Saturday, 10 October 2015

“Tình là một truyện muôn màu”,




Chuyện Phiếm đọc trong tuần 29 thường niên Năm B 18/10/2015

“Tình là một truyện muôn màu”,
Tình là mình hạnh phúc thật mau
Tình là một bài thơ sầu
Tình là một niềm nhớ thương nhau.”
(Văn Phụng – Tình)

(Phil 1: 7-10)

“Là bài thơ sầu”, “là mình thành nhớ thương nhau”, sao? Phải chăng, đó là thứ “Tình” của người mình, còn đó rất nhớ thương? Trả lời câu ở trên, bần đạo xin thưa như thế này:
            Hồi còn nhỏ, bần đạo thích được các anh chị dắt đi phố Lê Lợi Sàigòn và cứ dừng lại xem chàng trai nọ đứng ở góc phố cứ chìa 3 cây bài “Tây-Đầm-Xì” tráo qua/tráo lại rất nhanh rồi đố người đi đường xem cây “Xì Cơ” trốn đâu rồi? Bần đạo đây, nghĩ mình tinh mắt bèn chỉ vào chỗ nó vừa hiện rõ mồn một, nhưng khi chàng trai lật cây bài ra xem, mới thấy trật-lấc, thế mới chết.
Kịp khi lớn lên, bần đạo lại cũng gặp một tay ảo-thuật sừng sỏ khác, là Lm Tiến Lộc CSsR chuyên làm trò tiểu xảo, cũng chìa ra cho mọi người xem nguyên bộ bài “cào”, xào qua/xào lại rồi bảo bé em gần đó rút bất cứ cây nào đưa cho ông để bỏ vào giữa. Bần đạo khi ấy lại thấy có em bé rút được cây “Xì cơ” rồi lật úp đưa cho nhà ảo-thuật tìm. Chẳng biết ảo-thuật-gia Tiến Lộc xào xáo thế nào rồi chìa cho người rút đúng cây bài giấu kín, là cây “Xì cơ” có trái tim cũng rất tình.
Kể chuyện trên, bần đạo muốn nói lên rằng: “Tình người” đầy trữ-tình gồm tóm nơi cây “Xì cơ” dù có là “chuyện muôn mầu”, “thơ sầu”, hoặc bài cào sao đó, vẫn là chuyện của người đời, rất mọi thời.
Kể thế rồi, nay bần đạo đây lại mời bạn/mời tôi, ta nghe tiếp câu hát khác, lại vẫn bảo:

“Tình đẹp tựa mùa thu vàng,
Tình mình nhiều mộng ước miên man.
Tình là một chuyện huy hoàng,
Tình mình là thành nhớ hoang mang.
Yêu nhau khi xuân tươi thắm,
Yêu nhau trong tiếng ca tiếng đàn.
Yêu nhau trong muôn tia nắng,
Yêu nhau trong ánh trăng mơ màng.
Yêu nhau khi sương thu rơi,
Yêu nhau khi hoa lá xanh tươi.
Yêu nhau khi mưa đông rơi,
Yêu nhau Yêu nhau mãi suốt đời.”
(Văn Phụng – bđd)

Có là chuyện gì đi nữa, thì “Tình Người” vẫn là thứ tình đời lúc này lúc khác, rất khác biệt. Có lúc, nó là tình-tự giữa hai người, mà thôi. Có khi, nó lại là thứ tình-tiết của hết mọi người, gửi đến muôn người. Có lần, nó lại là thứ tình phải có như người nhà Đạo vẫn bảo con dân dưới trướng, ở muôn nơi.
Là tình Đạo hay tình đời, cũng vẫn là giòng chảy tình người ở dưới thế, khác với tình của động/thực-vật xinh tươi, bền muôn kiếp.
Tình nhà Đạo hôm nay, gặp lúc có nhiều người thắc mắc hỏi han, để bề trên truyền-tải một định-nghĩa khá chắc nịch.
Nói về “tình muôn mầu” ở nhà Đạo, vừa qua bần đạo lại hân-hạnh được “dự giờ” buổi học tập/bàn luận về chi-tiết nghe hơi lạ. Nay, ghi lại đôi giòng để bạn và tôi, ta san sẻ cho nhau. Sẻ san, bằng những câu/những lời lẽ nghe mãi vẫn không quên/không chán. Chán và quên sao được, khi câu chuyện này lại liên-quan đến mọi người và chính mình.
Thế nên, trước khi đi vào chi-tiết về những tình-tự, mời bạn/mời tôi, ta thử bước vào vườn hoa truyện kể để minh-hoạ, cho nhẹ nhõm.

