Saturday, 12 May 2012

“Em ơi nếu mộng không thành thì sao?”


Chuyện phiếm đọc trong tuần Lễ Thăng Thiên năm B 24.06.2012

“Em ơi nếu mộng không thành thì sao?”
Non cao đất rộng biết đâu mà tìm.”
(Lam Phương – Duyên Kiếp)
(Ga 15: 1-8)
Nếu trên đây, là câu hỏi của ai đó gửi đấng bậc một thời năng nổ, ở giáo phận Parramatta, Sydney, thì câu trả lời trước tiên là từ báo đài địa phương rất dễ tìm, như sau:

“Các chức sắc thuộc Giáo hội Công giáo vừa cất bỏ chức vụ linh mục của vị đương kim chánh xứ họ đạo Glenmore Park, Sydney sau khi ông tiết lộ với đài truyền hình số 7 của Úc là: ông đã lấy vợ trong âm thầm.
Lm Kevin Lee người từng là đấng bậc trụ trì giáo xứ Padre Pio cho biết: có khá nhiều linh mục đã và đang, cùng một lúc, sống những hai cuộc đời, thấy rất rõ. Và, ông biện luận: việc bó buộc linh mục Công giáo sống đời độc thân rồi ra cũng phải chấm dứt thôi.
Lm Kevin Lee nói: ông tin rằng Giáo hội Công giáo đã chọn thái độ làm ngơ trước sự kiện ông lập gia đình, bởi rõ ràng là ông chẳng giấu diếm gì về chuyện ông có quan hệ tình dục với một phụ nữ tên là Jsephina, mà ông có dịp gặp ở Phi-líp-pin vào dạo trước.
Báo chí tường thuật cho biết đấng bậc chủ quản Giáo phận Parramatta là Gm Anthony Fisher, OP đã chối bỏ nguồn tin cho rằng Lm K. Lee biết rõ nhiều linh mục đã và đang cùng một lúc có hai cuộc sống và Giáo hội Công giáo cũng biết rõ chuyện linh mục này đã có vợ.
Gm Anthony Fisher nói: “Như cha Kevin từng biết đến, vì ông đã có hành xử trái với luật đạo, nên ông không thể tiếp tục thi hành chức vụ linh mục được nữa; vì thế nên, tôi buộc lòng phải tìm một vị giám quản khác trông nom cho giáo xứ Padre Pio.”
Được biết, luật Giáo hội quyết rằng: các linh mục phải sống đời độc thân mãn đời mà không linh mục nào được phép lấy vợ.” (x. www.yahoo7News ngày 04.05.2012)

            Chuyện linh mục tằng tịu với phụ nữ hoặc công khai sống với ai đó, có lẽ là chuyện thường ở huyện, bên trời Tây, ở đây đó. Nhưng bảo rằng, hiện có khá nhiều linh mục ở Sydney hay ở Úc vẫn làm thế, có khác nào nhắc nhở Hội thánh Chúa ở đây rằng các ngài nên coi lại luật buộc linh mục phải ở độc thân, nữa rồi.
            Đó là việc đạo, của nhà Đạo. Thế còn, chuyện đời của người đời, thì sao? Trả lời cho vấn nạn này, thật không dễ. Cũng chẳng dễ, như câu ca mà nghệ sĩ nhà mình vẫn hát:

            Đường đời mịt mờ vạn nẻo về đâu,
Mong chờ duyên kiếp đưa lối bắc cầu.
Em ơi, nhắc lại phút xưa gặp nhau!
Trên đê vắng người lúc tan chợ chiều
Ngại ngùng mỗi lần anh đến tìm em
Má em ửng hồng vì quá thẹn thùng.”
(Lam Phương – bđd)

Bảo rằng, đa phần linh mục Công giáo hôm nay lại đã dám hành xử như cựu linh mục Kevin Lee ở Úc, e rằng khó mà có được thống kê chính xác, dù cứ 5 năm một lần, chính quyền Úc vẫn cứ đều đặn lập thống kê khá chính xác trên khắp nước. Tuy nhiên, kiếm tìm mà làm gì khi Giáo hội chẳng mấy bận tâm về những chuyện như thế. Những chuyện như thể bảo rằng giới truyền thông nay lại cứ thổi phồng câu chuyện, tường trình về tin tức…mình, rất như sau:

“Linh mục Kevin Lee nay đang sống ở Manila với ý trung nhân còn mới của mình và ông cho biết ông sống hạnh phúc, nhưng rất nhớ công việc mục vụ trước đây ông vẫn làm mỗi ngày. Được biết, lm Kevin Lee lần đầu gặp vợ là ở quán bán rượu mang tên “Shinjiu No Mori”, có nghĩa là “Khu Rừng Ngà Ngọc.” Tuần rồi, linh mục Lee có cho đài truyền hình số 7 của Úc biết là: ông đã cưới vợ cả năm nay rồi và chính ông từng dấy lên cuộc tranh luận về việc phải cho phép các linh mục được quyền lấy vợ. Đồng thời, ông cũng cho biết ông tin là giáo hội của ông thừa biết chuyện này nhưng chọn thái độ làm ngơ/phớt lờ như không biết, trong khi ông chẳng giấu diếm điều gì.” (x. mạng thông tin đã dẫn ngày 07.05.2012)
 Nghe báo đài kể chuyện riêng tư của cựu linh mục mang tên Kevin Lee, có khác gì khi nghe thêm đoạn nhạc của Lam Phương có ca từ và tiết điệu như:

“Em ơi nhớ chăng thuở ấy
Mỗi khi bóng chiều xuống dần,
Em về trên quãng đường xa
Gặp nhau dù không dám cười
Nhìn nhau, nhìn nhau mà lòng vẫn vui.”
            (Lam Phương – bđd)

“Nhìn nhau (mà) lòng vẫn vui” ư? Điều ấy, chắc chỉ có cựu linh mục ở trong cuộc là còn biết và nhớ chuyện ấy. Chứ, hỏi thành viên Hội thánh rất Công giáo ở Sydney hay toàn nước Úc về chuyện này, đã lấy gì làm chắc. Chưa chắc, là bởi: mới đây vị giám mục chủ quản giáo phận Parramatta, miền Tây Sydney là Gm Anthony Fisher OP, cũng đã về giáo xứ Glenmore Park, để thổ lộ tâm tình người mục tử rất chân chính và chân tình bằng bài chia sẻ như sau:

“Thưa anh chị em,
Tôi không biết phải nói thế nào với anh chị em về chuyện xảy ra với giáo phận trong tuần vừa qua. Một tuần không vui cho cả anh chị em và cả tôi nữa. Có vài người trong anh chị em có lẽ cũng lo buồn và giận dữ đến thế nào thì anh chị em cũng nên biết rằng tôi đây cũng như thế. Với tư cách là giám mục chủ quản, thoạt nghe tin về lối hành xử của cha Kevin Lee, tôi thấy xót xa cho anh chị em; và vốn là người anh em trong Chúa Kitô, tâm can tôi cũng bị xé nát cách nào đó như anh chị em. Tôi quyết tiếp tục nguyện cầu để đầu óc sáng suốt hầu giúp mọi người qua cơn thử thách này.
            Nhiều vị gửi thư cho biết họ đã bị phản bội cách sao đó vì sự dối trá, giả hình cứ thế đổ lên đầu Hội thánh và hàng ngũ linh mục vì hành xử của một trong các linh mục của chúng ta đã vi phạm. Có vị lại nghĩ: lm Kevin Lee là người anh hùng dám chống lại chuyện bắt linh mục phải sống đời độc thân, anh hùng vì dám chống lại quyền bính và những ai lòng dạ hai mặt. Một số anh chị em khác lại đắn đo không biết có nên tin vào các lời báo cáo cũng như đồn đại không. Có vị lại nghĩ: lòng tin của mình đã bị tổn hại trong khi những người khác thấy chẳng mảy may hề hấn gì, hoặc có khi còn củng cố quyết tâm của mình ơn lên.  
            Dịp này, tôi muốn san sẻ với anh chị em đôi điều vì chưa có dịp nói chuyện nhiều với anh chị em. Tôi sẽ đề cập theo từng điểm, sau đây:
1. Tôi muốn nói, đây là dịp tốt để ta thấy rằng dù ta có nỗi đau và rẽ chia, nhưng anh chị em vẫn đến đây để cùng Hội thánh thông phần dự tiệc. Dù biết rằng mình vẫn có thể ném chiếc khăn bẩn vào mặt giáo hội hoặc bỏ đi nơi khác, nhưng anh chị em vẫn có mặt ở đây, để cùng nhau đến với Chúa. Đó là điểm son chứng tỏ sự trung thành và lòng độ lượng của chúng ta. Hôm nay, ta được nghe Tin Mừng thánh Gioan 15: 1-8 nhắc nhở rằng: nếu cắt bỏ đi bất cứ cành nào ra khỏi vườn nho Đức Kitô, thì ta sẽ trở thành cây khô không trái.
2. Trong lúc ta bị xôn xao vì chuyện cha Kevin Lee rời bỏ cộng đoàn, ta vẫn trân trọng công việc ngài làm trong thời gian ngài là cha chánh của xứ đạo này. Giả như có anh chị em nào nghi ngờ điều gì về tính hiệu lực các mầu nhiệm ngài thi hành, cũng xin biết cho rằng: Đức Kitô và Hội thánh dù có những người con lỗi phạm này khác, nhưng hiệu năng của các phép bí tích không tuỳ thuộc vào tính khả thi của linh mục.
3.  Nay là dịp để ta suy nghĩ về lý lẽ và cớ sự dẫn đến thành công cũng như thất bại của đời độc thân linh mục hoặc về tiểu sử của linh mục nào đó cách riêng. Nói cho cùng, thì cách nào đó có thể nói được là chúng ta vẫn có những yếu điểm. Nhưng cho tôi nói thêm đôi điều về bản chất của những khám phá nói chung, phát hiện dạo gần đây.
Theo thống kê trên toàn quốc, thì hầu như dưới phân nửa số người Úc ở độ tuổi lập gia đình còn quyết tâm lập gia đình; hiện có dấu hiệu đáng kể cho thấy số người ở độc thân nay đang gia tăng. Đó là điều thách thức chúng ta, nhưng Hội thánh lâu nay dạy rằng đời sống hôn nhân hoặc độc thân sống một mình vẫn giúp ta nên thánh được hết, miễn ta sống sao cho tốt.
Kinh nghiệm của riêng tôi và của Hội thánh vẫn cho thấy là ta có thể sống đời độc thân một cách có hiệu quả và sinh hoa kết trái vẫn cho phép người tận hiến đời mình cho việc phục vụ Đức Kitô và Hội thánh của Ngài. Thêm vào đó, Hội thánh của ta công nhận rằng cả hai bí tích hôn phối và linh mục vẫn bổ túc cho nhau. Mỗi bí tích đều hoàn tất chức năng của mình đến suốt đời. Đời sống hôn nhân cũng như đời độc thân sống một mình không là chuyện dễ dàng và càng ngày càng có nhiều sức ép đáng sợ đổ dồn về đó. Điều khá ngộ, là: những người sống ở hai bên hàng rào đều cứ nghĩ cỏ vườn hàng xóm bao giờ cũng xanh cũng mướt hơn cỏ vườn nhà mình.              
Ngày nay, ai cũng biết: khủng hoảng về đời sống hôn nhân vẫn lớn hơn đời độc thân, ở một mình. Nhiều người đã đầu hàng cùng thất bại như nhau. Có người chủ trương chung sống trước đã, sau đó nếu cần thì làm đám cưới ngoài nhà thờ, và họ cũng chỉ muốn có ít con hoặc chẳng muốn đứa con nào hết, cuối cùng đi đến ly dị. Nếu so sánh, ai cũng thấy rằng ngày nay số người chia tay ly dị vẫn nhiều hơn tình trạng giảm sút ơn kêu gọi.
Kể chuyện này, tôi cũng chẳng muốn đổ lỗi cho ai hết. Bởi ai cũng biết và cũng thương cho những người đã cố gắng tránh đổ vỡ nhưng không thành. Một phần của vấn đề là xã hội ta đang sống: hiện nay ta ít được sự hỗ trợ của bất cứ ai. Nhưng thật là đơn sơ chất phác nếu có người nghĩ rằng đời sống hôn nhân sẽ giải quyết sự suy giảm ơn ơn linh mục hoặc sức ép lên hàng giáo sĩ. Nhiều chỉ dẫn cũng cho thấy hàng giáo sĩ lập gia đình cũng đang chịu mức giảm sút cộng thêm đó, là khó khăn về chung thuỷ và bền bỉ trong chung sống và trong hàng giáo sĩ có vợ nay cũng có vấn đề đổ vỡ gia đình.          
4. Về chuyện lạm dụng tình dục. Sự việc giáo sĩ có vấn đề về ấu dâm là chuyện khủng khiếp cần loại bỏ cho tương lai trong khi ta vẫn cứ dính líu với quá khứ và vẫn cố gắng giúp đỡ nạn nhân của sự việc. Thế nhưng, cho phép hàng giáo sĩ được lấy vợ không là giải pháp chữa trị được chuyện này và cũng không là giải đáp cho khủng hoảng ơn gọi mà ta gặp. Nhiều nghiên cứu/khảo sát cho thấykẻ xâm phạm ấu dâm đều có đời sống ở bất cứ đâu, có gia đình hoặc độc thân, giáo sĩ hoặc giáo dân cũng có vấn đề này.
5.Thiên Chúa chuyện trò với ta khi ta có nhu cầu hiện tại ngang qua Lời Ngài và bí tích. Thư thứ nhất thánh Gioan tông đồ đoạn 3 câu 18-24 có nói rõ: lòng tin và lòng mến không nên diễn tả bằng lời nói, nhưng bằng việc làm thực sự. Cũng thế, lòng tin và lòng mến vượt quá tình cảm, nên ta diễn tả tấm lòng của ta qua việc tuân giữ lệnh truyền của Chúa. Đôi lúc việc này mang đến niềm vui đích thực, đó là điều mà bài đọc 1 hôm nay gọi là “sự an ủi của Chúa Thánh Thần” (Cv 9: 26-313). Có lúc, lại đem đến cho ta những đổi thay đau đớn, điều mà Phúc Âm hôm nay gọi là “sự tỉa bỏ” (Ga 156: 1-8)Tuy nhiên, ta sẽ không sinh hoa kết trái được nếu tự mình dứt bỏ ra khỏi “Vườn Nho Đích Thực” của Đức Kitô và Hội thánh.
6. Về chuyện linh mục Kevin Lee, không có chuyện gọi là dứt bỏ hoặc trừng phạt nào hết, từ phía giáo phận Parramatta. Ngài không bị vạ tuyệt thông, cũng không bị tống cổ khỏi giáo phận. Nhưng ngài từ chối không liên lạc điện thoại với tôi và với văn phòng địa phận, cũng chẳng thông đạt với Giáo hội mà chỉ liên lạc với báo/đài. Bởi thế nên, tôi cũng bị sốc như anh chị em và biết rất ít về chuyện của ngài cho đến khi chuyện này xảy ra. Như anh chị em, tôi lo lắng cho phúc lợi của ngài và nay thì cả người phối ngẫu và tất cả những ai bị ảnh hưởng do các hành xử của ngài trong những ngày qua. Chúng ta đều biết rõ, là: theo luật Hội thánh và truyền thống giáo hội Công giáo thì không thể để Kevin Lee ở lại làm chánh xứ được nữa vì anh đã lập gia đình. Và chính anh đã rời bỏ thừa tác vụ và giáo xứ như anh muốn.
7. Cuối cùng, tôi muốn nói với anh chị em rằng số rất đông các linh mục và tu sĩ trong giáo phận của chúng ta vẫn cho đi rất độ lượng và phục vụ rất tốt. Tất cả đều là những người anh em trước sau như một, không có cái-gọi-là hai cuộc sống rất chống chõi. Thế nên, chúng ta vẫn phải tin tưởng vào hàng giáo sĩ và mọi người ở Miền Tây Sydney.
Xin cảm ơn Đức Ông Bob McGuckin là Tổng Đại diện giáo phận đã nhận lời làm giám quản giáo xứ vào lúc này. Cảm ơn cha phó địa phận Chris de Sousa đã kịp đến với giáo xứ ngay khi có tin về chuyện vừa qua. Và cha cũng đã hỗ trợ chúng ta rất mực. Sau thánh lễ, tôi cũng vui lòng tiếp chuyện và trả lời tất cả những câu hỏi của anh chị em. Và, nếu anh chị em có những vấn nạn gì cần được giải đáp, xin cứ cho biết tôi sẽ cố gắng để giúp anh chị em có thông tin chính xác. Mới đây, có nhiều anh chị đã đến nói với tôi rằng các vị ấy vẫn đang cầu nguyện cho anh chị em hết thảy. Tôi cũng xin mọi người trong cộng đoàn này hãy hợp cùng các giáo xứ khác vào thánh lễ hôm nay thêm lời nguyện cầu cho tất cả mọi người để rồi Lời Chúa nói trong Phúc Âm hôm nay : chúng ta có thể sinh hoa kết trái đạt niềm vui trong cuộc sống miên trường.” (x. www.Parramattadiocese.net Homelie 6/5/2012 của Gm Anthony Fisher OP oại giáo xứ Padre Pio ở Glenmore Park, Sydney)

