Friday, 7 March 2014

“Điếu thuốc trên môi còn làn khói mềm”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 2 Mùa Chay Năm A 09-3-2014

“Điếu thuốc trên môi còn làn khói mềm”
Âm thầm trong những bước chân,
Mơ hồ như có tiếng ngân,
Của một hồi chuông ai oán xa xăm.”
 (Nguyễn Đình Toàn – Hiên Cúc Vàng)

(Mt 5: 34-36)
            “Mơ hồ như có tiếng ngân”, Của một hồi chuông ai oán xa xăm”... Sao câu hát này thấy quen quen? Quen như lời khẳng định của nhà báo từng viết hôm nào, vẫn cứ hỏi:

“Phải chăng các việc như: có thành-kiến, “nói hành nói tỏi” hoặc kỳ thị này nọ về lời ăn tiếng nói vẫn mạnh mẽ như thời xưa, trong cuộc sống? Đó là đề tài câu chuyện do các vị chuyên trách ngành truyền thông ở Mỹ đưa ra, nếu viết thành chữ, chắc cũng dài nhiều cuốn sách!

Theo lời bàn của tác giả là Lm Robert Barron, một đấng bậc từng có tiếng nói rất uy-tín dù ông chỉ đứng ở hậu-trường đài truyền hình với chương-trình được gọi: “Phim truyện nhiều tập về Đạo Công-giáo”, vốn hay đề cập đến các nỗ-lực kình-chống Đạo của Chúa như còn thấy ở ngoài đời. Lm Robert Barron là người được trích dẫn tên tuổi cũng khá nhiều ở báo/đài trên đất Mỹ, qua đó nhiều lần ông từng lên tiếng bảo rằng:

“Mấy tuần qua, có hai sự kiện khá nổi bật diễn ra cách chớp nhoáng cốt để kình-chống lại Đạo Chúa lại tìm cách chen chân vào buổi hội-thoại trước công-chúng. Sự kiện đầu, là sự việc xuất-hiện nơi bản tường-trình trên báo Mỹ mang tên “The U.S. News and World Report” do bỉnh bút Jamie Stiehm phụ trách, đã biện-luận rằng: Tối Cao Pháp-viện Hoa Kỳ mới đây lại dính-dự một cách trơ-trẽn vào sinh-hoạt của giới Công-giáo với nỗ-lực muốn Giáo-hội tách rời khỏi chính giới. Và cô Jamie lại cũng thấy khó mà đứng ở giữa một khi cô cứ tìm cách áp-đặt ý-kiến của riêng cô lên quảng-đại quần-chúng. Cô Jamie Stiehm lại được nữ-thẩm-phán Sonia Sotomayor toa rập tặng thêm cho cô đôi chút kẽ hở về luật-pháp để hít thở. Nói nôm na ra, thì bất cứ lý lẽ/lý sự nào thiếu khôn ngoan hoặc chẳng mấy đúng đắn mà một khi đã được tác-giả bài báo nào đó tỏ bày quan-điểm lại cứ bị các bàn tay “nhám-nhúa” của ác-thần/sự dữ đưa dẫn bằng những giòng chảy đầy ngụy biện, ngõ hầu cho mọi người thấy, là: hiện đang có phong-trào kình-chống Đạo Công-giáo với nhiều ác ý và thành kiến. Những việc như thế không thể cứ ung-dung xuất-hiện mãi ở xã-hội đã xấu xa về nhiều mặt, của ta...” (xem Sheila Liaugminas, Prejudice as strong as ever, MercatorNet 28/01/2014)

            Lời cáo buộc của đấng bậc nói ở trên, cho thấy: thời này, hiện vẫn còn có rất nhiều vận-động của ác-thần/sự dữ cứ quanh quất bên những người đang cố giữ Đạo cho tốt. Họ vẫn cứ truy-kích bằng đủ mọi cách quyết làm cho dân con đi Đạo, phải chùng bước.
            Ngày nay, ác-thầnsự dữ không chỉ hiện-diện với con người bằng các hành-động giết chóc hoặc bạo-lực này khác mà thôi đâu. Nhưng thực-tế cho thấy, dân con Đạo Chúa hôm nay còn bị dồn vào chân tường bằng nhiều cách-thức, trong đó có cả những gì được gọi là “thành kiến”, lời lẽ xấu xa nhằm triệt-hạ uy-tín của người bị đánh hoặc các ý-nghĩ khá nghịch-ngạo, rất khó chịu.
Thế nhưng, nếu nhìn vào cung cách hành-xử mang tính nhẹ nhàng tích-cực hoặc dựng xây tinh-thần đoàn-kết, giúp đỡ nhau trong mọi hoàn-cảnh bất ưng, người người sẽ bắt gặp những giòng chảy nhè-nhẹ, đầy ý-nghĩa trong sống Đạo giữa đời, có sự hỗ-trợ của Lời Chúa làm lẽ sống, như lời bàn và/hoặc chú thích về trình-thuật Lời Vàng Chúa nói, rất như sau:      

“Để mọi người sống đạo cho nhẹ nhàng/dễ chịu, nay xin hầu quý vị bằng câu truyện kể xảy đến vào những tuần trước ngày chúng tôi chịu chức linh mục, Cha Tổng Đại Diện có bảo chúng tôi phải thề nguyền trung thành với Hội thánh và lời dạy của Giáo hội. Lúc ấy, tôi liên tưởng ngay đến giới lệnh Chúa đề cập ở Bài Giảng Trên Núi, khi Ngài bảo: “Anh em đừng thề thốt gì hết… Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.” (Mt 5: 34-36)

Hội thánh thời tiên khởi vẫn coi trọng giới lệnh này, thi-hành rất nghiêm chỉnh. Riêng thánh Giacôbê cũng đưa lời khuyên này lên đầu danh sách những việc “nên hay không nên làm”. 300 năm sau, khi Hội thánh và chính quyền trần thế hợp tác cùng nhau hoạt động dựng xây xã hội, thì chuyện thề nguyền cũng đổi thay ít nhiều. Nghĩa là, Hội thánh chọn xa lánh mọi tình huống căng thẳng với giới nắm quyền hành về chính trị, đại để như:  chuyên đòi mọi người phải cam kết/thề nguyền rằng: sẽ nói lên sự thật, và chỉ sự thật mà thôi. Từ đó, tôi vẫn có thói quen thề hứa vào mỗi dịp kỷ niệm ngày chịu chức linh mục, và lúc ấy tôi thấy nao nao, rất yếu lòng.

