, không có bất kỳ vật dụng nào trên quầy trong bếp hay trên tường cả và sát chân tường trong góc phòng tôi có thể thấy mấy cái thùng giấy đầy những ly tách và khung ảnh sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp.
     -Phiền ông mang giúp tôi cái va ly này ra xe..
     Tôi đem chiếc va ly cất ở thùng xe phía sau và quay trở lại giúp bà cụ. Cụ nắm cánh tay tôi và từng bước một, tôi dìu cụ xuống đường hướng về chiếc xe... Cụ luôn miệng nói cám ơn.... “Không có chi, thưa cụ“ tôi nói, “cháu coi những người lớn tuổi như là mẹ của cháu vậy... ” Cụ trả lời: “Ông tử tế lắm.... ”
     Sau khi giúp cụ yên ấm trên băng ghế sau, tội ngồi vào ghế lái và nổ máy xe. Cụ đưa cho tôi tờ giấy ghi địa chỉ nơi cụ muốn đến và hỏi tôi, rất nhỏ nhẹ:
     -Ông có thể chạy ngang qua dưới phố cho tôi một chút không...
     Liếc mắt vào tờ giấy ghì địa chỉ, tôi buột miệng:
     -Nếu lái xuống phố thì đường xa hơn và lâu hơn nhiều....
     -Cứ thong thả, ông à, không có gì vội vã cả, Tôi trên đường tới hospice (nhà dành cho những người sắp từ giã cuôc sống) thôi...
     Tôi ngước mắt nhìn, qua tấm gương chiếu hậu, đôi mắt cụ long lanh trong bóng tối.
     -Tôi không còn ai thân thích trên cõi đời này, và bác sĩ đã nói tôi cũng chẳng còn bao lâu nữa, hai hay ba tuần là nhiều....
     Với tay tắt cái máy ghi khoảng cách và tính tiền, tôi hỏi một cách lặng lẽ:
     -Thưa cụ muốn đi qua đường nào trước......
     Trong hơn hai giờ kế tiếp, chúng tôi hầu như đi lanh quanh qua từng con đường trong các khu phố. Cụ chỉ cho tôi toà nhà nhiều tầng mà một thời cụ đã làm người điều khiển thang máy. Tôi lái xe qua một khu phố với những căn nhà nhỏ đã cũ nhưng xinh xắn, cụ nói với tôi ngày trước khi mới lập gia đình cụ đã ở trong khu này, và chỉ cho tôi căn nhà loang loáng dưới ánh đèn đêm.... Nhìn ánh mắt lưu luyến của cụ, tôi như thấy một trời quá khứ thương yêu đằm thắm của đôi vợ chồng trẻ.
Cụ ra hiệu cho tôi ngừng xe trước nhà kho của cửa tiệm bán giường tủ, bàn ghế, nhẹ nhàng bảo tôi trước đây chỗ này là một vũ trường sang trọng và nổi tiếng, cụ đã từng hãnh diện đến đây khiêu vũ lần đầu khi là một thiếu nữ mười sáu tuổi... Trong giọng nói cụ tôi thấy thấp thoáng hình ảnh một thiếu nữ trẻ trung sáng ngời với bộ dạ phục xinh đẹp và nụ cười tươi tắn hân hoan..... Đôi khi, cụ bảo tôi đậu xe trước một toà nhà nào đó hay ở một góc phố khuất nẻo không tên.... và cụ im lặng thẫn thờ trong bóng tối như đắm chìm với cả một dĩ vãng xa xăm bao la và sâu thẳm....
Khi trời chập choạng trong ánh sáng đầu tiên của ban ngày, cụ nói với tôi khẽ khàng như hơi thở nhẹ:
     -Thôi, mình đi...