Truyện rằng:

            Đệ tử đi một lúc lại quay lại hỏi Sư Phụ
"Một người đang có bà vợ xinh đẹp, nay bảo người ấy nhường vợ lại cho con có được không?"
Sư phụ trả lời "Không được!"
Đệ tử: "Tại sao?"
Sư phụ: "Vi` nếu được thì ta đã xin nhường trước rồi".
Đệ tử chới với: "Vậy thì` phải làm sao?"
Sư Phụ điềm tĩnh nói "Con hãy kiếm một cô trinh nữ xinh đẹp hơn để xin hoán chuyển với vợ ông ta."
Đệ tử suy nghĩ một lúc rồi nói "NO, NO, NO...Bộ tui ngu sao sư phụ?"
Sư phụ: "Thê' thi` mày là Sư Phụ tao rồi. Dẹp đi con!"
            Truyện kể rồi, nay ta đi vào vấn-đề chính là “Tình” của con người trong đó có phần diễn ý như sau:

“Về lịch-sử, và trên thực-tế vẫn thế, giòng đời nhân-loại thấy biến-hoá thứ tình người diễn-biến giữa hai nhân-vật mà Tạo-hoá đã tác-thành, là tình mẹ cha, tức tình mẫu tử và phụ-tử.

Dựa trên nền-tảng này, nhiều nền văn-minh/văn-hoá khác nhau lại đã dựng-xây đời người ở trong đó. Đây, không là chuyện ngẫu-nhiên, huyễn-hoặc mà là cung-cách thực-thụ mà thiên-nhân/vạn-vật đã tìm thấy cho chính nó. Chính phát-xuất tự thứ tình khác-biệt của mẹ cha, mà sự sống của trẻ nhỏ đã xuất-phát và san-sẻ.

Rồi từ đó, tình người phát-triển liên-hồi biến thành thứ tình khác phái này nọ nơi cung lòng của con người ở mỗi phía. Chính từ đây, nảy sinh sự khác-biệt và/hoặc tương-tự ở con người. Là người, mỗi phái-tính hoặc mỗi phía/mỗi bên đều giống nhau vì cùng là con người và cũng khác-biệt nhau qua tư-cách của con người.

Trước nhất, con người tăng-trưởng là do tình người thân-thương nơi tính-chất giống nhau, rất tương-tự về phái-tính, tức thứ tình cùng phái vẫn là chuyện tự-nhiên khi con người thương yêu/mến mộ nhau vì thấy người khác lại cũng giống như mình. Và rồi, theo bản-năng, lại cũng ghét bỏ các khiá-cạnh nào đó khác-biệt mình.

Thành thử, ngay từ buổi đầu đã thấy xuất-hiện sự thể các người anh/người chị một phần nào được xã-hội-hoá cả về tình thương. Con người thời đầu sống theo đoàn-lũ/đám đông, và rồi đoàn ấy lại giết đi vị lãnh-tụ (tức bậc cha/chú) để thay thế. Rồi từ đó, phóng ngoại thuyết tự kỷ của Narcisse chuyên chiêm ngắm nét đẹp của bản thân. Chỉ vào thời sau này, trong lịch-sử nhân-loại, mới có mối tình giữa người khác phái, đã trồi lên. Ở tình này, hàm-ẩn thứ tình-tự mà tiếng Đức gọi là “Aufhebung” (tức tình đậm sâu) xuất khỏi tình tự-kỷ rất Narcisse.

Tình khác phái, lại mới mẻ và chế-ngự thứ tình cùng phái tính, Nhưng, vẫn không hoàn-toàn loại bỏ nhau, dù nhiều người có cảm-giác là mình từng có hoặc phải làm như thế. Đây là thứ tình nào đó cần diễn-tả cho đủ sắc-thái, rất mỹ-miều.

Từ đó đã thấy rằng: Tình gia-đình như ta biết, chỉ phát-triển vào giai-đoạn muộn-màng từ “tình người khác phái” vốn phát-triển cũng khá chậm. Thành thử, tình mẹ/cha cũng như tình mẫu tử và phụ-tử đều ra như thế. Muốn hiểu biết về tình này, cần hiểu rõ tình phu-phụ là tình có cam-đoam/cam-kết sống cả đời. Đây, là cung-cách để ta tiếp-cận những gì khác-biệt với ta, vượt quá cuộc sống ngắn-ngủi của con người. Điều này còn có nghĩa: đây là phương-cách giúp ta giáp mặt được sự chết cũng như sự sống, rất khác-biệt.” (Xem Lm Kevin O’Shea CSsR, Between two wars, Australian Catholic University Workshop 22/8/2015, tr. 6)

Cuối cùng thì, có đồng ý hay không với thứ “Tình” muôn mầu/muôn sắc rất con người như thế không có nghĩa là: con người của ta sẽ cứ trẻ mãi/không già. Thế nên, lại có thắc-mắc những hỏi rằng “Tình người”còn giữ mãi muôn mầu/muôn sắc hay không, khi về già? Đó là đại-ý của nhận-định ở bên dưới, vốn dĩ cho thấy các sắc mầu thực-thụ của tình người khi về già như sau:

