Monday, 4 November 2019

“Cho nhớ thương về quê xưa.”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 32 thường niên năm C 10/11/2019

“Cho nhớ thương về quê xưa.”
Mùa Xuân không còn nữa,
Muôn cánh hoa đào phai úa,
Lối cũ rơi hững hờ.”
(Nguyễn Hiền – Hoa Bướm Ngày Xưa)


(1Phêrô 4: 12-16)

“Nhớ thương quê xưa”, “Xuân mùa không còn” rồi thì cả đến “lối cũ” cũng như “hoa đào” hoặc hoa xuân ít nhiều cánh, cũng chẳng ai còn nhớ, còn thương như khi xưa, bao giờ.

Đó, là niềm thương niềm nhớ về chốn cũ ”Ngày xanh”, “Hồn thơ mơ màng” và… thôi thì cú đủ  trăng thanh gió mát, “làn mây trôi”, “Khung trời hoa bướm”, “Nắng tơ vàng”, đủ thứ, hết mọi loại lại cứ ơ hờ, trời mơ quẩn quanh đây đó mấy tư-tưởng đầy những thơ như câu ca còn hát mãi: 

“Nơi ấy bao ngày xanh qua
Hồn thơ mơ màng quá
Yêu những khung trời hoa bướm
Với nắng tơ vàng êm
Yêu sao ngày thơ ấu
Đất nước chưa thay màu
Những tấm lòng thương nhau
Cười nghiêng nghiêng tà áo
Năm tháng theo làn mây trôi
Ngày thơ xa dần mãi
Nơi cũ dâng sầu tê tái
Sắc bướm hoa tàn phai
Hồn bướm hoa xưa còn đâu?
Vườn cũ quê nhà yêu dấu
Mầu nắng xưa còn lưu luyến
Hương sắc ngừng trôi trước thềm
Còn nhớ hay chăng người ơi!
Chiều nào thầm nghe lá rơi
Ta nắn cung đàn u sầu
Thương ngàn cánh hoa phai mầu

Cho nhớ thương về quê xưa
Mùa Xuân không còn nữa
Muôn cánh hoa đào phai úa
Lối cũ rơi hững hờ
Nơi ấy bao ngày xanh qua
Hồn thơ mơ màng quá
Yêu những khung trời hoa bướm
Với nắng tơ vàng êm
Yêu sao ngày thơ ấu
Đất nước chưa thay màu
Những tấm lòng thương nhau
Cười nghiêng nghiêng tà áo
Năm tháng theo làn mây trôi
Ngày thơ xa dần mãi
Nơi cũ dâng sầu tê tái
Sắc bướm hoa tàn phai
Tìm thấy đâu ngày thơ êm ái
(Nguyễn Hiền - bđd)

Hôm nay đây, và có lẽ cả trong mai ngày nhiều thế hệ, bạn cũng như tôi sẽ không còn thấy bơ phờ nhiều giòng chảy tư-tưởng đầy những thở than, lan man một “bồ chữ”, rất như sau:

“Thưa Cha,
Có thể nào, cũng xin Cha kể cho đám con cháu còn ngu muội đây, đôi điều về “Linh-hồn xâm nhập xác phàm loài trẻ bé”. Xâm nhập từ đâu? Khởi từ khi nào? Từ buồng trứng hoặc tử cung đây? Con có đứa con gái rất đáng yêu từng xảy thai khá nhiều lần khiến con đây cứ tự hỏi lòng mình là: với các thai nhi chưa kịp mang hình hài trai, gái xác phàm có chăng linh hồn của trẻ thơ? Linh hồn ấy, hẳn cũng đạt chốn thiên đường khi chết sớm đấy chứ? Xin Cha bố thí cho con đôi giòng chữ thân thương giải đáp để con còn biết mà thưa thốt với mọi người, trong ngoài Giáo hội!”

Vâng, đấng bậc nhà Đạo đây có bố thí cho người hỏi đôi giòng tư-tưởng không “ta bà” nhiều bến đáp, rất như sau:

“Trước nhất, theo thiển ý, ta cũng nên tìm về bối cảnh trong đó ta có những hai sự thật về đời người, ở đời. Trước hết, qua cụm từ “linh hồn” nói chung, mọi người thường diễn-tả nguyên-tắc sống của mọi sinh-vật trong trời đất. Tất cả mọi sinh vật sống, từ cây cỏ, thú vật hoặc bản-thể người đều có một thứ gọi là ‘hồn’. Chính cái ‘hồn’ này tạo sự hợp nhất cho bản thể ấy, và theo nghĩa triết-học cái đó được gọi là ‘hình-thức’ của chất vật.

Tuy nhiên, duy chỉ nơi con người cái hồn này mới mang tính linh thiêng, có khả năng am-hiểu, tư-duy và thương mến, vv… Rồi từ đó, hồn người mới lại có chính hành-động tư-tung tự tác, biệt-lập với thân xác rồi cứ thế nó tiếp tục hiện-hữu mãi đến khi người ấy quá vãng đi vào chốn thiên thu bất tận.