Với Chúa thì khác. Ngài vững vàng hơn ta rất nhiều. Nhất là khi thượng tế Caipha nhân danh Thiên Chúa hằng sống yêu cầu Ngài phải thề thốt trước mọi người, rằng: Ngài có phải là Đức Kitô hay không, thì Chúa đáp: “Ông nói đó!” (Mt 26: 63-64). Vậy, vấn đề ở đây, là: ta có nên bắt chước Chúa mà trả lời bằng từ “Có” hoặc “không”, như thế chăng? Bởi, nhiều người có lúc như muốn dùng dáng vẻ bên ngoài để làm giảm giá lời nói thông thường hầu tránh nói thật, thì Chúa lại bảo cho ta biết: “…Thêm thắt điều gì là do ác quỷ”. Quả thật, đây là một khẳng định khá nghiêm khắc. Nếu vậy, sao Chúa lại nói thế?

Qua “Bài Giảng Trên Núi”, Ngài muốn dạy ta biết sử dụng đúng Danh Cha khi bảo ta đọc kinh “Lạy Cha” cho thân mật. Ngay từ đầu, lời xưng hô cùng Chúa Cha do Ngài chỉ dạy, chính là “quà tặng” Chúa gửi đến cộng đoàn Hội thánh, Ngài cùng sống với mọi người. Đây là đặc sủng và cũng là đặc quyền Ngài ban cho ta được phép làm con của Cha. Được sử dụng danh xưng mật thiết của Chúa, mà Ngài vẫn xưng gọi. Đó cũng là cung cách Chúa muốn ta hành xử khi đệ đạt điều gì với Cha của Ngài.

Tuy thế, dùng Danh Chúa mà thề, lại là chuyện khác. Vì như thế tức đích thực là lạm dụng. Rõ ràng, Chúa vẫn muốn thiết lập một xã hội mới mà Ngài gọi là Vương Quốc Nước Trời, trong đó Ngài kể lại Sự thật có tầm quan trọng rất thực. Và từ đó, không có cách nào khác giúp ta nói lên sự thật chính-xác như thế. Nói nôm na, thì cung cách này là lối nói thẳng và nói thực, với mọi người.

Nói thẳng và nói thực, là chuyện tùy cá tính mỗi người. Ta biết chuyện này, là do quan hệ mật thiết riêng tư mà thôi. Trên bình diện cộng đoàn, các nhóm hội/đoàn thể và xã hội dễ bị phá vỡ nếu các thành viên trong đó không tin vào lời người khác nói. Một điều làm mọi người sững sờ, nhưng là chuyện có thật, khi ta nhận ra rằng: xã hội ngoài đời lại rập khuôn với Bài Giảng Trên Núi hơn nhà Đạo mình. Chí ít, là khi điều đó cho phép mọi người dễ dàng tuân giữ huấn thị của Chúa hơn.

Ở ngoài đời, mỗi khi các dân biểu hoặc nghị sĩ tuyên thệ nhậm chức trước quốc hội, các vị ấy vẫn chọn hoặc thề nguyền hoặc cam kết khẳng định sẽ tuân giữ sự thật, nhân danh Nữ Hoàng hoặc vị Quốc trưởng, thế là đủ. Ở toà án, người ta cũng làm thế. Một khi bị cáo có lời thề hoặc cam kết trước mặt quan toà rồi, thì bồi thẩm đoàn hoặc Chánh án không thể lật ngược hoặc hiểu khác hơn. Còn, Hội thánh thì sao?                       

Hội thánh cần nghe đọc lại thư của thánh Giacôbê tông đồ viết sau Bài Giảng Trên Núi chừng vài thế hệ, nhưng lại diễn tả đúng nội dung điều Chúa muốn dạy, khi thề thốt. Thánh Giacôbê gợi nhớ, để thôi thúc các môn đệ trẻ hãy thực hiện điều lành thánh, hệt như Lời Chúa dạy ở Bài Giảng Trên Núi. Thánh Giacô bê, đã viết: “Anh em đừng thề thốt, dù có lấy trời, lấy đất, hay lấy gì khác mà thề. Nhưng hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không"; như thế anh em sẽ không bị xét xử. Ai trong anh em đau khổ ư? Người ấy hãy cầu nguyện.” (Gc 5: 12-13)

Hội thánh nên tự mình xem xét mà tuân giữ lời Chúa dạy trong Bài Giảng trên Núi. Hoặc ít nhất hãy tuân theo Lời Vàng của Thày Chí Thánh mình từng dạy bảo. Có như thế, mới thấy mình có khả năng rao truyền những gì còn lại trong Bài Giảng trên Núi, với lòng xác tín không lay chuyển. Hội thánh cũng nên nghe theo lời Chúa truyền dạy ở cuối Bài Giảng Trên Núi, rằng: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (5: 48). Đó chính là ý nghĩa đích thực của việc nói lên sự thật, ở đời. “ (xem Lm Richard Leonard sj, www.giadinhanphong.blogspot.com suy tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ 6 thường niên năm A, 16-02-2014)