“Khi ta già, không phải già về hình dáng, tuổi tác mà già về nhận thức. Ta dần dần vô cảm với những vui buồn của cuộc sống, với những cuộc gặp gỡ, chia tay vì ta nhận ra đó là những vô thường của cuộc đời, thoáng đến rồi thoáng đi!
Khi ta già, ta không còn những ham muốn của trẻ con, thay vì muốn nổi trội, muốn người khác công nhận thì ta lại muốn tự mình thừa nhận chính mình!
Khi ta già,ta không còn thích so sánh mình với những người khác vì ta hiểu mỗi người luôn có những ưu, khuyết điểm khác nhau, ta sống thật với những suy nhĩ, cảm xúc của mình vì ta hiểu chỉ có ta mới biết ta muốn gì và ta cần gì trong cuộc sống này.
Khi ta già, ta không còn thích chạy theo những mối tình chóng đến, chóng đi, ta luôn muốn tìm một ai đó hiểu mình, một bàn tay luôn nắm lấy tay ta trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Khi ta già, ta không còn dùng từ ‘nếu mà, giá mà...’ vì ta hiểu có những thứ trong cuộc sống đã xảy ra thì không thể quay ngược thời gian lại, và ta phải chấp nhận, đối mặt với nó.
Khi ta già, ta không còn thích tranh luận vì những quan điểm sống khác nhau, vì ta hiểu mỗi người luôn có một đời để sống, ai cũng có quyền chọn lựa và đi những con đường khác nhau, chỉ cần mỗi chúng ta phải có trách nhiệm  với những gì chúng ta đã chọn và con đường đó không gây ảnh hưởng xấu tới ai.
Khi ta già, ta không nên vội đánh giá một người là xấu hay tốt, đúng hay sai, mà ta hiểu trước tiên là phải nhìn lại mình đã tốt hay chưa, đặt mình vào hoàn cảnh người khác, và ta nên nghĩ ta có quyền phê bình người khác hay không khi mà bản thân ta chưa thật sự tốt?
Khi ta già, nhìn thấy những lỗi lầm của người khác, ta không còn chê trách, chế diễu mà cảm thấy thương họ nhiều hơn và luôn muốn tìm cách giúp họ chuộc lại lỗi lầm. Và chính họ là những là những tấm gương giúp chúng ta phản chiếu, cảnh tỉnh lại chính mình!
Khi ta già, ta chợt nhận ra ý nghĩa của những cuộc gặp gỡ, chia tay, những mất mát, thất bại, thành công trong cuộc sống đều có ý nghĩa riêng của nó!
Khi ta già, ta càng nhớ về quá khứ, trân trọng những kỷ niệm đẹp mà ta đã có, những tình thương yêu mà người khác dành tặng cho ta, ta chợt nhận ra  đã có một thời  vụn vặt, trẻ con; nhìn lại những nỗi buồn với tâm trạng bình thản hơn.
Khi ta già, ta không còn dùng những từ ‘để mai nhé, để sau này’ vì ta hiểu cuộc sống nay không ai biết trước những gì mà ngày mai sẽ xảy ra, và ta sẽ trân trọng hơn những giây phút của hiện tại.
Khi ta già, ta không còn hứa nhiều như trước và không nên hứa khi ta chưa chắc đã giữ được lời hứa đó hay không vì ta hiểu mỗi lời hứa có thể mang lại hy vọng, niềm vui cho ai đó cũng như những nỗi buồn, thất vọng cho họ nếu những lời hứa không được thực hiện.
Khi ta già, ta chợt thấy bình yên khi nhìn nụ cười trẻ thơ,vẻ đẹp trong sáng mà một thời ta cũng vậy. Ta thích ngắm nhìn ngày mới lớn lên, những giọt sương đọng lại trên lá, những bông hoa mới nở, những tia nắng nhạt dần khi hoàng hôn buông xuống.
Khi ta già, ta thầm cám ơn những gì cuộc sống ban tặng cho ta, tình cảm thiêng liêng của gia đình, bạn bè, những người luôn nâng đỡ ta vượt qua những chông chênh của cuộc đời; những thất bại, khó khăn làm ta ngày một trưởng thành. Những người cần sự giúp đỡ của ta giúp ta thấy cuộc sống mình ngày càng ý nghĩa hơn!
Và khi ta thật sự già, ta biết rằng hạnh phúc là cho đi chứ không phải là nhận; yêu thương một ai đó là làm cho họ hạnh phúc, không phải là chiếm hữu. Ta nhận ra mỗi con người đều có những lỗi lầm riêng của mình. Và ta hiểu, tha thứ, khoan dung cho người khác cũng chính là tha thứ, khoan dung cho chính mình. Ta yêu hơn cuộc sống này, yêu thương mọi người cũng như yêu thương chính bản thân ta.”

Như thế là, già đâu không biết, chỉ biết có một điều, rằng: tình người, tình ta và tình của mọi người đối với nhau, sẽ không bao giờ già cả. Đó, là ý-tứ trổi-bật được người viết nhạc, ghi lại những giòng chảy đầy thương yêu rất hết tình, như ở dưới:
  
“Tình là một chuyện âu sầu
Tình là mình nhiều nỗi thương đau
Tình là một chuyện chia lìa
Tình là mình thổn thức -dêm khuya
Tình đẹp tưạ mùa thu vàng
Tình là mình lệ ướt rơi tuôn
Tình là một chuyện đau lòng
Tình là mình mỏi mắt chờ trông

Yêu nhau chi cho thương nhớ
Yêu nhau chi khiến đôi mắt mờ
Yêu nhau sao không đi tới
Yêu nhau sao đã quên nhau rồi
Yêu nhau chi cho tan mơ
Yêu nhau chi cho mắt hoen mờ
Yêu nhau chi cho thương đau
Yêu nhau chi cho mãi âu sầu.”
(Văn Phụng – Tình)