Thứ hai là, hồn thiêng nơi con người do Thiên-Chúa trực-tiếp dựng nên. Bằng vào lời lẽ ở Sách Giáo-lý, ta đọc được những lời sau đây: “Giáo Hội dạy rằng: tất cả thần-hồn linh-thiêng đều do Thiên Chúa trực-tiếp tác thành –chứ không do cha mẹ ‘sản sinh’-  và hồn thiêng con người luôn bất tử; hồn thiêng không héo rụi khi tách rời khỏi xác thể vào lúc chết và nó sẽ kết hợp trở lại với xác thân vào ngày Phục sinh sau hết.” Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đoạn 366; và ở câu 33)                 

Nhìn vào lịch sử Giáo hội, ta thấy Aristotle (384-322 trước Công nguyên) dạy rằng: bản thể người lúc đầu đã có hồn thực vật hoặc hồn cỏ cây, rồi sau đó có hồn cảm-xúc hoặc hồn thú và cuối cùng là hồn trí-tri hoặc hồn người. Với ông, thì việc nhập hồn, tức việc hồn người gia nhập thể xác xảy ra 40 ngày sau khi thụ thai, đó là đối với nam-nhân và 90 ngày với nữ-giới. Vào lúc ấy, mọi người tin rằng chỉ sau thời gian ấy ta mới thấy có sự chuyển động trong cung lòng người mẹ và chỉ khi ấy việc người mẹ mang thai mới chắc chắn.

Với các triết-gia khác, nhóm Khắc Kỷ chủ-trương rằng hồn thú chỉ thành hình sau khi sinh ra, tức vào lúc thú con tiếp xúc với không khí và sau đó mới đổi thành hồn có lý-trí vào độ tuổi 14 thôi. Các triết-gia theo thuyết Êpicure và Pythagore lại tin rằng hồn thiêng khởi sự hiện-hữu ngay vào lúc thú mẹ thụ thai.         

Giáo hội thời đầu, có rất nhiều vị chuẩn-nhận lập-trường của triết-gia Aristotle. Nhưng, ý-tưởng bảo rằng hồn thiêng thấm nhập thể xác vào lúc thụ thai lại cũng được mọi người chấp-nhận ngay từ thế kỷ thứ 3 và sau đó thánh Grêgôriô thành Nyssa lại cũng xác-nhận sự thật này vào thế kỷ thứ tư.

Mãi sau này, quan-điểm của Aristotle mới trở-thành lập-trường của nhiều người hơn nữa là do họ đặt nền-tảng trên sự tin tưởng bảo rằng chỉ vào khi thai-nhi đã thành-hình rồi mới có được hồn người. Đến thế kỷ thứ 5, thánh Âu-tinh mới theo lập trường này dù thánh-nhân sau đó cũng biện-luận nhiều về sự việc hồn thiêng mọi loài có khả-năng xuất-hiện trước lúc đó.

Đến thế-kỷ thứ 13, thánh Tôma Aquinô lại đã công-nhận rất hết mình khái-niệm của Aristotle chủ-trương rằng phôi-thai ban đầu đã có hồn thực-vật và hồn thiêng xúc-cảm của con người xuất-hiện vào 40 ngày sau.

Đi thẳng vào thời hiện-tại, Giáo-hội lâu nay vẫn chưa khẳng-định khi nào thì hồn thiêng nhập-định. Đây vẫn là vấn-đề còn mở ngỏ, suốt từ lâu.

Thánh bộ Giáo-lý Đức tin có tuyên-bố thẳng-thừng về chuyện này qua Tông thư Tuyên-ngôn Phá thai ban hành năm 1974, khi ấy nói rõ: “Tuyên ngôn đây, dứt khoát để sang một bên vấn đề hỏi rằng: khi nào thì hồn thiêng con người nhập-định vào thân xác. Về điểm này, truyền thống Giáo-hội không nói rõ chuyện đó và các tác-giả lại cũng bất đồng ý kiến về chuyện ấy. Với nhiều vị, sự việc này xuất-hiện ngay vào lúc khởi đầu; các vị khác lại chủ-trương: ít ra thì, sự việc này cũng không xảy ra vào lúc phôi thai đi vào cung lòng của người nữ. Và, chuyện này khoa-học cũng không có thẩm-quyền để phân-định các lập trường khác biệt, bởi lẽ việc linh hồn bất-tử hiện-hữu không là vấn-đề đặt ra cho họ.

Đây là vấn đề triết-học chứng tỏ rằng những gì ta khẳng định về đạo đức vẫn mang tính biệt lập, vì hai lý-do: thứ nhất, nếu có được sự sinh động muộn màng đi nữa, thì sự sinh động đó vẫn không là gì hết so với sự sống con người đang chuẩn bị đón nhận hồn thiêng trong đó bản-chất người được hoàn tất xuất từ cung lòng của mẹ cha. Mặt khác, điều đó cũng đủ để nói rằng sự hiện hữu của hồn thiêng này chỉ là khả-hữu-thể(và không ai lại có thể chứng minh điều ngược lại)ngõ hầu việc chấp-nhận sự sống bao gồm cả việc chấp-nhận mối nguy hiểm sẽ giết chết con người, không phải chỉ vì còn đợi chờ, nhưng đã sở-hữu hồn này rồi.