Tuy nhiên, trong đời đi Đạo, hẳn ta cũng đã từng nghe hoặc chứng-kiến nhiều vị cứ dùng Danh Chúa/Mẹ mà nói để ý-kiến của mình được coi là ý tốt. Nói như người thời nay, là nói có so sánh cũ/mới với người đi Đạo hoặc ở ngoài đời. Là, nói và kể những câu chuyện tình-tứ hoặc tình-tự về tình người như lâu nay ta vẫn thấy.
Nhưng trước khi kể lể này nọ, bần đạo đây vẫn muốn mời bạn và mời tôi, ta nghe thêm đoạn hát có những lời ca của nghệ-sĩ viết rất nhiều đoản-khúc âm-nhạc nhưng ít được người đời biết đến, như sau:

“Bên hiên người cúc vàng,
Bao nhiêu lần đã tàn.
Còn ngậm màu lưu luyến,
Ai đi ngoài muôn trùng,
Xa lâu rồi cách lòng.
Tình còn hay đã quên?
(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

Nghe hát rồi, ta đọc lời nhận định của ai đó do bầu bạn các nơi gửi đến các vị rảnh rỗi có thì giờ mà vị phu-nhân của ai đó vẫn từng gọi là “chơi meo” (tức theo dõi email) cho vui đời vi-tính hầu bớt mệt, mà rằng:

“Ngày xưa cứ nghĩ khi vui thì mới cười và khi buồn ta mới khóc.
Bây giờ mới hiểu khi hạnh phúc ta vẫn khóc và khi tuyệt vọng nhất ta vẫn cười.
Ngày xưa cứ nghĩ đau nhất là bị tổn thương, là mất mát, là chia ly.. !...
Bây giờ mới biết điều làm ta đau nhất là khi buồn mà ta không thể khóc được. ...
Ngày xưa cứ nghĩ có tờ giấy kết hôn rồi sẽ gắn kết với nhau !...
Bây giờ mới biết có khi tờ giấy ấy chỉ là hình thức. ...
Ngày xưa cứ nghĩ trân trọng, giữ gìn thì sẽ không bao giờ mất…!.
Bây giờ nhận ra rằng càng nâng niu càng dễ mất hơn.
Ngày xưa cứ nghĩ sẽ không bao giờ biết giận hờn và oán hận ai …!
Bây giờ mới nhận ra dường như ta còn đang căm giận...một người nào đó.
Ngày xưa cứ nghĩ mỉm cười với người khác thì người khác sẽ cười lại với ta…!Bây giờ mới hiểu có những nụ cười không hề được đón nhận.
Ngày xưa cứ nghĩ yêu đơn giản là nhung nhớ, chờ mong…!
Bây giờ mới biết phải chấp nhận, cảm thông, chia sẻ, bao dung, tin tưởng thì tình yêu mới định thành.
Ngày xưa cứ nghĩ sống cầu an, không tranh giành, chiếm đoạt của ai thì họ sẽ không làm như vậy với ta…!Bây giờ mới thấm thía câu: “ Cây muốn lặng mà gió chẳng chịu dừng ".
Ngày xưa cứ trách cuộc sống làm mọi điều thay đổi . Bây giờ mới biết nó thay đổi là do lòng dạ con người.
Ngày xưa cứ nghĩ rằng tha lỗi là điều rất dễ .Bây giờ mới hiểu tha thứ cho một ai đó là điều rất khó
Ngày xưa cứ nghĩ đường lên trời là xa nhất…!Bây giờ mới biết xa nhất chính là khoảng cách giữa hai tâm hồn, là chiều dài nỗi nhớ. 
Ngày xưa nghĩ bất cứ chuyện gì cũng có lý do của nó…!Bây giờ mới biết rằng có những chuyện càng giải thích càng chẳng đến đâu. 
Ngày xưa cứ nghĩ chỉ có ta mới có thể thay đổi bản thân ta…!Bây giờ nhận ra rằng ta đã thay đổi quá nhiều vì người khác. 
Ngày xưa cứ nghĩ im lặng là tránh được xung đột, để mọi người cảm nhận nhiều hơn…!Bây giờ mới hiểu im lặng có thể làm hiểu sai về nhau và giết dần bao cảm xúc.”

            Vẫn biết người đời nhận-định về cuộc sống là như thế, phải như thế. Thế nhưng, khi người đi Đạo muốn duy trì cuộc sống hạnh đạo ở giữa đời, thường thấy khó. Khó, vì cứ bị coi như là đích nhắm của nhiều cuộc chiến từ trong ra ngoài, từ Nam chí Bắc, rất khắp nơi.
            Để hỗ trợ cho con người, Chúa Thánh Thần vẫn làm không ngừng nghỉ; nhưng người đời và cả người đi Đạo, không biết đến. Chúa Thánh Thần làm việc qua ý kiến tích cực cùng sự kiện thực tế xảy đến ở nhiều nơi. Một trong các sự kiện thực tế rất tích cực, có thể kể đến, là như sự việc được truyền thông báo chí, kể dài dài ở nhiều nơi, như sau:

“Trong bản tin đăng tải trên tờ báo Đạo có tên là The Catholic Weekly ở Úc, hôm rồi, tác giả Carol Glatz đã thuật lại sự-kiện như sau:

Đứng chào mừng cả ngàn cặp tình-nhân vào ngày lễ thánh Valentinô, ngày lễ mà nhiều người ở ngoài đời vẫn gọi là “Ngày Tình-Nhân”, Đức Giáo Hoàng Phanxicô có khuyên các cô cậu nhân-tình rằng: chớ hãi sợ khi phải dựng-xây tương-quan dài lâu thật mến thương khi nền văn hoá ta đang sống có nhiều thứ đang trở thành “đồ bỏ”, hết.

Đức Giáo Hoàng cũng nói: “Bí kíp để thực hiện cuộc sống yêu thương kéo dài nhiều ngày, là: hãy đối xử với nhau với lòng tử tế, rất tôn trọng và cảm kích biết ơn nhau không ngừng nghỉ. Chí ít, là đừng bao giờ để chuyện tranh-luận/cãi vã hoặc đấu tranh về việc gì đó ngày càng làm hao mòn sự an-bình hài-hoà, và nhất là: phải biết xin lỗi nhau mỗi ngày trong đời.