Bài chia sẻ của đấng bậc chủ quản giáo phận, phải như thế. Không thể khác hơn. Như thế, còn là những lời khẳng định rất chính qui, mạch lời, không sai sót. Vấn đề, chỉ là phản ứng của người nghe cũng như người quan sát sự việc xảy ra với thế giới của người Công giáo ở Úc, hoặc giáo hội địa phương rất Sydney.  
Nói chung thì, đã sống trong đời, dù đạo đức hay không đạo lý, vẫn luôn phấn đấu để sống cho ra sống. Sống cho ra con người với “tính bổn thiện”. Và, một khi đã phấn đấu thì bao giờ cũng có người thành công hoặc thất bại. Điều đó, tuỳ tầm nhìn của mỗi vị và tùy vị thế của người đang đứng đó nhìn sự việc. Chính vì vị thế và tầm nhìn ấy, có người gọi chuyện của cựu đấng bậc Kevin Lee là xì-căng-đan/tai tiếng, có người lại cho là hồi chuông báo động để Hội thánh Chúa phải thay đổi luật và lệ, vv..
Về chuyện phấn đấu, có người phấn đấu thoát khỏi rượu chè, cờ bạc, trai gái có người lại phấn đấu bỏ đi cơn giận dữ… Điều thấy rất rõ, là: xì-căng-đan/tai tiếng chẳng bao giờ xâm nhập vào được cuộc phấn đấu của bất cứ ai, cả khi người đó ngã gục. Chỉ là tai tiếng với xì-căng-đan khi ta tô thắm khuyết điểm của mình rồi gọi đó là nhân đức, hoặc khi ta cố gắng biện minh cho xét đoán lầm lạc của chính mình rồi thương-mại-hoá cho người khác để họ cũng như ta công nhận đó là sự thật, phải tin tưởng.
Sự việc của cựu đấng bậc Kevin Lee chỉ là một trong nhiều trường hợp vẫn xảy đến ở khắp nơi, vào mọi thời. Nơi và thời, mà hội thánh đây đó vẫn gặp chuyện muôn thuở. Dù có thế, cũng nên nói như nghệ sĩ Nguyễn Đức Quang từng viết thành nhạc bản, bảo rằng: “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi, hãy dùng bàn tay mà làm cho tươi mới…” Nay cũng thế, không phải là lúc để ta xa rời Hội thánh vì khác chính kiến, mà là thời điểm Hội thành vẫn cần bạn, cần tôi ta ở lại mà “làm cho tươi mới”. Hội thánh vẫn cần người làm mới nhiều thứ trong tình yêu, danh dự và tích cực. 
Dựng xây trong tình thương yêu, là Lời của Đấng Thánh Hiền được trích dẫn, vẫn cứ bảo:

“Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy.
Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy,
anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy,
như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy
và ở lại trong tình thương của Người.
Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em
để anh em được hưởng niềm vui của Thầy,
và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.”
(Ga 15: 9-11)

            Lời khuyên của Thày Chí Thánh rõ ràng là thế, mà sao vẫn có người còn nghi ngờ. Ngờ và nghi, đến độ có người vị còn đi hỏi “bậc thày” ở nơi khác. Khác chốn miền. Khác cung cách hành Đạo, nhưng cũng cùng một tâm tưởng hành đạo làm nguời, rất như sau:    

            “-Thưa Thầy, tôi không phải là người theo đạo Phật.
            Xin Thầy chỉ dẫn cho phương pháp tu tập.
-Quí vị muốn phương pháp tu tập với mục đích gì và tại sao lại chọn chúng tôi để đặt câu hỏi?
-Tôi thấy cuộc đời này sao khổ quá. Như tôi đây cũng có trình độ học thức, có công ăn việc làm tốt, gia cảnh đầm ấm, nhưng vẫn thấy khổ tâm nhiều chuyện, nhiều lúc cảm thấy bất an đến độ ăn không ngon ngủ không yên, nhiều điều lo lắng, bực mình lắm!
Tôi muốn được an tâm nên đì tìm phương pháp tu tập để thoát khổ. Tôi chọn qúi Thầy để đặt câu hỏi, bởi tôi thường nhận các emails từ bạn bè ở Canada chuyển tới, với các bài viết tuy mang hình thức Phật giáo, nhưng nội dung hay quá, các bạn của tôi thấy có ích lợi nên chuyển cho tôi, mặc dù tôi không phải theo đạo Phật.
-Trên đời này, người nào không có tâm cố chấp, không có tâm phân biệt, không mang nặng hình thức thế gian thì người đó sống đời an lạc với hạnh phúc xuất thế gian.
- Kính xin Thầy giảng rõ hơn.
- Người đời thường mang hai cái bị. Một cái trước ngực chứa đầy lỗi lầm của người khác. Một cái sau lưng chứa đầy lỗi lầm của chính bản thân. Do đó, người đời thường bực bội, bất an trước các lỗi lầm quá dễ thấy của người khác. Trái lại, với các lỗi lầm của chính bản thân, người đời thường che giấu, không muốn ai thấy, chính mình cũng không thừa nhận, không nhận ra, cho nên khó khá được, cho nên khổ dài dài. Muốn hết khổ, muốn bớt khổ, người đời - dù theo tôn giáo nào - nên đổi vị trí của hai cái bị nói trên.
Khi nhận thấy chính bản thân cũng có quá nhiều khuyết điểm, nhược điểm, người đời chắc chắn không còn dám cất cao giọng chỉ trích nhục mạ người khác, cũng như không còn chỉ trích tôn giáo, tín ngưỡng của người khác đang theo.
-Kính cảm tạ lời chỉ giáo của Thầy. Thực hay quá. Nhưng riêng tôi, tôi không muốn đổi vị trí của hai cái bị đó thì sao, thưa Thầy?
-À, quí vị không muốn đổi vị trí của hai cái bị, thì quí vị đổi nội dung của chúng cũng được mà.
-Tôi chưa hiểu rõ ý của Thầy ?
-Nếu quí vị vẫn giữ vị trí của hai cái bị: Cái bị trước ngực qúi vị chứa đựng toàn là ưu điểm của người khác. Cái bị sau lưng quí vị chứa đựng toàn là ưu điểm của bản thân.
-Tôi vẫn chưa tỏ tường?
-À, khi đó quí vị sẽ thấy ưu điểm của người khác quá nhiều, lắm khi vượt trội hơn mình, mình thực ra chẳng bằng nhiều người lắm. Từ đó, mình bớt đi tánh phê phán, phỉ báng người khác, hãy thu mình lại, quan sát chính bản thân, quan sát chính bản tâm, mình sẽ được bình an ngay.
-Thực là quí hoá, tôi hiểu rồi. Kính chúc Thầy tâm luôn bình an.  Kính cảm tạ.”

            Theo thiển ý, cuộc đời con người không chỉ có mỗi hai cái bị mà thôi, nhưng rất nhiều. Mang được bao nhiêu bị, cái đó còn tuỳ. Tùy tâm tư và tâm tính của mỗi người, mà lựa chọn. Và một khi đã chọn lựa bất cứ thứ gì cho đời mình rồi, tưởng cũng nên quyết tâm theo nó cho đến cùng. Và chọn lựa nào cũng đều vô giá hết; nên sẽ không là chuyện lạ, khi thấy người khác không hành xử như mình.
            Vậy nên, để mọi chuyện được thư giãn/dễ chịu, tưởng cũng nên nghe thêm ca từ cuối có câu hát rất nhè nhẹ, như sau:

“Em ơi phải chăng phút giây ngày ấy
Đôi tim ước mộng bấy lâu thành lời
Dù rằng đường đời ngăn cách tình ta
Phút giây ban đầu mãi không phai nhòa.”
(Lam Phương – bđd)

Hát nhè nhẹ như thế rồi, giờ đây mời bạn và mời tôi, ta cứ chọn lựa để rồi sẽ quyết tâm mà sống. Sống có tình có lý. Có anh có chị và có em trong cộng đoàn Hội thánh, rất Nước Trời.
               Xem thêm »
Trần Ngọc Mười Hai
            Cũng đã chọn và lựa từ lâu
mọi sự, cho đời mình.
để được vui.
Suốt cuộc đời.



Saturday, 5 May 2012

“Ai lên xứ hoa đào, đừng quên mang về một cành hoa,


Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ Sáu Mùa Phục Sinh năm B 13.5.2012

Ai lên xứ hoa đào,
đừng quên mang về một cành hoa,
“Cho tôi bớt mơ màng,
chiều chiều nhìn mây trôi xa xôi.”
 (Hoàng Nguyên – Ai Lên Xứ Hoa Đào)
(Mt 1: 18-19, 20; Mt 11)
Bớt mơ màng”, để người nghệ sĩ nhìn mây trôi xa xôi, mỗi chiều về. “Bớt mơ màng”, bầy tôi lôi thôi là bần đạo, thấy cũng rất khó. Khó, là bởi bần đạo những muốn bớt mơ và ít màng nhưng vẫn chẳng làm sao được. Lúc nào cũng như người mơ màng, vẫn quanh quẩn đôi ba suy nghĩ rắp ranh đời viết  lách. Và, cũng bởi cứ ham viết và lách từ hồi nhỏ, nên mới nghèo.