Thành thử, dù không biết rõ khi nào thi hồn thiêng nhập-định vào với xác thể, nhưng ta vẫn nắm chắc rằng nó đã có đó thoạt vào lúc rất sớm, cả khi người mang bầu bị xảy thai.

Với ơn cứu độ, Sách Giáo lý Hội thánh quả quyết rằng: trường hợp trẻ bé chết đi cả vào lúc bé chưa chịu phép thanh-tẩy, Giáo hội chỉ có thể phó thác bé trong tình thương của Thiên-Chúa và Giáo hội vẫn làm lễ mồ cho bé như người thường.

Quả thật, Thiên Chúa lòng lành vẫn mong muốn sao cho tất cả mọi người được cứu rỗi, và lòng từ-ái của Đức Giê su đối với con trẻ là nguyên-do khiến Ngài bảo ban các môn-đệ trong Tin Mừng, bảo rằng: “Hãy để con trẻ đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng”, (Mc 10: 14). Từ đó, ta có lý để hy vọng rằng vẫn còn đó con đường cứu rỗi các trẻ bé chết đi trước khi lĩnh nhận bí tích thanh tẩy.”  Như sách Giáo lý Hội thánh Công giáo đoạn 1261 từng đoan quyết. (X. Lm John Flader, The Child and the soul, The Catholic Weekly 27/10/2019, tr.23)
                                         
Với nhà Đạo, các đấng bậc bao giờ cũng thở than, luận bàn về “linh hồn” nhập vào thể xác cùng lập trường của các giáo phái, giáo luật gồm tòn chữ “Phải” và “Phải”, tức là toàn những chuyện trăng sao mây nước với hào quang sáng chói, chứng tỏ đấng bậc lành thánh không thuộc loại “ma trơi”, ma mãnh nhưng là chuyện thực tế hấp dẫn mọi người trong thiên hạ.

Với người đời trong thiên hạ, ắt hẳn việc bàn bạc chuyện thực tế trong đời là chuyện thiết yếu chẳng cần phải trích dẫn điều gì vẫn thu hút người nghe, ở khắp chốn. Những chuyện hấp dẫn người nghe, tựa hồ truyện kể ở thôn làng này/khác có giòng chảy nhẹ như sau:

            “Truyện rằng:
Có một người đau khổ tìm đến tham vấn vị Thiền sư:
-Kính bạch Ngài, đời con khổ quá, khổ đeo đuổi con như một kẻ ''chạy trời không khỏi nắng''? Làm cách để đời con hết khổ, cuộc đời chỉ có một màu hạnh phúc mà thôi?
- Này nhé! Bây giờ ông ra chợ mua một trái Thanh Long, ăn cho hết trái đó, với điều kiện là chỉ ăn phần thịt và phun hết hạt của nó ra, thì ông sẽ hết khổ.

Và, lời bàn của người kể truyện lại đã bảo rằng:

Bạn biết không, khổ đau trong cuộc đời này giống như muối vậy. Số lượng muối luôn giữ nguyên, chẳng hề thay đổi. Nhưng khối lượng khổ đau chúng ta phải thọ nhận còn phụ thuộc vào chiếc “bình chứa” của nó. Vậy nên, khi ta đau khổ, điều duy nhất con nên làm là mở rộng tầm nhìn của con ra. Đừng an phận làm một ly nước, hãy trở thành một hồ nước hay một dòng sông hòa tan mọi hết đau đớn trong cuộc đời này”.

Đúng như lời những vị thiền sư nói, mỗi con người trong đời đều phải trải qua nhiều khó khăn hay đau đớn nhưng quan trọng là cách chúng ta nhìn nhận vấn đề. Nhìn xa hơn một chút, có lẽ chúng ta sẽ nhận thấy được nhiều điều tích  cực và rồi nhận ra đớn đau hay gian khó cũng chẳng hề gì, ta vẫn có thể vui vẻ, hạnh phúc nếu ta thực sự muốn. Vấn đề như thế nào không quan trọng, điều tất yếu là ta chọn cách đối mặt với nó ra sao.

Bạn chọn trở thành một ly nước hay cả một hồ nước? Mỗi khi bạn cảm thấy buồn phiền hay chán nản, cảm thấy cuộc sống mình không hạnh phúc, không như mong đợi thì hãy nhớ lấy điều này: “Một nhúm muối nếu bỏ vào một cốc nước, cốc nước ấy có thể không còn uống ược, nhưng nếu được bỏ vào một hồ nước thì nguồn nước ấy vẫn trong ngọt.

Vì thế, vấn đề không chỉ đơn thuần là có hay không có một ai đó bỏ một nhúm muối vào cuộc đời bạn, mà còn là ở: trái tim bạn là một hồ nước lớn hay chỉ là một cốc nước  nhỏ bé?