Tình người, thật ra cũng chẳng “âu sầu mãi” đâu. Bởi, khi đã “yêu nhau (rồi) sao (ta lại) không đi tới?”. Và, khi đã “yêu nhau (rồi) sao (cứ) quên mau?” Phải chăng, là vì quên-lãng nên người nghệ sĩ hôm nay mới nhắc nhở bằng câu hát:

“Đành rằng tình là âu sầu,
Đành rằng tình là nhớ là đau.
Đành rằng tình là chia lìa,
Đành rằng tình là khóc đêm khuya.
Đành rằng tình là ..đau buồn,
Đành rằng lệ mình ướt rơi tuôn.
Đành rằng tình là ..đau lòng,
Đành rằng tình là mãi chờ mong.
Nhưng sao ta mơ yêu mãi,
Nhưng sao ta vẫn thương nhớ hoài.
Mơ yêu đương trong tia nắng,
Say sưa trong ánh trăng mơ màng.
Bâng khuâng khi sương thu rơi,
Cô đơn khi hoa lá tơi bời.
Lang thang khi mưa rơi rơi,
Mơ yêu đương mơ mãi suốt đời......
(Văn Phụng – Tình)

Phải chăng, đó lại là và vẫn là thứ “Tình” cũng rất người, ở ngoài đời? Thế thì, tình người ở nhà Đạo, sẽ ra sao? Trả lời câu này, thiết tưởng bạn và tôi, ta cũng nên tìm vào vườn hoa đầy thứ tình ở Kinh Sách rất trong Đạo có những lời nhủ khuyên, như sau:

“Tôi có những tâm tình như thế đối với tất cả anh em,
đó là điều hợp lý, bởi vì tôi mang anh em trong lòng tôi.
Khi tôi bị xiềng xích,
cũng như lúc tôi bênh vực và củng cố Tin Mừng,
anh em đều thông phần vào ân sủng tôi đã nhận được.
Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi:
tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả,
với tình thương-yêu của Đức Kitô Giêsu.
Điều tôi khẩn khoản nài xin,
là cho lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào,
khiến anh em được ơn hiểu biết
và tài trực giác siêu nhiên,
để nhận ra cái gì là tốt hơn.”
(Phil 1: 7-10)

Nghe lời khuyên nhủ thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cứ hăng say hát lại và hát mãi lời người nghệ-sĩ vẫn hát những ý/lời sau đây:

“Tình đẹp tựa mùa thu vàng,
Tình mình nhiều mộng ước miên man.
Tình là một chuyện huy hoàng,
Tình mình là thành nhớ hoang mang.
Yêu nhau khi xuân tươi thắm,
Yêu nhau trong tiếng ca tiếng đàn.
Yêu nhau trong muôn tia nắng,
Yêu nhau trong ánh trăng mơ màng.
Yêu nhau khi sương thu rơi,
Yêu nhau khi hoa lá xanh tươi.
Yêu nhau khi mưa đông rơi,
Yêu nhau Yêu nhau mãi suốt đời.”
(Văn Phụng – bđd)   

Vâng. Cứ thế, mà yêu nhau. Yêu mãi yêu hoài thật đậm sâu, rất dài lâu. Yêu thế rồi, tự khắc sẽ thấy niềm vui lây lan đến với mọi người ở đời. Hết mọi thời.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn muốn nói lên
những lời yêu đương ấy
với chính mình.
Và mọi người.
 

Friday, 2 October 2015

“Lời nào muốn nói nhưng chuốc sầu thêm thôi,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần 28 thường niên Năm B 11/10/2015

“Lời nào muốn nói nhưng chuốc sầu thêm thôi,”
Tình nào buông trôi, như nắng chiều lưng đồi!
Một ngày nắng ấm, xin chấp cánh bay cao
Ðể rồi mai sau, còn ai nói yêu nhau,
Nhạc tình phôi pha, còn ai thấy xót xa
Người về nơi đâu, thung lũng sầu thêm sâu.
(Nguyễn Trung Cang – Lời Nào Muốn Nói)
(Thư Phillíphê 2: 1-5)          

Ấy đấy! Có những sự và những việc ở đời với con người, đều như thế.
Đúng vậy! Có nhiều điều, người đời lại những nói cho lung, cho lắm cũng chỉ “chuốc sầu thêm thôi”. Lại cũng có nhiều điều và nhiều sự trên đời, người đời đều nói hôm nay, có thể không chỉ là “nhạc tình phôi-pha”, cuộc đời “thấy xót xa”, mà vẫn cứ là “thung-lũng sầu, thêm sâu”.
Thế đó, là tâm-tình của nhiều người, trong đời. Còn đây, có lẽ cũng là tình-tự của nhiều người ở Nước Trời Hội-thánh, rất hôm nay?
            Câu hỏi ở đây, đã và đang là vấn-nạn “khủng-khiếp” được đưa ra nhân có sự-kiện xảy đến ở khung trời biền-biệt bên ấy, rất trời Tây. Ở đây, là khung trời hăng say, nhộn-nhịp một tình-huống có đấng bậc chủ-quản có rất nhiều quyền-uy, quyết ra tay thực-hiện động-tác này nọ để đổi-mới Nước Trời trần-gian, chưa chấp cánh.
Vậy thì, chuyện phiếm hôm nay lại đã thấy ca-từ người nghệ-sĩ trẻ khi xưa, cứ hát rằng:

            “Tình nào chấp cánh trên ngõ buồn mong manh?
Tình nào bay cao cho tủi hờn tuôn trào,
Ngại ngùng muốn nói thương nhau quá ai ơi.
Dù đời chia phôi yêu nhau mãi không thôi!
Ngàn trùng xa xôi thương nhau mãi không nguôi,
Trọn đời chưa vơi trong kiếp sầu buông lơi.
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Thế mới biết, hôm nay, ở trong Đạo hay ngoài đời, lại có những tình-huống khiến việc sống Đạo thêm khúc-mắc với hỏi-han, quyết tìm cho ra một đích-điểm khả dĩ khiến lòng người đi Đạo, sống hăng say, êm ả suốt một đời.
Thế mới hay, tâm-tư nhà Đạo nay vẫn “ngổn-ngang trăm mối” như đấng bậc chủ-quản Sydney hôm nào từng nhận ra nhiều điều, như trích-đoạn bên dưới đã bàn về Thượng Hội-Đồng Giám-mục Rôma 2015 đề cập đến “Hôn nhân”, “Gia đình”, cùng chuyện “Đồng tính luyến ái” như sau

“Có lẽ, sẽ không có gì thay đổi nơi giáo-huấn của Hội-thánh Công-giáo về chuyện đồng-tính-luyến-ái, chút nào hết; phi trừ và cho đến khi, ta có thay-đổi trước mắt nơi giáo-huấn về luật-lệ và luyến-ái giữa người khác phái.

Lâu nay, nhiều cuộc bàn-cãi/tranh-luận vẫn lập đi lập lại rất nhiều lần trong phạm-vi Hội-thánh Công-giáo cứ bảo rằng: Thiên-Chúa tạo-dựng giới-tính con người vì hai lý-do: thứ nhất, mọi người coi đó như phương-tiện để Ngài đem sự sống mới-mẻ của con người đi vào hiện-thực (tức: việc sinh-sản/cùng Ngài tạo-dựng). Và, lý-do thứ hai, là: phương-cách để ta diễn-tả và bảo-đảm việc dung-dưỡng tình thương-yêu giữa các cặp phối-ngẫu (tức: việc thông-đồng/hiệp-nhất trong tạo-dựng).

Từ đó các cuộc bàn-cãi/tranh-luận lại vẫn bảo, rằng: việc sử-dụng tình-dục là ‘thuận theo thiên-nhiên’ chỉ khi nào việc ấy là để phục-vụ cả hai mục-đích do Chúa ban. Và, cả hai mục-đích ấy thực sự chỉ có thật trong hôn-nhân mà thôi; và chỉ vào lúc ấy mà thôi, khi việc trao thân cho nhau là để mở ra sự sống mới mẻ. Thế nên, tất cả người nào khác nếu lại dễ-dãi trong ăn nằm xác thịt thì đó là điều sai trái về mặt luân-lý đạo-đức.

Ngay từ đầu, ai cũng đều thấy: bất cứ hành động tình-dục xác thịt đơn-thuần thôi cũng phải mang nghĩa hoà hợp và sinh con đẻ cái, thì khó có thể là Hội-thánh Công-giáo sẽ chấp-thuận hành-động tình-dục xác thịt của người đồng phái-tính. Sách Giáo Hội-thánh Công giáo đề-cập đến vấn-đề này một cách vắn gọn lạ thường, khi bảo rằng: “Hành-động tình-dục giữa người cùng phái-tính đi ngược lại luật tự-nhiên. Nó đóng chặt hành-động tình-dục không còn nhận được quà tặng sự sống nữa. Hành-động ấy, không diễn-tiến từ sự tán-thành/đồng-thuận chân-phương về cảm-tính và dục-tình.

Giả như đây là điểm khởi-đầu, thì sẽ có rất ít điều để nói. Thành ra, không gì có thể hiểu là sẽ có chuyện đổi-thay liên-quan đến các hành-động ăn nằm dục-tình giữa người cùng phái tính trong giáo-huấn này hết. Và, sẽ là chuyện phù-phiếm/vô bổ để mọi người tìm biết chuyện ấy. Bởi lẽ, chuyện ăn-nằm xác thịt giữa người đồng tính không có yếu-tố sinh-sản ở trong đó như Hội-thánh muốn. Và, nếu giáo-huấn về chuyện ăn nằm xác thịt giữa người đồng tính không bao giờ thay đổi, thì nền-tảng của giáo-huấn về tất cả các sự việc ăn nằm xác thịt phải thay-đổi trước nhất.” (Xem Gm Geoffrey Robinson, The 2015 Sydnod – The Crucial Questions: Divorce and Homosexuality, ATF Press 2015, tr. 11-12)                     
    