Về kiếp đời nghèo nhưng không của riêng mình, bần đạo chợt bắt chộp một ý kiến phản hồi rất nóng hổi của bạn bè từ một nơi xa xôi gửi đến những tình tự thương mến rất như sau:

“Thân ái chào anh Mai Tá.
Cảm ơn anh đã gửi bài viết tuần này rất hay và rất phiếm. Em đâu ngờ anh mồ côi cha từ thuở lên 9. Nhưng nay thì, Chúa gửi đến cho anh Người Cha khác để giúp anh viết lên những bài phiếm hữu ích cho mọi người. Tạ ơn Chúa về những gì Ngài ban cho anh trong những ngày này để anh còn tiếp tục kiếp tằm nhả tơ cho bà con thưởng lãm thứ tình của người nghèo.
Thân kính,
TB”

Được lời như cởi tấm lòng, bần đạo lại sẽ tiếp tục suy tư về lòng hiền lành quảng đại của Đức Chúa đã ban cho bần đạo không chỉ một người Cha cao cả trên trời, thôi; mà còn để bần đạo sinh trưởng từ một gia đình nghèo túng, nên mới có cơ hội tưởng nhớ -tức vẫn tơ tưởng và thầm nhớ- đến người đồng cảnh ngộ nay thấy rất nhiều, ở mọi nơi.   

Tưởng và nhớ, đã thấy mình vì nghèo túng vẫn bần thần, nên nhiều lần đã có thói tật rất khác, tuy không phải của người nghèo, là: cứ học đòi bắt chước rồi lại nhái ý/lời hay/đẹp của ai đó, rất thánh nhân ở Kinh Sách rất đạo:

“Nếu có gì để khoe, thì bày tôi là bần đạo đây chỉ dám khoe rằng mình từng sinh trưởng từ một gia đình đông con đến 15 mạng, chỉ một mẹ. Sự nghiệp của người cha, chỉ là vị công chức thường thường bậc trung lao động cật lực tại Bưu Điện Sàigòn suốt 3 niên từ 1949 đến 1952. Bố chết sớm, nên bày tôi bần đạo phải nương nhờ vào mẹ già một nách đến 7 người con còn ở tuổi “tin”, nên mẹ phải dời cư ra Bắc trông nhờ người con khác nay trưởng thành, giúp một tay….”

May là, bần đạo được nương nhờ nhà Chúa với trường Dòng đệ-tử, rồi tu-tập-viện và học viện ở miền cao “xứ hoa đào” êm ả, nên đã khá. Nói khá, là nói theo kiểu văn hoa chữ nghĩa, chứ Dòng thánh bần đạo cùng dự tu cũng chân chất rất thanh bạch. Nhìn lại, tổng cộng đời hàn vi thuở nhỏ cũng kéo dài đến 13 niên; hưởng lộc nhà Chúa rất “bình yên”, vô số sự.
            Thời kỳ “bình yên” được ở xứ có hoa anh đào, bần đạo lại ngâm nga lời ca, như ở dưới:

“Người về từ hôm nao, mà lòng còn thương vẫn thương.
Bao nhiêu năm tháng cũ, mà hồn nào thôi vấn vương.
Giờ này nhìn sương khói ,
Mà thầm mơ mầu hoa trên má ai.”
(Hoàng Nguyên – bđd)

Thì ra, bởi mình “về từ hôm nao mà lòng thương vẫn thương”, nên thấy đó là chuyện của chính mình và người xưa. Của, những người và những vị vẫn thương rất nhiều mà cũng không biết rằng thương như thế có là thương hại hay thương xót, chăng? Hoặc, cứ “lòng còn thương vẫn thương” kiểu các cụ nhà Đạo tuy vẫn cứ nói rất nhiều đến tình thương của Đức Chúa, nhưng lại nhà Đạo mình lại vẫn thiếu tình thương đổ xuống với người nghèo, vẫn thường thấy. 

Kịp đến khi có người nghèo nào đó cắc cớ chẳng còn lui tới nhà thờ để nghe mình giảng giải nữa, mới kêu than rồi hỏi han: “Chúa đâu rồi?”, “sao Ngài cứ bỏ con một mình?” như lời kêu gào của nhiều người vẫn còn nghèo về tinh thần.

Hỏi và han câu như thế, cũng từ tựa câu han hỏi của một số bạn đạo gặp đâu đó, trên truyền thông/báo chí, rất chí lý như sau:

“Mới đây không lâu, vị lãnh đạo Dòng Tên là Lm Adolfo Nicolas được một người trẻ ở Úc đưa ra câu hỏi nghe cũng lạ, để bảo:
-Dạ thưa, nếu cha là người có trọng trách đem đến cho giới trẻ ý kiến tư vấn giúp họ kiến tạo nghề nghiệp hoặc tương lai quyết phục vụ người nghèo cho đúng cách, nhưng người ấy lại không muốn để hết đời họ ra mà lo việc đó, thì ý của cha ra sao?
-Để trả lời, cho tôi hỏi bạn câu này: trong đời bạn, có chuyện gì khả dĩ đánh động tâm can của bạn không? Giả như, tâm can bạn bị đánh động bởi việc gì đó thì khi ấy, bạn sẽ thấy lời mời gọi từ Bên trên khiến mình cương quyết thực hiện cho bằng được cho tốt lành. Và, giả như bạn có thể đến được với người nghèo là do động cơ hay thứ gì đó đánh động tâm can khiến bạn hăng say làm việc hơn, thì việc làm ấy chắc chắn sẽ là công việc rất tốt đẹp. Bạn có hăng say làm việc vì chính tâm can bạn bị đánh động bởi động lực nào đó, thì khi đó bạn mới có được niềm an vui, nghị lực và tinh thần để có thể liên kết hài hoà với mọi người, chí ít là người nghèo.
Theo tôi thì, sống ở đời dù làm gì đi nữa, cũng vẫn là nghe theo tiếng gọi của Đấng ở Trên khuyên nhủ mình làm thôi. Đôi lúc ta lại cứ tưởng ơn gọi làm ngôn sứ do Chúa mời sẽ là “tất cả hoặc không là gì cả” để rồi ta lại nghĩ nếu mình không sống đời lành thánh như các bậc hiển tu như thánh nữ Mary MacKillop của Úc hoặc như Mẹ Têrêxa thánh Calcutta hoặc thánh nào khác, thì khi đó ta sẽ bị rơi vào cảnh thiếu mất ơn lành Chúa ban. Từ đó trở đi, ta sẽ làm cho đời mình nên khốn khổ, rồi nghĩ rằng mình chẳng xứng với ơn gọi Chúa ban cho. Nhưng tôi nghĩ, đó không là cung cách mà ơn gọi từ Chúa gửi đến, sẽ diễn tiến.”
Lm Adolfo Nicholas dùng cụm từ niềm “an vui” và “nghị lực” là có ý nói đến những gì rất gần với ý nghĩa của việc đeo đuổi ơn gọi. Khi ta có được ơn gọi đích thật, hẳn là khi đó ta sẽ có cảm giác rất phúc hạnh và đủ nghị lực để đeo đuổi ơn gọi ấy cho đến cùng. Như thể, ta có Thần khí Chúa sống trong người vậy.
Dĩ nhiên, ơn gọi đích thật vẫn là biết san sẻ quà tặng ta nhận được với người khác và làm cách nào đó để nhận ra được sứ vụ cao cả hơn nữa. Sứ vụ ấy mang dáng dấp của kinh nghiệm sống của chính ta, và loại hình tài năng ta khám phá là đang có trong ta. Sứ vụ ta có, là việc sống và phục vụ người nghèo và những người dễ bị tổn thương cũng như người sống bên rià xã hội phải là trọng tâm ưu tư của ta.
Đề nghị mà Lm Adolfo Nicholas đưa ra cho người trẻ vào hôm đó, là việc hối thúc anh ta làm sao phối hợp được niềm an vui phục vụ người nghèo bằng bất cứ nghề nào mà anh chọn lựa và đeo đuổi sau này.
“Người nghèo đâu có là người sống ở góc xó nào đó bên bờ rià xã hội để ta nhìn vào rồi dửng dưng hoặc ngoảnh mặt không thèm nhìn. Họ chính là thành phần xã hội mà ta đang cùng sống. Muốn phục vụ xã hội hôm nay cho đúng cách, có lẽ cũng nên bao gồm cả những người như thế; bằng không, xã hội của ta sẽ chẳng là xã hội lành mạnh.” (x. Michael McVeigh, Australian Catholics, Summer edition, tr. 5)     