'Cuộc đời khổ một phần tư
Ba phần còn lại, khổ từ chính ta.
Ta là Phật, cũng là Ma
Ma nhiều hơn Phật- Đời là khổ đau!''
(Như Nhiên Thích Tánh Tọa)

Với nhà Đạo, thì: cuộc đời có là những chuỗi ngày đầy đau khổ như thế không? Câu trả lời, cũng tùy từng người. Tùy từng giai đoạn trong cuộc đời mình và đời người. Nhưng, đời ai đi nữa, cũng đều có chung một kinh-nghiệm xương máu, rất tốt tươi. Kinh nghiệm ấy, đấng thánh hiền nhà Đạo, từng kinh qua, nên mới bảo:

            “Anh em đang bị lửa thử thách: chớ có ngạc nhiên
Nhưng hãy coi đó như một cái gì khác thường xảy đến cho anh em.
Được chia sẻ những đau khổ của Đức Kitô bao nhiêu,
anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện,
anh em cùng được vui mừng hoan hỷ…
Nếu có ai phải chịu khổ vì danh hiệu Kitô hữu, thì cũng đừng xấu hổ,
nhưng hãy tôn vinh Thiên Chúa
vì được mang danh hiệu đó.”
(IP 4: 12-16)

Nơi “nhà Phật” có giòng chảy thi-ca cũng nhẹ nhàng, hấp dẫn chứng tỏ cuộc đời người gồm đủ tham, sân, si như bên dưới:

“Lẫn Trong Nhau
Khổ đau là bạn an vui
An vui đích thực không rời khổ đau
Thong dong ngay giữa cõi sầu
Niết Bàn chung một nhịp cầu thế gian.

Trong mưa có giọt nắng vàng
Nơi bùn thoang thoảng.. mơ màng hương sen
Giữa ngày nghiêng bóng màn đêm
Canh khuya chợp mắt, nắng lên ngập hồn.

Sau niềm vui có nỗi buồn,
Trong tù ngục thấy con đường thoát ly.
Nơi dung nhan tuổi xuân thì,
Có đôi mắt Mẹ xếp li buổi chiều.

Ghét người, bởi chính vì Yêu
Yêu bao nhiêu Hận bấy nhiêu cũng là..
Trong chùa có cả ta bà
Trong ta bà ẩn một toà Như Lai.

Nơi điều '' nghịch ý trái tai ''
Lặng mà nghe - tỏ một bài Pháp âm.
À ơi, dưới võng con nằm
Cũng là giấc ngủ ngàn năm đi về...

Trong phiền não có Bồ đề
Dạt dào sóng gợn.. bốn bề đại dương.
Ngay tim ta có tình thương
Thương như lưới cá - tơ vương.. nhọc mình!

Trong sinh tử gặp Vô sinh
Bên đời huyên náo lặng thinh Phật ngồi.
Trong ta có cả vạn đời
Lặng yên.. tràn ngập đất trời xưa, sau..
(Như Nhiên- Thích Tánh Tuệ)

Đọc thơ Bồ Đề nhà Phật, hẳn người Đạo Chúa thấy rất thấm và cũng thương cho lòng người còn bôn ba, ta bà khắp chốn. Cả chốn tu-trì lẫn ngoài đời nhiễu nhương, tít mù nhiều sương khói. Những sương và khói còn đó nơi cuộc đời con người như tôi, như bạn, như mỗi người và mọi người, ở đây. Rất vui vầy đầy nhân tính.


Trần Ngọc Mười Hai
            Và những kỷ niệm đẹp
            Của một đời người
            Nhiều ý nghĩa.

“Có những niềm riêng lệ vương khóe mắt”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 31 thường niên năm C 03/11/2019

“Có những niềm riêng lệ vương khóe mắt”
Như cây sau mưa long lanh giọt sầu
Có những niềm riêng làm tim thổn thức
Nên đôi môi xinh héo hon nụ cười.
(Lê Tín Hương – Có Những Niềm Riêng)

(Lc 18: 14)    

Niềm riêng” là “niềm” gì thế? Vui hay buồn vậy? Đó có là niềm ưu-tư rất linh tinh, thuận tình đâu đấy chứ? Hỏi thì nhiều, mà có thấy đâu đây lời đáp trả! Ôi thôi, có là niềm gì thì ta cứ việc ngâm nga ca từ như còn thấy hát ở bên dưới:

“Có những niềm riêng làm sao nói hết.
Như mây như mưa như cát biển khơi.
Có những niềm riêng làm sao ai biết.
Như trăng trên cao cách xa vời vợi.”

Có những niềm riêng lệ vương khóe mắt.
Như cây sau mưa long lanh giọt sầu.
Có những niềm riêng làm tim thổn thức.
Nên đôi môi xinh héo hon nụ cười.
Này niềm riêng như nước vẫn đầy vơi.
Đâu đây vang vang tiếng buồn gọi mời.
Ôi nỗi sầu đong chất ngất.
Như một ngày như mọi ngày.
Như vạn ngày không thấy đổi thay.

Có những niềm riêng lòng không muốn nhớ.
Nhưng sao tâm tư cứ luôn mộng mơ.
Có những niềm riêng gần như hơi thở.
Nuôi ta cô đơn nuôi ta đợi chờ.