Nghe đấng bậc chủ-quản kể về câu chuyện đã và đang xảy ra nơi Hội-thánh Công-giáo rất nhiều lần, thế mà đấng bậc lại bảo, sẽ chẳng có sự gì xảy ra, sau các buổi bàn cãi với tranh luận. Nghe thế rồi, bọn tôi lại liên-tưởng đến câu truyện tiếu lâm chay/mặn về chữ “hỷ” được treo trong ngày cưới, tưởng chừng dễ hiểu, nhưng không phải. Truyện về chữ “Hỷ” hay yếu-tố đầu ở câu nói về mối thất tình những “Hỷ, nộ, ái, ố, ai, hoan, lạc”, rất như sau:

“Chú rể ngắm nghía phòng cưới xong xuôi, bèn có một nhận-định cũng khá là vội vã với anh bạn thân đang đứng gần rằng:
-Chữ “Hỷ” sao rắc rối thế nhỉ, trông cứ như trận đồ bát quái vậy!
-Rắc rối thế nào cơ chứ? người bạn ngạc-nhiên đáp.
-Thì…có nhiều đường ngang, ngõ dọc nhưng lại toàn là đường cụt không à!
-Cậu đây, đúng là người nhạy cảm. Thôi thì, để sau tuần trăng mật rồi, cậu sẽ thấy nhận xét đó rất đúng thật!”

Nếu là người đời, để diễn-tả tình-huống sống trong đời hoặc tình đời xảy đến sau ngày vui, người người sẽ bảo: mọi chuyện trong đời đều mang tên của hai anh bạn: một là Vũ Như Cẫn, và người kia là: Nguyễn Y Vân, mà thôi.
Ở nhà Đạo cũng thế, nghĩa là: cũng có tình-huống rất tương-tự bánh xe lịch-sử. Thế nghĩa là, bánh xe cứ quay nhanh cho đến lúc quay về điểm cũ, rất giống hệt vòng đòi quay nhanh quay đều và quay mãi, mỗi thế thôi.  
Giòng đời quay nhanh hay chậm, vui hay buồn, lại cũng có những tâm-tình như câu truyện kể rất đáng nể để rồi lại sẽ giúp bạn và tôi, ta suy nghĩ cho lung rồi sẽ thấy đúng. Truyện kể, đơn giản chỉ như sau:

Gurdjieff rất nhớ ông bố của ông. Bố ông chết khi Gurdjieff mới chín tuổi, và là người thân duy nhất của ông. Ông kể bố ông gọi ông lại gần và nói:
-Bố sắp chết, và bố không có gì để lại cho con. Bố bỏ lại con trong nghèo nàn và côi cút.  Chỉ có một lời khuyên bố muốn cho con - đó là lời khuyên mà bố của bố đã trao cho bố. Bố đã thấy rằng lời khuyên đó là tài sản giầu có nhất mà bất kì người bố nào cũng có thể cho con trai của mình. Con còn trẻ, có thể chưa có khả năng hiểu được lời khuyên này nhưng hãy cứ nhớ nó đi; rồi con sẽ hiểu nó. Và dù con có hiểu nó hay không, hãy bắt đầu cư xử như thế. Con hãy chăm chú nghe và nhắc lại điều bố nói.

Đó là lời khuyên rất đơn giản. Lời khuyên là: "Nếu ai đó xúc phạm con, làm bẽ mặt con, làm tổn thương con, con không nên phản ứng lại ngay lập tức. Con phải nói với người đó rằng: "Ông hãy đợi hai mươi bốn giờ, và tôi sẽ tới trả lời ông. Đây là chuyện thiêng liêng với tôi mà tôi đã hứa với người bố sắp chết của tôi." Con hãy đợi  hai mươi bốn giờ rồi mới đi tới người đó. Trong hai mươi bốn giờ đó con có thể thấy rằng người đó là phải, hay người đó không phải, nhưng điều ngu xuẩn nhất là lâm vào vòng cãi cọ. Hai mươi bốn giờ đó sẽ cho con cơ hội để mà tỉnh táo hơn. Mọi người phản ứng ngay lập tức sẽ không có đủ thời gian để nhận biết. Họ phản ứng chỉ như máy. Nếu con thấy rằng người đó là đúng, thì hãy đi và cám ơn người đó. Nếu con thấy người đó là sai, thì chẳng cần đi, hoặc nếu muốn đi, con có thể đi và nói : 'Ông dường như hiểu lầm.'

Và Gurdjieff thường nói: "Lời khuyên đơn giản đó của người bố sắp chết của tôi đã làm biến đổi toàn thể cuộc đời tôi vì nó đã cho tôi  sự nhận biết nào đó, một thức tỉnh nào đó. Thế nên tôi đã không thể phản ứng bất kì gì ngay lập tức. Tôi phải đợi hai mươi bốn giờ. Và kết quả là bạn không thể nào vẫn còn giận-dữ trong hai mươi bốn giờ được." (trích truyện kể chuyển ở trên mạng, cho mọi người).