Nói như giáo dân trẻ người Úc trích dẫn ở trên, là nói thế. Nói và hát như nghệ sĩ viết về xứ hoa đào, sẽ như sau:

“Ôi! màu hoa đào, màu hoa đào chiều xuân nào.
Ôi! màu hoa đào như môi hồng người mình yêu,
Ôi! màu hoa đào đã bao lần vì màu hoa.”
(Hoàng Nguyên – bđd)

            Quả có thế. Lên xứ hoa đào mà còn “mơ màng” liên tưởng đến những là: “môi hồng người mình yêu”, hoặc: “màu hoa chiều xuân nào”, vv.. thì chưa phải. Bởi, ngay ở xứ miền đầy mộng mơ, rất lờ mờ nhờ tính đào hoa/hoa đào, có nhiều người cần đến để tưởng nhớ. Tơ tưởng và nhớ đến, như ý/lời của bức tâm thư mà người cha là văn hào Charles Dickens viết cho con là Plorn với lời lẽ như sau:

                        “Con thân yêu,
Hôm nay cha muốn có đôi lời thân thương gửi đến con, để con nhớ đến vào lúc con có thời khắc bình yên tưởng nhớ đến ai đó. Cha thấy chẳng cần nói con cũng hiểu là cha thương con biết chừng nào và cha cảm thấy áy náy không đến với đứa con thân yêu nay xa cách. Nhưng đời người vẫn gồm những cách xa, khốn khổ như thế.
            Cha muốn khuyên con đừng bao giờ kiếm tìm lợi lộc từ bất cứ người nào mà con có dịp giao dịch ở đời và đừng tỏ ra khó dễ với họ cả khi mình có quyền để làm thế. Nhưng hãy cố đem đến với mọi người những gì mình muốn họ đem đến cho mình. Và, cũng đừng nản lòng nản chí khi chính họ, đôi lúc, cũng không thể làm được những việc mà họ muốn. Khi ấy, tốt hơn cho con hãy nghĩ rằng: khi người khác cũng từng thất bại khi không biết tuân theo qui định lành thánh mà Đấng Tối Cao đặt ra, thì họ cũng hệt như con đã từng thất bại giống như thế. Đó là lý do khiến cha phải cài đặt cuốn Tân Ước vào chồng sách con mang qua xứ miền đầy mộng mơ ấy. Hy vọng, đó là lý do khiến cha viết những truyện cho tuổi trẻ để con hiểu khi con còn ấu thơ. Bởi, điều đó sẽ dạy cho con bài học cao đẹp về con người vốn là tạo vật luôn tìm cách sống thành thực và thuỷ chung với bổn phận và luôn cần được hướng dẫn.
            Như các anh con, nay từng người một, đã đi làm ở nơi xa, nên cha cũng đã viết cho mỗi người anh của con những lời lẽ tương tự như điều cha viết cho con. Và, cha cũng gửi đến các anh con lời dặn dò hãy để sách Tân Ước dẫn dắt đời mình trong mọi hoàn cảnh.
Nay, cha long trọng đặt lên con sự thật và nét đẹp cao cả của Đạo Chúa, vì Đạo đến từ Đức Kitô. Cha cũng muốn nói thêm là: nếu con chịu khó để tâm tôn kính những gì được ghi trong Sách đó thì con sẽ không thể có sai lầm nhiều hơn. Còn một điều đang nảy ra trong đầu khiến cha phải nói ra, là: khi ta cảm nghiệm được điều ấy, ta sẵn sàng gìn giữ nó. Thế nên, đừng bao giờ lơ là mà bỏ mất thói quen nguyện cầu ở chốn riêng tư. Xưa nay, chẳng bao giờ cha sao lãng việc ấy và cha cũng đã cảm nghiệm được niềm ủi an có được từ việc nguyện cầu trong thinh lặng.
Cha hy vọng là con sẽ luôn có khả năng cả vào đời sau, để nói được rằng con cũng đã có được người cha hiền lành tử tế, là như thế.” (x. Michael McGirr Australian Catholics Summer edition tr. 8)

            Trích dẫn thư độc thoại giữa cha-con, tác giả chỉ muốn nhắn nhủ một điều, là: hãy đọc và để cho sách Tân Ước dẫn dắt. Thêm nữa, sống trong đời, dù ta có nhiều thời khắc mộng mơ đẹp như “hoa đào” ở xứ miền cũng rất cao như thế, vẫn là những tháng ngày cần tưởng và nhớ đến những người không được như thế. Những người, có thân phận giống như mình, nhưng chưa một lần được hưởng những “màu hoa chiều xuân nào”, như thế.    
                               