Có những niềm riêng một đời dấu kín.
Như rêu như rong đắm trong bể khơi.
Có những niềm riêng một đời câm nín.
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi.”
(Lê Tín Hương – bđd)

Niềm riêng hôm nay, có thể và vẫn cứ là nỗi niềm “một đời dấu kín” của người dân đi Đạo sống ở nơi nào cũng vẫn thấy những ảnh và những hình không mấy vui như sau:

“Một thoáng nhìn vào tình hình Giáo Hội Công Giáo tại Úc. Một nghiên cứu cho thấy số người Úc tự nhận là không có tín ngưỡng lần đầu tiên đã vượt trên số người có đạo. Điều này cho thấy các giáo xứ sẽ có thêm thách đố cũng như cơ hội. Nghiên cứu do Trung Tâm National Centre for Pastoral Research - thuộc Hội Đồng Giám Mục Úc - thực hiện. Nghiêu cứu - dựa trên kết quả thống kê dân số năm 2016 - cho thấy tình hình tại 28 giáo phận về mặt địa lý trên toàn quốc kể cả tổng giáo phận Sydney.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thống kê dân số Úc, trên 30% tự nhận là không có tín ngưỡng. Tỷ lệ này vượt trên 22.6% tự nhận là tín đồ công giáo. Dựa vào số liệu thống kê này, tại tổng giáo phận Sydney có 594,145 người công giáo chiếm 24.2% dân số của thành phố là 2.4 triệu. Trong số những người công giáo ở Sydney, có trên 1 phần 3 sinh ở ngoại quốc mà đa số đến từ các quốc gia không nói tiếng Anh dẫn đầu là Ý, Phi Luật Tân, Việt Nam, Lê-ba-non và Iraq.

Trong khi đó, 5 quốc gia có số người công giáo di dân đến Úc nhiều nhất trong thời gian gần đây bao gồm Ba Tây, Colombia, Pháp, Hoa Kỳ và Iraq. Trong khi dân số Úc tăng 8.8% trong thời gian từ 2011 đến 2016 với 23,401,892 người thì tổng số người công giáo trên toàn quốc lại giảm 2.7% trong cùng thời gian, và tỷ lệ giảm tại Sydney là 2.8%. Hiện tượng giảm thiểu này lần đầu tiên cũng được ghi nhận tại Tân Tây Lan.

Tuy nhiên có một khía cạnh khác đáng phấn khởi là về số gia đình công giáo - mà theo định nghĩa của Tổng Cục Thống kê Dân Số là có ít nhất 1 thành viên trong gia đình là người công giáo. Con số này tại TGP Sydney đã tăng đôi chút trong 20 năm qua từ 190,455 gia đình vào năm 1996 lên 204,898 gia đình trong năm 2016.

Còn về con cái thì có 78.6% học sinh mẫu giáo và tiểu học theo học trong các cơ sở của Giáo Hội Công Giáo là người công giáo trong khi có 71% học sinh trong các trường trung học của TGP là người công giáo.

Tổng Cục Thống Kê cũng nghi nhận là hiện nay cứ 5 đám cưới tại Úc thì có 4 đám theo nghi thức dân sự chiếm 78% so với 25 năm trước đây, tỷ lệ chỉ có 43%. Một số những biến chuyển khác như tại Tổng Giáo Phận Sydney số người xem lễ mỗi cuối tuần là 93,365 và đó là con số cao nhất so với các tổng giáo phận khác; tuy nhiên, mỗi năm vẫn mất đi khoảng 1.000 người dự thánh lễ. 

Trong khi thực tế này là một thách đố, nhưng các giáo xứ vẫn là nền tảng quan trọng trong việc phát triển niềm tin trong Giáo Hội Công Giáo tại Úc. Cùng với trường học và gia đình, giáo xứ là nơi mà người ta đến gặp Giáo Hội và đó cũng là nơi mà đa số giáo sĩ sống đời chứng tá của họ.” (
Vũ Nhuận chuyển ngữ từ tuần báo Công giáo The Catholic Weekly, www.catholicweekly.com.au/snapshot-of-todays-catholic-sydney)

Có những niềm riêng”, mà lại chỉ là những niềm mỗi thế thôi sao? Thôi, được rồi bạn và tôi đây, lại cũng thấy nỗi niềm rất chung chung của nhà Đạo bọn mình, có đấng bậc từng san sẻ, sẻ san như bên dưới: 


Niềm-riêng-và-chung/chung-mà-riêng hôm nay, lại là lời trích-dẫn từ vị bác sĩ giỏi ở Singapore, như sau:


“Chào tất cả các bạn buổi sáng.
“Hôm nay giọng của tôi hơi khàn nên hãy chịu khó lắng nghe một chút nhé. 


“Tên của tôi là Richard - bác sĩ y khoa.
Tôi sinh ra trong một gia đình khó khăn. Từ nhỏ, tôi đã được nghe từ mọi người xung quanh mình nói rằng: Hạnh phúc chính là đạt được thành công. Và thành công đo bằng sự giàu có. Với tư duy như thế, ngay từ thời trẻ tôi đã rất tham vọng, cầu tiến. Có thể nói tôi là một sản phẩm điển hình của xã hội ngày nay.

    
“Không chỉ giành một chỗ ở trường trung học hàng đầu, tôi cần phải thành công trong tất thảy lĩnh vực. Tôi muốn đạt được cúp chiến thắng, những giải thưởng cấp quốc gia và mọi thứ như vậy. Sau đó, tôi vào trường y rồi tốt nghiệp. Như các bạn đã biết, bác sĩ nhãn khoa là một trong những chuyên ngành có sự cạnh tranh nhất nên tôi đã theo đuổi nó. Tôi giành được học bổng nghiên cứu về laser để chữa mắt ở Đại học Quốc gia Singapore.