     Tôi lái xe trong im lặng đến khu nhà hospice. Đó là một dẫy nhà thấp, kín đáo, ngăn nắp và gọn  gàng. Tôi vừa ngừng xe là đã có hai người xuất hiện với chiếc xe lăn như là họ đã chờ đợi từ lâu rồi.  Tôi bước xuống mở thùng xe phía sau để lấy chiếc va ly nhỏ của cụ mang tới để ngay cửa chính, xong quay trở ra đã thấy cụ đã được đỡ ngồi ngay ngắn trên chiếc xe lăn.
     -Bao nhiêu tiền vậy cháu?
     Cụ vừa hỏi vừa mở cái bóp nhỏ... “Cháu không lấy tiền bác đâu.. ” tôi trả lời.
     -Nhưng cháu phải kiếm sống chứ...
     -Đã có những khách hàng khác, thưa bác...
     Gần như không tính toán so đo, tôi cúi xuống ôm lấy bờ vai cụ. Đáp lại, cụ ôm tôi thật chặt:
     -Cám ơn cháu đã cho cụ già này khoảng thời gian thật quý giá và đầy ý nghĩa.
     Tôi xiết chặt tay cụ và quay bước đi trong ánh sáng mờ nhạt của một ngày mới đến. Sau lưng tôi có tiếng cửa đóng. Tôi cảm thấy như cả một cuộc đời vừa được khép lại phiá sau.
Tôi không có thêm người khách nào khác trong buổi sáng đó. Tôi chạy xe lanh quanh không có mục đích và dường như tôi cũng chẳng biết mình đi đâu nữa... Suốt cả ngày hầu như tôi không thể nói được với ai lời nào cả.... Chuyện gì sẽ xẩy ra nếu cụ già gặp phải một người tài xế đang ở cuối buổi làm, nóng nẩy chỉ muốn chóng xong việc để còn về nhà... Chuyện gì sẽ xẩy ra nếu tôi từ chối không nhận đón người khách là cụ hay tôi không bước xuống gõ cửa mà chỉ ngồi trên xe nhận kèn một lần rồi lái xe đi....
Tự nhiên nghiệm trong quãng đời trẻ trung ngắn ngủi của mình, dường như là tôi chưa làm được chuyện gì có ý nghĩa hơn là chuyện tôi đã làm trong buổi sáng hôm ấy.
Chúng ta luôn luôn nghĩ rằng cuộc đời sẽ có những khúc quanh quan trọng, đánh dấu bằng những sự việc to lớn, dễ dàng ghi nhớ... Nhưng thật ra, đẹp nhất vẫn là những phút giây nhỏ bé bất ngờ nhưng có xúc cảm mãnh liệt khiến ta phải bàng hoàng đến tê dại cả tâm hồn...
Xin chia xẻ câu chuyện nhỏ này với các bạn, hy vọng vì thế cuộc đời chung quanh chúng ta sẽ ấm cúng và có ý nghĩa hơn.” (Vô Danh).
 
            Vô danh hay hữu danh, hễ cứ kể về cuộc sống có tâm tình/tự sự về những thiếu sót trong đời mình đều là chuyện bần đạo đây vẫn bắt mình phải suy tư/nghĩ ngợi trong mọi giai đoạn cuộc đời. Dù, đó không là chuyện 20 năm về trước của bác lái taxi, hoặc của riêng tôi/riêng bạn, mà chẳng ai muốn thổ lộ cho cha/cố hoặc thánh hội có những vị chỉ nên thánh do tên gọi mà thôi.  

            Nói cho cùng, thánh hội của ta nhất định là thánh, dù có nhiều thành viên trong đó chẳng sống lành và thánh đáng cho mọi người noi gương. Nên, hôm nay và mai ngày, đề nghị bạn/đề nghi tôi, ta cứ nguyện cầu cho mình, và cho thánh hội cần tự-thánh-hoá chính mình, nhiều hơn nữa. Để rồi, ta sẽ là mẫu gương cho động thái đại kết, trong tương lai mai ngày.
           
Trần Ngọc Mười Hai
            Vẫn còn nhiều trăn trở
trong tự kiểm.