            Trích thư của Charles Dickens viết cách nay gần 200 năm, là để nhắc mình về ca từ của người nghệ sĩ cũng từng có lời ca thân thương như thế và như thể:  

“Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi,
Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi.
Thông reo bên suối vắng, lời dìu dặt như tiếng tơ,
Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.
Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa.”
(Hoàng Nguyên – bđd)

Nghe tâm tư mơ ước … đẹp như chuyện ngày xưa”, còn là nghe và nhớ những lời vàng ngọc mà thánh nhân hiền lành vẫn từng khuyên đệ tử của mình:

“Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an,
thánh hoá toàn diện con người anh em,
để thần trí, tâm hồn và thân xác anh em,
được gìn giữ vẹn toàn, không gì đáng trách,
trong ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, quang lâm.
Đấng kêu gọi anh em là Đấng trung thành: Người sẽ thực hiện điều đó.”
            (1 Th 5: 23-24)

Đấng kêu gọi anh em”, Ngài vẫn kêu và vẫn gọi mọi người hãy sống lành thánh, có thần trí và thân xác vẹn toàn. Kêu và gọi, là Lời Ngài gửi đến hết mọi người chứ không riêng ai, dù đấng bậc hoặc các vị đạo mạo chốn đời tu, thôi. Quả thật Đức Giêsu từng kêu gọi mọi người hãy dấn bước theo Ngài. Theo như thế, sẽ bỏ mọi chuyện mang tính thế trần mình trân quý để cho đi toàn bộ con người mình, vì mục đích lý tưởng.

Trên thực tế là, những người ở mọi nơi từng dấn thân đời mình để sống thành cộng đoàn đạo hạnh nhỏ. Có những người hiến toàn thân cho việc giảng dạy, mục vụ hoặc trợ giúp y tế. Đời họ chỉ thành đặc trưng khi chính họ nhận lời mời theo chân Chúa vào mọi lúc. Cả lúc lặng thinh, trầm mình hoặc năng nổ.

Quyết tâm dấn bước theo chân Chúa, làm đổi thay cuộc đời mỗi người. Đổi và thay, để quyết định xem việc nào cần thiết cho chính mình, việc nào không. Quyết, là định cách nào để có được tương quan với Chúa vẫn quan trọng hơn tiền bạc, công việc hoặc tăm tiếng để đời. Để rồi cuối cùng, quyết tâm ấy sẽ làm đời mình nhất định có ý nghĩa.

Theo chân Chúa, rõ ràng có nghĩa nối kết với hết mọi người. Bởi theo Chúa như thế, là mình đã kết hợp thành đội đồng hành quyết san sẻ cả cuộc sống. Theo chân Chúa, không có nghĩa chỉ rút lui ẩn mình hầu tránh né mọi đụng chạm/gặp gỡ người đời. Nhưng, là: ra ngoài để gặp mọi người. 

Theo chân Chúa còn có nghĩa: trường mặt ra ngay tiền tuyến cùng với niềm tin. Tin rằng mình chỉ hiểu và yêu Chúa bằng vào và qua việc giáp mặt nhìn thẳng vào đường lối mình đang sống, mỗi thế thôi. 

Theo chân Chúa, trong cuộc sống ở đời rất hôm nay, là có được thị kiến rất chính đáng những gì quan trọng trong cuộc sống xã hội. Rồi từ đó, quyết định thiết lập cộng đoàn san sẻ niềm tin-yêu trong chung sống. Sống tập thể, ngay giữa giòng đời có những sự thể rất “đời thường” thực tế, không thể quên. 

Theo chân Chúa, còn là nghe theo lời nhắn gọi mang tính “đời thường” có âm vang giòng nhạc đầy những hỏi han, dặn dò rằng:

“Ai lên xứ hoa đào, đừng quên bước lần theo đường hoa
Hoa bay đến bên người, ngại ngần rồi hoa theo chân ai.
Đường trần nhìn hoa bướm, rồi lòng trần mơ bướm hoa,
Lâng lâng trong sương khói, rồi bàng hoàng theo khói sương,
Lạc dần vào quên lãng, rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên.”
(Hoàng Nguyên – bđd)

Nói cách khác, theo thì vẫn theo, nhưng đừng quên rằng cuộc đời con người không chỉ mỗi thế, nhưng còn nhiều hơn thế. Còn có lý tưởng đẹp hơn thế, rất dễ nể, đáng yêu. Theo, là nhớ rằng: ngày nay có rất nhiều người vẫn dấn bước đến với Chúa trong mọi người. Tức, đến với người anh em còn bần hàn, ai oán suốt đời. 

Bước theo chân, còn là biết rằng: có những người nay vẫn cứ bước dù không muốn sống thành đội ngũ nhiều bức bách, khó khăn mà họ cho là rào cản để họ không thực hiện được điều mà thánh nhân hiền lành từng căn dặn. Bước theo chân, để rồi vẫn nhớ rằng thời buổi hôm nay vẫn có nhóm hội không khấn nguyện theo kiểu xưa cũ nhưng vẫn có thể ở bên nhau để thực hiện lý tưởng của Nước Trời đang diễn tiến với con người. 

Theo chân Chúa, còn có nghĩa hiểu biết chuyện tương lai mai ngày xảy đến với thế giới. Một thế giới đang đổi thay, không phải luôn đi vào ngõ cụt, nhưng còn có những nơi đang tiến dần vào một đáp trả lời mời gọi của Đức Chúa. Đáp trả, tuỳ cung cách và hoàn cảnh của mỗi người, không nhất thiết phải giống nhau. Như nhau.

Theo chân Chúa, là: vẫn cứ theo nhưng thỉnh thoảng cũng nên tự hỏi và “mơ màng” về một “xứ hoa đào” trong đó có vị từng bộc bạch:

“Lâu nay ta vẫn muốn theo Chúa, cho đúng cách. Như thế tức có nghĩa: vốn là người công chính, các vấn nạn luôn tìm đến với ta, qua câu hỏi tựa hồ như: ngay  từ ban đầu Thiên Chúa đã chúc lành cho mọi người để họ sống chứ không phải là từ ban đầu, mọi người đều đã mắc tội tổ tông truyền lại và từ đó đã phải khựng lại để không còn chứng tỏ là mình đáng được Chúa chúc lành, như nhiều người vẫn quan niệm?     
Hoặc cứ hỏi: nếu ta có thể cất bỏ đi ý tưởng về sự cứu độ khỏi sự sống mang tính cá thể để đến được với sự tự do căn bản ư? Tự do này, không là thứ tự do không bị mọi ràng buộc, trói cột vào lời hứa, sự trung thành, những quyết tâm và hy sinh bản than. Nhưng, tự do ấy là thoải mái đến với cuộc sống thoát khỏi mọi giận dữ, hoặc ra khỏi sự thương hại cho chính mình, thoát khỏi nhà tù bản ngã, để có thể lớn lên trong ân huệ, và khống chế tính vị kỷ. Tự do, là để con người có thể sống hài hoà với thiên nhiên, phá bỏ xiềng xích của hãi sợ, chí ít là sự chết. Tức, hân hoa dấn bước theo chân Chúa để nghe theo lời Ngài dạy thay vì chỉ biết thờ kính Ngài mà không sống như Ngài dạy ta phải sống.
Chính vì thế, nhiều lần ta ra như thất bại, vẫn cứ coi mọi sự như thói quen sưu tập sử hạnh của các thánh mà thôi. Cũng may là, sức mạnh của cộng đoàn được Chúa yêu thương đã thắng lướt mọi sự. Và đây chính là phép lạ xảy đến cho công cuộc mục vụ ở giáo xứ.” (x. Robin R Meyers, A Precher’s Dream: Faith As Following Jesus, Saving Jesus from The Church, HarperOne 2009, tr. 227)