            Thế đó, là truyện kể ở ngoài đời, có vui có buồn lẫn lộn. Truyện kể ở nhà Đạo, nhiều lúc và nhiều người không kể cho nhau bằng dụ-ngôn, tâm-tình viết thành thư tín, như bức thư của bậc thày ở trường nọ gửi cho đấng bậc vị vọng rày quá cố, như sau:

            “Ngài Thomas Merton thân mến,

Tôi không rõ, mọi người trên ấy có tổ-chức cắt bánh sinh-nhật thiên-quốc hay không. Nhưng, hôm nay, tôi chúc ngài có được thật nhiều hạnh phúc đến với ngài nhất là vào ngày sinh thứ 100, trong năm nay. Tôi không nghĩ là năm tháng ngày giờ lại có nghĩa cũng khá nhiều ở nơi ngài đang hiện-diện như mọi người vẫn làm cho chúng tôi ở nơi đây, tức là nơi ngài cũng như tôi, ta bỏ ra chỉ mỗi 54 năm trời để sống trước khi quá vãng trong một tại nạn lạ kỳ, năm 1968.

Trên thiệp cảm cảm ơn tôi gửi ngài không có chỗ cho tất những thứ ngài đem vào đời tôi. Tôi biết là mình đang nói thay cho cả ngàn người ở đây.

Là thánh-nhân theo cách nào đó, cuộc sống của ngài rơi vào hai phân nửa đời người rất tuyệt-vời. Mãi đến tuổi 27, ngài lại đã tham-vọng và chộn-rộn. Sinh tại Pháp, tuy mồ-côi nhưng rồi học-hành tại Anh và sau đó ngài dạy văn-chương tại đại-học-đường Columbia ở New York. Chính ở nơi đó, ngài được mọi người coi là cây viết đầy hứa-hẹn.

Nhiều lúc, ngài cũng tỏ ra không có trách-nhiệm, để rồi trở thành một người cha của đứa bé còn nhỏ mà lại không được ngài chăm sóc cho tử-tế để rồi lại đã bị giết chết trong lần máy bay oanh-kích hồi Thế chiến thứ hai. Ngài từng quen với sống phá-tán qua hành-xử. Kết-cuộc là, ngài lại rơi vào vòng tay yêu-thương Đức Chúa.

Ở tuổi 27, ngài đã dấn thân vào đời sống khắc-khổ theo huôn thước của hội dòng Xitô ở đan-viện gọi là Gethsêmani ở bang Kentucky và trở thày dòng Lu-y. Ngài không chạy trốn đi nơi khác như nhiều người xem ra vẫn nghĩ thế. Thực tế, hành-trình đời tu của ngài lại khác hẳn. Linh-đạo của dòng Xitô thật rất đẹp dù khắc-khổ. Nó như thể ăn rau sống mà không trộn nước xốt: toàn cộng-đoàn dòng đều sống trong thinh-lặng triệt-để và tuân-thủ Luật Dòng do thánh Biển-Đức lập ra, là bộ luật tạo thế quân-bình nồng-nhiệt giữa việc nguyện cầu và lao-động. Và sau đó, ngài cảm thấy có tiếng mời gọi tiến xa hơn thế để đi vào đời sống chuyên-tu ở rừng-sâu như một ẩn-sĩ.

Từ nơi ẩn-náu trong rừng sâu, ngài đã viết với giòng chảy sâu-sắc can-dự vào một số cuộc đấu-tranh cho công-bình hồi thập niên 1960 kể cả phong-trào đòi-hỏi dân-quyền, cùng trào-lưu chống chiến-tranh và đường-lối bất-bạo-động. Có lần ngài viết: “Thay vì ghét bỏ chúng-dân, quí vị lại nghĩ mình là người gây chiến, ghét bỏ những người đói ăn có xáo-trộn trong tâm-thân của quí vị, chính đó mới là nguyên-do tạo nên chinh-chiến. Giả như quí vị yêu hoà-bình, hẳn là quí vị sẽ ghét bất-công, hận chuyên-chế và chán-oán tham-lam, nhưng lại cứ oán-ghét những thứ và những sự tồn-tại trong chính mình, chứ không phải ai khác.

Tôi đây gặp-gỡ rất nhiều người từng coi việc đấu-tranh cho công-bằng trở-thành công việc thay thế cho niềm tin, tức thứ gì đó họ rất tin-tưởng trong cùng một lúc vẫn rụt-rè xa lánh mọi quan-hệ với Thiên-Chúa. Ngài đã nhắc nhở chúng tôi rằng: đói công-bằng còn thực-tế hơn mọi thứ so-sánh nào khác; và, là việc bày-tỏ lòng tin chứ không phải là sự thay thế.

Vào thời-điểm tôi đây vẫn kiếm tìm cuộc sống đơn-độc, có vị linh-mục trọng tuổi từng hối thúc tôi đọc cuốn sách thứ hai do ngài viết, tức cuốn “Dấu Chỉ của Giôna”, là sách dựa trên cuốn nhật-ký mà ngài gìn giữ trong cuộc sống ở Gétsêmani từ năm 1946 đến 1952. Theo tôi nghĩ, cuốn này trở-thành cuốn sách tôi vẫn đọc mỗi năm trong đời trong suốt 30 năm vừa qua. Với riêng tôi, đây là chốt-điểm của đời mình. Tôi ưa-thích cung-cách qua đó ngài phấn-đấu tìm cho ra đặc-trưng xác-thực của chính ngài.