    
“Nếu hoàn thành khóa nghiên cứu, tôi sẽ cầm trong tay 2 tấm bằng: bác sĩ đa khoa và bác sĩ nhãn khoa. Nhưng thành công về mặt học thuật này chẳng đem lại cho tôi sự giàu có. Việc đào sâu nghiên cứu tốn quá nhiều thời gian, trong khi ngoài kia, lĩnh vực phòng khám tư là mảnh đất để kiếm tiền. 


Trong những năm gần đây, phẫu thuật thẩm mỹ ngày càng được ưa chuộng. Hàng đống tiền có thể kiếm ra từ đó. Vì vậy, tôi quyết định đã đủ với chuyện học hành rồi. Tôi mở phòng khám về thẩm mỹ, hiện giờ đã trở thành một trung tâm khá lớn.

    
“Các bạn có thấy một điều trớ trêu như thế này không: Người ta không mãi ca ngợi những anh hùng chữa bệnh hay các chuyên gia vật lí trị liệu. Mà người hùng được tạo nên bởi sự giàu có và nổi tiếng.

    
“Mọi người không vui khi trả 20 đô để khám bệnh, nhưng họ sẵn sàng chi 10 nghìn đô la để bơm môi, 15 nghìn đô để nâng ngực và những điều tương tự vậy. Chuyện kinh doanh ban đầu của phòng khám rất suôn sẻ. Tôi chìm đắm trong niềm vui sướng vì có nhiều bệnh nhân. Vẻ đẹp phù phiếm, vẻ bề ngoài - người ta cần nó, đó là một mảnh đất màu mỡ để kiếm tiền! Tôi phải thuê thêm 1 bác sĩ nữa cùng làm, rồi 2 người, 3 người và đồng nghiệp thứ 4 cũng đến nhanh chóng. 


Trong năm đầu tiên, chúng tôi leo thang về thu nhập lên tới hàng triệu đô. Nhưng sẽ chẳng bao giờ là đủ vì tôi quá ám ảnh, đắm chìm trong việc kiếm tiền này. Tôi quyết định mở chi nhánh phòng khám sang Indonesia. Cuộc sống quả thật là rất tốt!

           
“Khi đó, tôi làm gì vào dịp cuối tuần? Thường là đến các câu lạc bộ xe sang, đến Sepang ở Malaysia đua xe. Cuộc sống mà, phải hưởng thụ. Tôi mua cho mình một chiếc Ferrari 430. Sau đó mua nhà. Kế đó là tận hưởng sự giàu có và nổi tiếng. Với nhiều khách hàng là thí sinh cuộc thi sắc đẹp, dĩ nhiên tôi cũng dành thời gian bên những nhan sắc tuyệt trần và giàu sang, đi từ nhà hàng cao cấp này tới nhà hàng gắn sao Michelin khác.


“Tôi đã sờ chạm vào đỉnh cao sự nghiệp, tiền tài. Đó là tôi của 1 năm trước, cơ thể hoàn toàn tráng kiện và tất cả mọi thứ đều dưới tầm kiểm soát. Phát hiện ung thư ở tuổi 38 và... tìm thấy hạnh phúc thật sự.


Chà, tôi sai rồi. Làm sao có thể kiểm soát mọi thứ được? Vào tháng 3 năm ngoái (2010), tôi bắt đầu thấy đau lưng mà không hiểu vì sao. Ban đầu, tôi nghĩ đó là do động tác mạnh ở phòng gym. Rồi một hôm thấy đồng nghiệp thực hiện chụp cộng hưởng từ (MRI), tôi bèn nhờ anh ta kiểm tra giúp để an tâm.

    
Chiều hôm đó, anh ta gọi tôi và nói đã thấy sự thay thế tủy xương trong cột sống. Tôi biết nó có nghĩa là gì, nhưng không chấp nhận được, kiểu như "Cậu đùa đấy à?" Tôi vẫn thực hiện tốt mọi thứ ở phòng gym mà...

    
Chúng tôi thực hiện nhiều bài kiểm tra vào ngày hôm sau. Họ chẩn đoán tôi mắc ung thư phổi giai đoạn 4. Phản ứng đầu tiên là "Ối chà, nó đến từ đâu thế này?"... Tế bào ung thư đã lan tới não, cột sống, gan và tuyến thượng thận. Bạn biết không, trong giây phút tôi nghĩ rằng mình làm chủ và chạm tới đỉnh cao của thành công, tôi đã mất hết mọi thứ.

    
Đây là ảnh chụp X quang phổi của tôi. Bạn nhìn thấy không, mỗi chấm tròn này là một khối u. Tôi có hàng vạn cái như thế trong 2 lá phổi. Ngay cả làm hóa trị, thời gian còn lại cũng chỉ 3-4 tháng nữa thôi. Cuộc đời tôi sắp kết thúc rồi sao, quả thật vậy! Tôi tuyệt vọng, dĩ nhiên, rất tuyệt vọng khi từng nghĩ mình đã có hết thảy mọi thứ quý giá.