Gia-đình tuyệt-hảo chẳng bao giờ hiện hữu trên đời này, và cũng chẳng bao thấy bất cứ ai được gọi là người chồng hoặc cô vợ “tuyệt diệu” bao giờ hết. Đừng bao giờ kể cho nhau tính xấu/tốt về mẹ vợ hoặc mẹ chồng mình, nhưng hãy nhớ rằng: ta và mình đều là những người có lỗi. Thế nên, nếu biết học nói lời “xin lỗi” đối với nhau và thứ tha cho nhau mỗi ngày, ắt hẳn hôn-nhân của các bạn sẽ tồn tại, mãi mãi hoặc dài lâu hơn...” (xem Carol Glatz, Francis’s advice: change your boots for delicacy, The Catholic Weekly 23/02/2014 tr. 10)

            Nói thế, tức: nói theo kiểu tích-cực dựng xây có kiếm tìm giải-pháp nào đó dẫn đến kết-cuộc tốt-đẹp, chứ không để rêu rao/bêu xấu như một số báo-đài ở nhiều nơi, vẫn làm.
Viết đến đây, bần đạo lại nhớ lập-trường của một bạn đồng-môn lâu ngày ít nghe tiếng hiện đang phấn đấu sống ở xứ Nouméa, rất Nouvelle Calédonie lặng lẽ, rằng: từ ngày qua đó, anh chị đã thôi không còn theo dõi báo đài hoặc truyền hình nữa. Lý do, là vì: anh chị không có nhiều giờ rảnh; hai nữa vì truyền-thông báo chí toàn kể chuyện giết chóc hoặc bi-đát, biết để làm gì, chứ
Bần-đạo bầy tôi đây không có ý-kiến gì phản-bác lập-trường của ai hết. Chí ít, của bạn đồng-môn rất chí tình. Nhưng vẫn cứ quay về với Lời vàng của Đạo, mà tình đến những tình-tiết cao sang, đúng đắn để sống. Bất chợt gặp được Lời vàng ngọc như sau:

“Hãy yêu mến kẻ địch
Và khẩn cầu cho những người bắt bớ các ngươi
Ngõ hầu các trở nên người con của Cha các ngươi,
Đấng ở trên trời
Vì Người cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành,
Và làm mưa trên người ngay và kẻ ác...”
(Mt 5: 43-46)

Nghe dạy rồi, nay bần đạo mời bạn và mời tôi ta cứ suy-nghĩ những lời như thế, và rồi sẽ cùng với người nghệ-sĩ ở ngoài đời, vẫn cứ hát những câu ca rất yêu thương ngay từ đầu:

“Đi trên đường phố này.
Nghe như chiều đã đầy.
Cả hồn người thương nhớ.
Cây cao đổ bóng dài.
Chập chờn trong lá bay.
Mùa thu thắp lá hai bên đường,
Hay những tro tàn của tình xa vắng...”
(Nguyễn Đình Toàn – bđd)          

“Cả hồn người thương nhớ”, “hay những tro tàn của tình xa vắng...” tất cả vẫn là và sẽ là tình-tự của bạn và của tôi, rất muôn đời, nếu ta không chịu nghe theo Lời Vàng Ngài đã dặn nhiều thuở trước. Một khi đã nghe và thực hiện Lời Vàng ấy rồi, thì còn đó mãi mãi sẽ là những chuỗi ngày rất yêu thương, êm đềm vẫn hiện-diện trong ta, và mọi người.

Trần Ngọc Mười Hai
Thật ra lâu nay vẫn cứ tìm rất nhiều thứ.
Nhưng sự thật còn đó
Sao cứ đứng im mà không động đậy,
một thực hiện?   
  


Saturday, 1 March 2014

“Ai nói yêu em đêm nay,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ nhất mùa Chay Năm A 09-3-2014

“Ai nói yêu em đêm nay,”
Ai nói yêu em đêm mai, Ai sẽ yêu em sau này?
Son phấn nào giết ngây thơ, Ánh đèn nào màu đơn côi,
Lệ sao nhiều hơn mưa lũ.”
(Trần Thiện Thanh – Ai Nói Yêu Em Đêm Nay)

(Lc 18: 22-23)
            Chết thật rồi, bạn ơi. Cái gì mà, bàn chuyện Kinh Sách với thần học lại trích dẫn giòng nhạc toàn những: “yêu em” với lại “yêu anh”, hết đêm nay rồi lại đêm mai, tại sao vậy?” Chừng như, đây là câu nói phản hồi của bạn bè, hôm trước đã hơn một lần từng đưa ra!
            Vâng. Bầu bạn hỏi, thì hôm nay, bần đạo bầy tôi đây xin thưa chuyện như đã từng thưa với đồng môn hay đồng đạo những sự rất thật về chuyện phiếm cũng rất “loạn”. Nhưng, trước khi hầu chuyện bạn và tôi, bần đạo đây xin được nghe thêm câu hát lại cũng cất lên từ buổi nhạc “Hát Cho Nhau Nghe” hôm 15/3/2014 ở Sydney, có lời ca như sau:

            “Ai dìu bước em đêm nay,
            Ai dìu bước em đêm mai,
            Ai dìu bước em tương lai
            Nhịp chân nào đưa rã rời?
Ôi tiếng kèn nghẹn như tiếng khóc
Thương cho người một kiếp vô duyên.”
            (Trần Thiện Thanh – bđd)

            Vâng. Hôm nay, bần đạo lại cũng mạn phép bầu bạn khắp nơi, để bảo rằng: thay vì trả lời thẳng câu hỏi, lại chỉ dám xin đưa vấn đề ra đây bằng một truyện kể hoặc những trích dẫn sao cho tỏ con ngươi nhà Đạo bấy lâu nay.
            Thanh minh thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đi thẳng tuột vào vấn đề gặp ở đâu đó, có báo đài/truyền thông chảy thông suốt những giòng như sau:

“Mấy tháng ngày qua, có lẽ bạn đọc cũng nghe biết chàng trai nọ có tên là Pete Lynagh kể lại chuyện riêng của anh rồi chứ nhỉ?