“Dấu Chỉ của Giôna” kết-thúc bằng một lời bạt có tên gọi là “Canh Lửa, hôm 4 tháng 9 năm 1952”. Vào một tối nóng-nực ngày hè năm ấy, ngài phải đi bộ vòng quanh khuôn viên căn nhà ván lá của tu-viện từ trên xuống dưới, xem có dấu-hiệu nào báo trước có cháy rừng thiêu-huỷ khu vục không.                           

Và, khi ngào đi rà-soát một vòng như thế, mọi ngõ ngách của vườn dòng Gétsêmani lại là cơ-hội để ngài tưởng nhớ, nguyện cầu. Mỗi khi có thày dòng nào đi ngủ, đó là dịp thuận đầy ân-huệ, là việc diệu-kỳ cùng mê say, diệu cảm nữa. Có lần ngài từng thưa với Chúa: “Lạy Chúa, đêm về là thời-khắc đểcon được tu-do tiếp xúc với Chúa. Theo tôi thì, ở đây, ngài muốn nói đến thời-khắc có được viễn-tượng được thấy các sự việc mà người bình-thường không thể thấy mắt thịt của mình.

Và lần ấy, ngài lại tiếp-tục thưa cùng Chúa: “Chúa là Đấng ngủ say trong tâm can con, nên con không thể gặp Chúa qua lời nguyện-cầu, nhưng chỉ bằng sức sống trỗi dậy trong cuộc đời và cũng là sự khôn-ngoan bên trong mọi khéo léo, ngoan hiền. Con gặp Chúa trong hiệp-thông: Chúa ở trong con và con ở trong Chúa. Và Chúa ở trong họ cũng như họ đang ở trong con.”

Ngài Thomas Merton thân thương,
Ngài từng dạy cho tôi biết: nhiều cơ-hội trong đó cần động-thái kiên-trì/bền đỗ hầu tạo được sự đổi-thay rất đích-thực. Và, ngài cũng đã khuyên tôi, rằng: công-bằng không thể do hoạt-động đơn-thuần mà ra dù vẫn xúc tiến không ngừng nghỉ. Những gì ta làm ra, lại ít quan-trọng bằng những gì Chúa cho phép ta làm. Chính đó, là điều tôi đây hằng tâm-nguyện.

Cảm ơn ngài, hỡi đấng thánh Thomas Merton rất thân thương của tôi.
Michael McGirr” 
(X. Michael McGirr, A Letter to Thomas Merton, The Australian Catholics Winter 2015 tr. 8)

Lời của dân con bình thường gửi đấng thánh ở trên lại vẫn nhắn nhủ bạn bè, như bạn và tôi, cũng để đưa dẫn chính tôi và bạn đi vào vườn hoa Lời Vàng có những dặn dò từ bậc thánh-hiền khi xưa vẫn nhắc-nhở và nhủ-khuyên như sau:

Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô
đem lại cho chúng ta một niềm an ủi,
nếu tình bác ái khích lệ chúng ta,
nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí,
nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau,
thì xin anh chị em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn,
là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn,
cùng một ý hướng như nhau.
Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh,
nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình.
Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình,
nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.
Giữa anh em với nhau,
anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu.”
(Phillíphê 2: 1-5)        

            Khi xưa, đấng thánh-hiền trong Đạo lại vẫn bảo ban mọi người trong/ngoài đời lời lẽ ân-tình, thật như thế. Và, người nghệ-sĩ ở đời lại cũng dùng lời ca/ý-nhạc khá đánh động, như sau: 
  
“Lời nào muốn nói nhưng chuốc sầu thêm thôi,”
Tình nào buông trôi, như nắng chiều lưng đồi!
Một ngày nắng ấm, xin chấp cánh bay cao
Ðể rồi mai sau, còn ai nói yêu nhau,
Nhạc tình phôi pha, còn ai thấy xót xa
Người về nơi đâu, thung lũng sầu thêm sâu.

Người xưa có quên chăng hay dỗi hờn ?
Người xưa vẫn tung tăng hay đã chợt sang ngang ??
Tình xưa đã chôn sâu trên lối sầu
Thời gian có bao lâu xin hãy đợi mưa ngâu

Còn ai trong gió chiều?
còn ai thương nhớ nhiều?
Tình yêu cao ngất trời.
cho suốt đời đếm bước chơi vơi.
Còn đâu giây phút đầu?
còn ai nâng chén sầu?
Ðể ai quay bước về
cho ước thề buốt giá cơn mơ.
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Cũng hệt thế, trong gió chiều, “tình yêu cao ngất trời cho suốt đời đếm bước chơi vơi”.  Cũng như vậy, lời thơ hay ý nhạc của nghệ-sĩ sẽ cùng với lời khuyên của bậc thánh-hiền đưa người đọc và người nghe đi mãi vào chốn êm đềm của tình “ngất trời”, vời vợi. Ở muôn nơi.

Trần Ngọc Mười Hai
Và những ý-tưởng
Tuy còn hời hợt, như cơn mơ
Những vẫn là những lời phiếm
Cũng rất chân tình
và thành thật
đến suốt đời.