Nhưng trớ trêu là mọi thứ mà tôi có - thành công, cúp chiến thắng, những chiếc xe, ngôi nhà - là do tôi đã mua chúng để mang về niềm hạnh phúc. Nhưng giờ đây tôi chẳng mỉm cười được nữa. Nghĩ về việc sở hữu của cải, tôi chẳng có một chút niềm vui nào. Các bạn ạ, tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari vào giấc ngủ. Nó chẳng khiến tôi thoải mái hơn trong những ngày tháng cuối cùng.


Vậy điều gì đã và sẽ làm tôi hạnh phúc ở khoảng thời gian này? Đó là thời gian với mọi người - những người tôi yêu, bạn bè, những ai thật lòng lo cho mình, cùng khóc cùng cười, cùng đau khổ và chấp nhận mọi chuyện. Điều ấy đem lại cho tôi niềm hạnh phúc. Những chiêm nghiệm cuối đời: "Liệu tôi sẽ là một người bác sĩ khác nếu được làm lại từ đầu?"

           
Để tôi kể cho các bạn nghe một câu chuyện nữa. Ngày còn trẻ tôi có gặp một người bạn khá kỳ lạ tên là Jennifer - giờ chúng tôi vẫn là bạn tốt của nhau. Nếu đi trên đường và bắt gặp một con ốc sên, cô ấy sẽ nhặt nó lên rồi đưa về bãi cỏ. Tôi lúc ấy không tài nào hiểu nổi. Tại sao phải làm thế, chỉ là một con ốc thôi mà? Sao phải làm bẩn tay mình? Sự thật là cô ấy có thể cảm thông cho số phận của con ốc sến ấy! Nhưng với tôi đó chỉ là một con ốc, nếu nó cản đường con người thì có nguy cơ bị đạp vỡ, đó là sự tiến hóa tự nhiên mà?

    
Không lâu sau, tôi trở thành một bác sĩ thực tập, học cách để cảm thông và thương xót cho bệnh nhân. Nhưng tôi không thể. Có một khoảng thời gian tôi phụ trách chăm sóc cho bệnh nhân ung thư, chứng kiến cái chết hầu như mỗi ngày. Lúc nào tôi cũng thấy ai đó chịu đựng cơn dày vò, tôi sẽ tiêm morphine cho họ để giảm cơn đau, tôi chứng kiến họ đánh vật để hít thở oxy lần cuối cùng... nhưng tôi chỉ xem đó là một công việc! Nỗi đau của họ không phải là điều tôi cảm nhận được dù tận mắt nhìn thấy. Tôi làm việc của mình - lấy máu, kê đơn và tan ca.

    
Cho đến khi mắc bệnh nan y thời kỳ cuối, tôi đã có thể hiểu được mọi đau đớn về thể xác và tinh thần của các bệnh nhân năm xưa. Nếu bạn hỏi rằng giả sử cho làm lại từ đầu, liệu tôi sẽ trở thành một bác sĩ khác hay không, câu trả lời là có. Bởi vì bây giờ tôi đã hiểu thấu nỗi khổ của bệnh nhân rồi. Đôi khi, bài học rút ra phải trả bằng một cái giá đau đớn.


“Các bạn ạ,
Là bác sĩ, đôi khi chúng ta quên mất bệnh nhân mà mình đang phục vụ cần điều gì nhất. Ngay lúc này, ngành y của chúng ta còn nhiều vùng xám - không trắng, chẳng đen. Có những người sẵn sàng hạ thấp uy tín của phòng khám đối thủ. Và hiện tại khi lâm bệnh, tôi cũng biết được đồng nghiệp nào thực sự nghĩ cho mình, yêu thương mình; và người nào đang muốn kiếm tiền bằng cách bán cho tôi một loại điều trị mang tên "hy vọng đi".

    
Có những lúc tôi chỉ muốn kiếm tiền và đánh mất chiếc la bàn đạo đức của mình, nhưng như đã nói, tôi chẳng còn nghĩ về chiếc Ferrari trong lúc đau khổ dày vò. Tôi đã học được bài học cay đắng này, bạn hãy nghe và đừng mắc vào sai lầm như thế nhé.


Sứ mệnh của bác sĩ là cố gắng hết sức cho những ai cần chúng ta. Dù nỗ lực của bạn không thể cứu sống họ, bạn đã đóng góp một chút gì đó cho họ trong những năm cuối đời. Với tôi, dưới tư cách 1 bệnh nhân, điều ấy mang ý nghĩa lớn lao.
Lời nhắn nhủ chân thành trước khi từ giã cuộc đời

    
Để kết thúc bài nói chuyện hôm nay, cho phép tôi trích dẫn vài ý từ quyển sách "Tuesdays with Morrie" (hồi ký "Những ngày thứ ba với Morrie"). Bất kỳ ai cũng biết là mình sẽ chết nhưng chúng ta không tin vào điều đó. Bởi vì nếu chúng ta thật sự trăn trở, chúng ta đã sống khác đi.

           
Khi đối diện với cái chết, tôi tháo dỡ cho mình khỏi mọi thứ hỗn loạn và tập trung vào những điều thật sự cần thiết. Trớ trêu thay, cuộc đời này có rất nhiều thời gian, nhưng thời điểm chúng ta thật sự chiêm nghiệm về cuộc sống chính là lúc nghĩ về cái chết. Tôi biết nghe điều này rất "bệnh hoạn" trong buổi sáng ngày hôm nay, nhưng đó là sự thật và là điều mà tôi đang trải qua.