Vâng. Đầu năm 2013 vừa qua, chàng trai nổi tiếng hào hoa/bay nhảy, chuyên hát và kể toàn chuyện...tình và tình, mà thôi. Nhưng, vào đầu năm nay, vui vẻ thế này mà anh lại đưa ra câu tuyên bố “nảy lửa” khiến bạn bè/người thân cứ bảo nhau: Hãy chờ xem anh ta có giữ lời không đã! Và, giữ đến mức độ nào? Bởi, anh tuyên bố rằng: sẽ chay kiêng ăn nằm suốt một năm, để gây quỹ chống việc thiên hạ dùng trẻ em Cam-pu-chia làm nô lệ tình dục, vào tuổi còn quá nhỏ...

Đúng năm sau, vào ngày đầu 2014, chàng thanh niên 33 tuổi này bèn nói: anh thấy trong người khá hơn trước về chuyện “ấy” ấy, dù đôi lúc thấy có hứng hoặc đòi hỏi này nọ, cũng vậy...

Với nhiều người, có lẽ đây là chuyện lạ trên đời, cũng đáng để ta bắt đầu năm mới với những chuyện Đạo/đời khô khan, lan man viết hoài/viết mãi, đến không chán...” (xem Tamara Rajakariar, Chastity for Charity,  MercatorNet 28/1/2014)

            Đấy, bầu bạn thấy đấy! Thiên hạ mào đầu câu chuyện còn dài dòng hơn mọi người, ngay như bần đạo đây mới chỉ hát hò đôi câu “ướt át” chuyện yêu đương với đương yêu thôi cũng đã bị “kỳ thị” rồi. Thôi thì, thanh minh một chút rồi, nay ta hát tiếp đôi câu cũng hơi “rầu”, rồi bàn tiếp. Nói “rầu”, là bởi theo ý của ai đó hễ cứ bàn chuyện “yêu đương” đều hát những câu sau:

            “Bẽ bàng một mình em,
Nghe như trong lòng giông tố như cuốn xô,
Ai nói yêu em đêm nay,
Ai nói yêu em đêm mai,
Ai sẽ yêu em sau này.”             
(Trần Thiện Thanh – bđd)

            Ở đời thường, người đi Đạo lại có nhiều chuyện đáng hát câu “bẽ bàng” hơn nữa. Hát mãi câu: “Bẽ bàng một mình em”, “Nghe trong lòng giông tố, như cuốn xô” hơn ai hết. Thôi thì, để bạn và tôi, ta nghe thêm lời hỏi/đáp giữa cha/con nhà Đạo, cũng đạo-mạo, như sau:

            “Thưa cha,
Con không biết tại sao một số vị cứ coi lập trường thần-học của Đức Thánh Cha Phanxicô, là “phóng khoáng”/“cấp tiến” hay sao đó? Theo con, thì với cương-vị của thủ-lĩnh một đạo-giáo, ngài đã công-khai đưa ra lập trường về “sự dữ”, tức những điều mà người cấp tiến hoặc “thoáng” cho lắm, cũng không nói. Hôm nay, xin hỏi cha, là: Đức Phanxicô khi được gọi là Đức “thánh” cha rồi, thì điều ngài nói có gì là sai trái, phải thế không, cha?” (Câu hỏi của người đi Đạo gửi tuần báo Công giáo hỏi chuyện đạo-đức, ở trong Đạo)

            Vâng. Hễ có người hỏi về chuyện đạo-đức, tức thời Đức Cha hay là Đức thày đều ưa thích, nên sẽ viết câu trả lời, ngay trên giấy. Và, câu trả lời của đức ngài, hôm nay, cũng lai rai, dài dài, rất như sau:

“Thật ra thì, Đức Giáo Hoàng Phanxicô chẳng khi nào mang tiếng là nhà thần-học “thông thoáng” hoặc “cấp tiến”, hết. Ngài từng nói rất nhiều lần về ác-thần/sự dữ, giống các vị khác thôi. Ngay khi được bầu làm Thủ lãnh Giáo hội, ngài cũng nói: “Cả khi người ta không tuyên xưng niềm tin vào Chúa đi chăng nữa, tôi vẫn nhớ câu nói của Léon Bloy từng bảo: “Bất cứ ai không nguyện cầu cùng Chúa, tức cũng là cầu nguyện với ác thần quỹ dữ, thôi.”

Hôm sau, ngài lại nói: “Ta chớ bao giờ đầu hàng chủ-nghĩa bi-quan, cũng đừng cay đắng chịu thua ác thần/quỷ dữ cứ muốn dụ dỗ ta sa đà ở với nó, mỗi ngày...” Quả là, Đức Phanxicô đúng là đấng bậc rất lạc-quan, bởi ngài luôn gọi mời Giáo-hội sống đích-thực niềm vui Chúa muốn ta sống như thế, qua lời thánh-sử Gioan từng viết:

“Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người.11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.” (Ga 15: 10-11)   

Vả lại, như mọi người chúng ta đều đã biết: mỗi khi Chúa muốn ta hạnh phúc, là ta sẽ được phúc hạnh khi ta gần gũi Chúa, như thánh Phaolô từng căn dặn giáo đoàn Phílíphê rằng: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!” (Phil 4: 4)- Và khi đó, ác-thần/sự dữ chỉ muốn dẫn ta ra đi khỏi vòng tay ôm của Chúa bởi quỷ dữ chỉ khuyến dụ ta đi vào với bi quan sầu buồn, mà thôi.

Lại nữa, trong bài chia sẻ Lời Chúa hôm Lễ Lá 2013, khi qui chiếu những vấn đề xem ra khó có thể vượt qua được, thì Đức Giáo Hoàng, lại cũng nói: “Vào lúc này, ác thần địch thù vẫn đến cám dỗ nhưng lại đột lốt thiên thần và rồi từng bước lại từng bước đưa ra lời lẽ rất cám dỗ, đến với ta. Ta hãy nhớ: đừng bao giờ nghe lời chúng cám dỗ!”