Bằng vào kinh nghiệm dấn thân theo chân gặp gỡ Chúa, mỗi người một hoàn cảnh có kinh nghiệm ân sủng mình nhận được. Không thể nói cái nào hay cái nào dở. Cũng tựa như lời Chúa nói: “Nhà Cha ta có nhiều chỗ ở”. Vậy nên, khi đã nhận được ân sủng Chúa ban phát, điều hay nhất vẫn là cất tiếng tung hô ngợi khen để Danh Cha được cả sáng.

Trước khi đi vào phần kết câu chuyện mạn phiếm hôm nay, tưởng cũng nên về với truyện kể để dễ nhớ. Truyện rằng:

“Các hành khách trên xe buýt đều quay về phía cố gái xinh đẹp vừa bước lên xe với vẻ ái ngại. Cô đến trả tiền bác tài rồi lần dò vào ghế ngồi bằng chiếc gậy mầu trắng, rồi từ từ ngồi vào chỗ, đặt chiếc cặp lên lòng và chiếc gậy dựa vào chân.
Đã một năm rồi, từ ngày Susan, tên của cô gái, khi ấy mới đôi mươi đã bị mù. Do bác sĩ chẩn đoán sai, nên cô thành người khiếm thị. Đột nhiên rơi vào thế giới tối đen, đầy những phẫn nộ và tuyệt vọng, suốt ngày chỉ biết thương thân trách phận. Và rồi cũng phải bám chặt vào người bạn trai tên là Mark, một sĩ quan không lực Hoàng gia và anh yêu cô với cả rái tim với lòng thuỷ chung hiếm thấy. Tình yêu rất mãnh liệt như 5 năm trước hồi mới quen. Khi cô gái mất thị lực, thấy cô càng ngày càng chìm sâu trong tuyệt vọng, nên anh đem lòng xót thương và quyết định giúp cô lấy lại sức mạnh cũng như niềm tin, ngõ hầu tạo lại tính độc lập bản thân.
Cuối cùng thì, Susan cảm thấy cô đã sẵn sàng trở lại làm việc, nhưng cô đi tới đó bằng cách nào? Trước kia, cô vẫn thường đi xe buýt đến mọi nơi, nhưng nay vì qúa sợ hãi nên không thể đi lại trong thành phố chỉ một mình. Mark bèn tự nguyện lái xe đưa cô đi làm hàng ngày mặc dù nơi cô và anh làm việc lại ở hai đầu thành phố. Thoạt đầu, điều này cũng an ủi Susan phần nào và khiến Mark thấy dễ chịu vì đã làm được việc là bảo vệ người vợ khiếm thị của anh hiện thấy bất an trong mọi sự.
Chẳng bao lâu, Mark nhận thấy cách sắp xếp như thế vẫn không ổn thỏa, vì chẳng giúp cho Susan tự hoà nhập với hoàn cảnh mới. Anh tự nhủ thầm trong bụng: Susan cần tự tin để đi xe buýt trở lại. Nhưng ngặt một nỗi là cô vừa quá yếu lại bi quan, cô sẽ xử sự ra sao khi gặp tình huống không êm trên xe buýt? Đúng như anh dự đoán, Susan rỏ ra hoảng sợ khi biết là Mark muốn cô trở lại đi xe buýt như hồi trước. Cô nói với anh:
-Em mù loà thế này, làm sao biết mình đi đâu, tới chỗ nào mà đi làm? Em có cảm giác như anh đang muốn bỏ mặc em thì phải?
Trái tim của Mark tựa hồ như vỡ toang khi nghe những lời Susan nói, nhưng anh biết mình sẽ phải làm gì. Anh bèn hứa: sẽ cùng đi xe buýt với cô cả buổi sáng lẫn ban chiều bao lâu cũng được cho đến khi cô thấy quen dần và tự lo liệu lấy cho mình. Sự việc diễn tiến y như Mark dự kiến.
Suốt hai tuần lễ, Mark mặc quân phục cùng vợ lên xe buýt đi về hằng ngày. Anh dạy cô biết cách đựa vào các giác quan của mình, nhất là thính giác để xác định xem mình đang ở đâu và làm thế nào để thích nghi với hoàn cảnh mới. Anh còn giúp cô làm thân kết bạn với mọi người, từ bác tài đến mọi người cùng đi. Cuối cùng mọi người đều trông chừng cho cô không những dành cho cô một chỗ xứng đáng lại còn giúp cô đi đứng giống như người mắt sáng. Kể từ đó, tất cả mọi người trở thành thân quen, giúp đỡ lẫn nhau và rất trân quý những người tàn tật giống như cô.”

            Truyện kể ở thời buổi cách mạng vi tính mà sao nghe như truyện cổ tích thời Nghiêu Thuấn. Và người kể đã đưa ra một lời bàn rất đáng nể, là: trong mọi hoàn cảnh, mọi thứ trên đời chưa đến thời thế tận của mọi người. Bởi thế nên, hãy sống sao để mọi người trong cộng đồng mình chung sống, trở thành thân quen như người một nhà, thế mới phải.

            Đề nghị của người kể hôm nay đưa bạn và tôi vào tình huống của Nước Trời có những người không nói nhiều, nhưng vẫn sống. Sống không nghèo nhưng có tinh thần của người nghèo tức không cần dựa dẫm vào tiền bạc hoặc của cải của riêng ai, mà chỉ trông chờ vào tình thương yêu đùm bọc của người cận thân và cận lân. Ngẫm như thế rồi, nay đề nghị bạn và tôi ta hát tiếp câu thơ ở dưới
   
“Người về từ hôm nao mà lòng còn thương vẫn thương
Bao nhiêu năm tháng cũ mà hồn nào tôi vấn vương.
Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai.”

Về hôm nao hay hôm nay, “mà lòng còn thương vẫn thương”, để rồi giờ này “có nhìn sương khói mà thầm mơ mầu hoa trên má ai”thì bạn và tôi cũng sẽ thấy đời mình còn đẹp hơn “hoa đào”, ở xứ nào cũng thế.

Trần Ngọc Mười Hai
luôn thấy đời mình tuy nghèo
nhưng vẫn đẹp như bài thơ xứ hoa đào
của ai đó, vẫn rất thân.