    
Đừng để người khác nói với bạn phải sống như thế nào. Bạn có thể lắng nghe nhưng đừng tin tưởng một cách mù quáng như tôi, để rồi chỉ lao vào mua niềm hạnh phúc không bền lâu. Hãy suy nghĩ lại và quyết định bạn muốn làm gì với cuộc đời của mình, bạn muốn tạo ra điều gì có ý nghĩa đối với người mình yêu thương? Bởi vì, hạnh phúc thật sự không phải là làm hài lòng riêng bản thân. Tôi từng nghĩ rằng chỉ cần mình thấy vui là đủ, nhưng hóa ra không phải như vậy.

    
Khi ra trường, các bạn sẽ hái ra rất nhiều tiền - những đồng tiền được bệnh nhân chi trả. Đừng quên một ngày nào đó, nó sẽ không còn thuộc về bạn nữa".


Cặp đôi sống với nhau 6 năm, không có con. Mãi sau này khi đã rời xa, những lời nhắn nhủ cuối cùng của vị bác sĩ tài hoa yểu mệnh vẫn khiến vợ ông và nhiều người phải suy ngẫm, có lẽ vì nó hướng tới một thông điệp rõ ràng, đơn giản: Cuộc sống này quá ngắn ngủi để bỏ quên những người bạn yêu thương, đó mới là niềm hạnh phúc thật sự.” (trích lời trăn trối của Bs Richard Teo được tải lên mạng, nhiều năm qua).


Để minh họa cho vấn đề lớn bạn và tôi, ta đang bàn, đề nghị anh em mình lại vẫn đi vào vùng trời của những “chia sẻ” ý/lời của “người đời nói về Chúa” như thể Chúa vẫn nói, rằng:


“Việc nhận ra vị trí và thân phận của chính mình là điều tiên quyết mà chúng ta cần có khi đến với Ngài. Thiên Chúa làm gì còn chỗ đứng nơi những kẻ chỉ biết đến mình. Sự thật giúp chúng ta nhận ra rằng mình là người có tội và chính vì thế chúng ta cần Chúa.

Muốn được như thế, chúng ta cùng nghĩ rằng:

Bản thân và tất cả những gì chúng ta có được đều thuộc về Thiên Chúa. Đừng nghĩ rằng mình xứng đáng và chiếm hữu nó; trái lại hãy xử dụng mà chia sẻ cho nhau. Như vậy, những gì mà chúng ta có thể làm được cũng là hồng ân của Chúa; chúng ta đâu còn có gì để báo cáo thành tích mà vinh vang.


Tất cả mọi người, dù già hay trẻ, cao hay thấp, sang hay hèn, cao trọng hay thứ dân, đều được mời gọi để trở nên công chính và thánh thiện. Mức độ thánh thiện không tùy thuộc vào công trạng của con người nhưng tùy thuộc vào mối tương quan giữa Chúa và ta. Khởi điểm của việc thiết lập mối tương quan đó là nhận ra sự thật than phận tội lỗi của mình mà bám víu vào lòng Thương xót của Thiên Chúa. Không vịn vào công trạng mà là một tâm tình phó thác trọn vẹn vào Đấng luôn yêu thương mình.


Giống như người thu thuế kể trong Tin Mừng Luca, chúng ta hãy can đảm chấp nhận thân phận tội lỗi của mình, đến với Chúa để xin được tha thứ và tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và muốn cho mọi người được cứu thoát. Đó chính là khởi điểm của cuộc sống mới.  Cuộc sống không bị mặc cảm tội lỗi dầy vò; nhưng qua đó mà chúng ta nhận ra Tình Yêu của Chúa cao cả dường bao. Vì Ngài là tình yêu, và Tình yêu chính là bản chất và sức sống của Thiên Chúa.” (Lm Giuse Mai Văn Thịnh DCCT, Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật 29 TN năm C www.Giadinhanphongblogspot.com. 23/10/2019)


Và lời cuối rút từ chuyện phiếm hôm nay, lại sẽ là lời của bác sĩ Richard Teo, người Singapore từng tóm tắt và sẽ còn vang vọng mãi khi ông bảo: 


“Hạnh phúc thật sự
không là làm hài lòng riêng bản thân.
Tôi từng nghĩ rằng
chỉ cần mình thấy vui là đủ,
nhưng hóa ra không phải như vậy…”
(Xem trích dẫn ở trên)


Còn, lời của Đấng thánh hiền ở chương đoạn nào đó, rất thánh kinh, cũng nhắn nhủ bảo rằng:


“Tôi nói cho các ông biết:
người này, khi trở xuống mà về nhà,
thì đã được nên công chính rồi.”
(Lc 18: 14)    


Thế đó, là tất cả. Cả những lời văn cùng ý-tứ của đấng bậc hiền từ trong ngôn từ và cuộc sống, rất xứng đáng.



            Trần Ngọc Mười Hai
            Và những tháng ngày suy tư công nhận
ý-từ và ý-tứ của bậc thày dạy
            đời mình từng trải.