Có lẽ qui chiếu hay nhất khi đề-cập việc Đức Phanxicô nói đến ác-thần/quỷ dữ vào triều đại Giáo hoàng của ngài là vào ngày 5/7/2013 khi ngài cung hiến thành-lũy Vaticăng của ngài cho Tổng Lãnh Thiên Thần Micae. Khi ấy, có Đức Bênêđíchtô 16 cũng tham gia cử-hành nghi-thức rảy nước làm phép tượng thánh Micae tại khu vườn của Vaticăng ở Rôma.

Trong bài chia sẻ ngắn, Đức Phanxicô nói: “Tổng Lãnh Thiên Thần Micae – là thần-sứ có đặc-tính giống như Chúa- vị thần-sứ vô-địch của Chúa rất mạnh-mẽ về quyền uy, hơn hẳn mọi người. Tổng Lãnh Thiên Thần Micae phấn đấu tái tạo sự công chính thánh-thiêng và bảo vệ dân của Chúa khỏi mọi địch-thù, ở bên trên các kẻ địch là ác-thần/quỷ dữ. Sở dĩ Tổng Lãnh Thiên Thần Micae luôn thắng thế quỷ dữ là bởi bên trong mình có Chúa luôn hợp-lực tác-động. Bức tượng này nhắc ta nhớ rằng: quỷ dữ luôn bị ta vượt thắng, ta lột mặt nạ chúng và đạp đầu chúng do bởi ơn cứu độ hoàn-thành một lần là mãi mãi nhờ bởi Máu thánh Đức Kitô. Dù, quỷ dữ có tìm cách tráo-trở, trà-trộn bằng nhiều mặt khác nhau, có khi chúng dùng cả diện mạo con người, cũng vẫn bị Thiên-Chúa là Đấng quyền-uy/sức mạnh luôn lướt vượt và thắng chúng, nhờ đó đã cứu ta và ban cho ta ơn-huệ cứu độ. Ta chẳng khi nào bị bỏ rơi/cô đơn trong hành trình cuộc sống; bởi ta luôn có sự hỗ-trợ từ thần-sứ của Chúa luôn dương cánh bảo-vệ để ta lướt thắng mọi hiểm nguy, hầu bay cao, cao mãi cả vào lúc thực-tại cuộc sống cứ muốn triệt-hạ và trì kéo ta xuống vực sâu. Bằng việc cung hiến thành Vaticăng cho Tổng Lãnh Thiên Thần Micae để khỏi bị quỷ dữ/ác thần quấy quả và  ngăn chúng làm bậy...”

Xem thế thì, rõ ràng là Đức Phanxicô luôn coi ác-thần/quỷ dữ như địch thù đích-thực của Hội-thánh và các linh-hồn. Lời ngài nhắc nhở con dân trong Đạo luôn đề-cao cảnh-giác trước mọi ác-thần thù-địch vẫn vang-vọng lời của thánh Phêrô khi xưa từng nhắc nhở:

“Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế. Thiên Chúa là nguồn mọi ân sủng, cũng là Đấng đã kêu gọi anh em vào vinh quang đời đời của Người trong Đức Ki-tô. Phần anh em là những kẻ phải chịu khổ ít lâu, chính Thiên Chúa sẽ cho anh em được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường.”             
           
Xem thế thì, một lần nữa, ta cũng luôn trong tình-trạng tỉnh-thức để nghe lời nhủ khuyên của thánh-nhân, suốt mọi ngày.” (xem Lm John Flader, Đức Giáo Hoàng Phanxicô và vấn đề quỷ dữ, Question Time, The Catholic Weekly 26/01/2014 tr. 10)

            Nói về Đức Giáo Tông hiền-từ/bình dị giống thánh Phanxicô thành Assisi là thế, mà lại bảo: ngài là đấng bậc thông thoáng hoặc cấp-tiến về thần-học thì y như thể bảo rằng: ngài đang chơi với lửa. Lửa, niềm tin. Lửa, ở các vụ cháy rừng lan rất nhanh.
            Thật ra, còn quá sớm để ta có thể gióng tiếng lên án đấng bậc chủ trương sống Đạo rất đích-thực và tái-tục rao-giảng lòng Đạo/việc Đạo theo kiểu phù-hợp với thời đại hơn, mới đúng.
            Vừa rồi đây, bần đạo có dịp trở lại ngôi chùa ở Sydney vốn chất-chứa tro cốt của “cụ ngoại các cháu” trong nhà, đã khám phá ra đôi ba lập trường, tuy của người “ngoài luồng”, nhưng vẫn có lòng đạo giống người đi Đạo. Lập trường, tuy dài dòng, nhưng được tóm gọn bằng những giòng chữ được gọi là: “Mười Lối Hành- xử rất đáng khen”, như sau:        

“Thiền-sư Ling-che có lần giảng giải: Khi trong người mình thấy cồn cào/đói bụng, thì có là gạo lức hay lúa mì cũng đều là thực phẩm tốt chứ không phải nhân sâm hoặc cây muồng muồng ở dưới đất. Mười hành-xử đáng ta ca-ngợi, là liều thuốc tốt dành cho mọi người trên thế giới đang trải qua thời-kỳ sa-đoạ, kiệt-sức, rất hỗn loạn. Thành thử, chân lý và hoà bình bao giờ cũng cần thiết cho con người. Muốn được thế, con người phải:

1.    Sống tử tế với mọi người/mọi vật, biết kềm chế không huỷ hoại mọi sinh vật.
2.    Sống chân phương đạm bạc, tự kềm-chế để không cướp giựt của-cải của ai    
3.    Sống tự-chế không ham muốn, biết kềm mình để đừng có lòng dục.
4.    Sống thật thà/lương thiện, biết kềm mình để đừng bao giờ dối trá.
5.    Sống không rày la/trách móc, không đa mang nhiều chuyện.
6.    Sống cẩn-trọng, biết kềm mình khỏi lời nói bất chính.
7.    Sống nói năng cho đứng-đắn, không bàn chuyện xàm bậy.
8.    Sống không xa-hoa/phung phí, không bị lòng tham ràng buộc.
9.    Sống thư thái, giải-thoát mình khỏi mọi giận hờn, ghét ghen.
10.  Sống và tin vào Nhân/Quả, biết lánh xa lối nhìn sự việc cách sai trái

Khi con người không giết chóc, trộm cắp và ngoại tình, là ba tội phạm rất lớn, tức đã có 3 được hành-xử rất lớn-lao. Khi con người không nói lời gian trá, buôn chuyện và nói năng tục-tằn hoặc đầm mình trong lòng dục: là đã có 4 hành-xử rất đáng khen. Khi con người bỏ mọi tham-lam, giận dữ hoặc quan niệm sai trái, là đã có thêm 3 hành-xử tốt-lành của tâm-thân. Xem như thế, thì 10 điều tốt đẹp về hạnh kiểm đã trọn vẹn với con người.” (xem A Lecture of the Excellent Karma resulting from the Practice of the Ten Commandments, Taiwan R.O.C 2008, tr. 5-6)    
       
Trích dẫn và kể lể ở đây, còn để nói rằng: đấng bậc cao/thấp được trọng vọng trong/ngoài “luồng” đều muốn dẫn đưa dân con mọi người về với “Đạo làm người” vốn dĩ quan-niệm rằng: “nhân chi sơ tính bản thiện”, dù ta có bị người đời cho là “cấp tiến” hoặc “bậc mô-phạm/vị vọng ở trong Đạo.
Lập trường Đức đương kim Giáo hoàng về thần-học, thật ra, với vị-thế ngài đang nắm giữ tựa hồ như đang rơi vào “ổ kiến lửa”, đầy bình phẩm. Cả trăm người những phẩm bình, thì thế nào cũng có lời khen/tiếng chê như đã từng xảy ra với mọi vị lãnh-đạo ở trong Đạo. Tắt một lời, đã là lãnh-tụ một đạo-giáo xưa nay mang tiếng là “bảo thủ” thì có cấp tiến hoặc phóng-khoáng cỡ nào đi nữa thì các đấng bậc cũng phải thận-trọng lời ăn/tiếng nói và cả mọi hành-xử của mình nữa.
Còn nhớ, mỗi lần có cuộc bầu-bán Giáo hoàng dài lâu hay mau-chóng, bàn dân thiên-hạ đều kháo nhau rằng: chắc rằng kỳ này Giáo hội Công-giáo mình sẽ chịu chỉnh-sửa lập-trường thần-học cứng ngắc cũng đã xưa, hầu có thể cho phép con dân mình được cởi mở/thoải mái hơn trong các vấn-đề, như: ngừa hoặc phá thai, phụ nữ làm linh mục hoặc cho phép linh mục được có vợ, hoặc gì gì nữa...
Với cương-vị là thủ-lãnh một đạo-giáo lớn, lại có tầm ảnh-hưởng rộng/sâu bao lâu nay, thì Công-giáo ta vẫn cứ là đạo-giáo rất “Công” và rất “giáo”. Và, vị Giáo hoàng của ta vẫn cứ là ông (chứ không phải bà) hoàng cũng rất “đạo-giáo”. Dù, chữ “giáo” ở đây có là giáo-lý, giáo-điều hay giáo-chủ/giáo-tông đi chăng nữa.       
Còn nhớ, có lần ở giáo-phận nhỏ rất tỉnh-lẻ bên Úc đã thấy xảy ra cuộc tranh-luận hoặc tranh-đấu rất “tránh đâu” hoặc “đánh trâu” nọ, có vị chủ-quản địa-phận từng trả lời/trả vốn những người viết “thỉnh-nguyện-thư” gửi Giáo hội để xin cho được cởi-mở hơn chuyện cho phép linh-mục được có vợ và/hoặc nữ-giới làm linh-mục, phó tế, vv... thì vị chủ-quản hôm ấy cứ lặng-lẽ bảo với đương-sự, rằng: “Bộ quý vị tưởng rằng Giáo-hội ta dân-chủ lắm hay sao, chẳng bao giờ thế đâu!”
Chả biết cụm-từ “dân-chủ” mà đức ngài nói có được hiểu như “dân làm chủ”, hoặc: “người chủ của Giáo-hội là dân con thấp hèn” ở địa-phương hay không; nhưng, một khi trở-thành người Công-giáo rồi, thì đương-sự nào cũng hiểu rằng: Đạo của mình vẫn “cứ thế mà...cứu thế”, chỉ thế thôi. “Cứ thế” nói ở đây, luôn mang tên “nguyễn y vân” tức: “vẫn y nguyên”. Và, “cứu thế” đây, vẫn mang ý-nghĩa cứu-vớt thế-giới với thế-trần, rất trần-tục.
Đức Phanxicô nhà mình, đã và đang bắt chước sống cuộc đời bình-dị như đấng thánh xuất tự thành Assisi, được tác giả có tên là Michael Coren từng viết đôi lời nhận-định rất ư là khách quan (hiểu theo nghĩa: người đứng ở ngoài) cương-vị của Giáo hoàng mà nhìn vào, rằng:

“Nên biết rằng, ta đang cần đổi thay theo loại nào? Lấy ví dụ về một trong các hành-xử của Đức Phanxicô vào hồi ấy, sẽ thấy rằng một trong các dấu chỉ-dẫn đặc biệt về tình-dục hầu thay-đổi Giáo-hội ư? Ngày Thứ Năm Tuần Thánh đầu tiên trong triều-đại Giáo hoàng của ngài, Đức Phanxicô đã tiếp tục chủ trì nghi-thức “Rửa chân” theo kiểu mà ngài vẫn thường thực-hiện như hồi còn làm Tổng Giám mục Buenos Aires, nước Argentina. Tức là: thay vì sụp xuống rửa chân cho những người được chọn lựa ngồi ở thánh-đường vẫn giống như Rôma thường làm, thì ngài lại ra đường phố để tỏ bày tình thương-yêu đối với những người bị bỏ bê ở phố chợ không có người giùm giúp/chăm sóc. Hôm ấy, ngài đã thật sự rửa sạch chân cho bệnh nhân đang chết dần mòn với chứng “liệt kháng/miễn nhiễm” ở đây, khi bất chợt ngài yêu cầu được đến trại-giam các trẻ vị-thành-niên để rửa sạch và hôn chân không chỉ 10 người tù trẻ thôi, mà cả hai bé gái bị giam cầm ở trong đó là nữ-giới theo đạo Hồi, thuộc sắc-tộc người Serbia.

Đây là sự-kiện có một không hai trong Đạo chứng-tỏ tình thương-yêu được diễn-tả bằng hành-động đích-thực mặt ngoài. Điều này, dầu vậy, vẫn minh-xác đặc-trưng thiếu hiểu biết về Giáo-hội nói chung và cả chúng dân lẫn truyền-thông đại chúng lâu nay vẫn khiếm-khuyết; và có lẽ, cả đến đức tính cực kỳ bảo-thủ nữa. Đức Phanxicô đang phá bỏ một số thói-tục nhỏ còn rơi rớt nơi truyền-thống của nhà Đạo, bằng vào thực-thi truyền-thống lớn-lao nhiều ý-nghĩa, hơn. Ý-nghĩa nhất, là việc Đức Giáo Hoàng đã và đang khẳng-định về thánh-truyền, huệ lộc và Lời Chúa gọi mời con dân nhà Đạo hãy khiêm-tốn mà phục-tùng hết mọi người...” (Muốn xem thêm vấn-đề này, xin mời đọc: Michael Coren, Why The Catholic Faith is now more relevant than ever, The Catholic Weekly 02/02/2014, tr. 10-11)

Để cho chuyện phiếm tuần này được nhẹ tênh với tình-tiết rất chi-tiết, đề-nghị bạn/đề-nghị tôi, ta hãy bước vào vườn truyện kể để có được những lời lẽ ý-nhị như sau:

Tại làng chài nọ, có một chàng thanh niên hiền lành và tốt bụng, làm việc rất chăm chỉ. Ngày nọ, trên đường về nhà, chàng lượm được một cái chai nhỏ. Vì tò mò, chàng tìm cách tháo bằng được nắp chai ra. Bất ngờ từ trong chai bay ra một làn khói trắng và vị thần khổng lồ xuất hiện.
            Vị thần liền cất tiếng nói:
- Đừng sợ! Ngươi là ân nhân của ta, ta cho ngươi ba điều ước. Nào! Hãy ước đi hỡi chàng trẻ tuổi.
            Ước gì nhỉ? Chàng đắn đo và trả lời:
            - Thần cho tôi thời gian để suy nghĩ nhé!
- Được thôi. Từ đây đến chiều ngươi phải nghĩ ra đấy.
Chàng đi dọc theo bãi biển và suy nghĩ. Trên đường đi chàng gặp một đám trẻ con hồn nhiên, vô tư chơi đùa say mê. Nhìn những gương mặt thiên thần, chàng thấy cuộc đời mới đẹp làm sao. Đi tiếp, chàng gặp một chàng trai trẻ liều mình cứu những người nghèo khổ thoát khỏi một nhóm trộm cướp. Tấm lòng nghĩa hiệp đó khiến chàng khâm phục.
Chàng lại tiếp tục đi và thấy một đám đông vây quanh một cụ già. Thì ra có một con cá voi mắc cạn trôi dạt vào bờ. Mọi người định giết nó để lấy thịt bán. Cụ già nói:
            - Những gì thuộc về biển cả hãy trả về cho biển cả. Thế là chú cá voi được cứu sống.
            Hoàng hôn buông xuống. Vị thần hiện ra hỏi:
- Ngươi đã nghĩ ra chưa?
Chàng trai trả lời:
- Vâng, xin thần hãy ban cho tôi sự ngây thơ, hồn nhiên của trẻ thơ; một trái tim nghĩa hiệp, dũng cảm của tuổi trẻ và một tấm lòng nhân ái, vị tha của người từng trải.
            Vị thần nói:
- Hỡi chàng trai, ngươi làm ta bất ngờ đấy, bởi vì ngươi đã nhận ra những thứ quí giá nhất của cuộc đời.
Phần lớn chúng ta đều ý thức rằng những hấp dẫn từ vật chất bên ngoài sớm muộn gì cũng sẽ vỡ tan, chỉ có một cõi lòng bình an và hạnh phúc với chính nó mới đích thực là nhu yếu sâu sắc nhất của con người. Như thế mưu cầu, lo toan, tính toán, gom góp cho tự thân càng nhiều thì bất an càng lớn.
Mỗi khi bế tắc, mỗi lúc khó khăn ta hay tìm đến những phút giây mơ ước một điều kỳ diệu nào đó do sự ngẫu nhiên của thế giới mông lung đem lại, để giải quyết những bế tắc hiện tại.
Cho dù một điều ước hay ngàn điều ước có thực hữu hiệu hay không thì chúng ta cũng khám phá ra sự thật là tất cả những sự trôi chảy thuận lợi ấy điều dựa trên nền tảng vay mượn bên ngoài. Chỉ khi nào đối diện với các nghịch cảnh, chướng ngại, khó khăn, thất bại mà ta vẫn vui vẻ chấp nhận, tìm cách vượt qua và không đòi hỏi gì bên ngoài thì đó mới là biết làm chủ và biết cách sử dụng vốn liếng của tự thân.

            Đọc thế rồi, có lẽ ta cũng nên thêm vào đây đôi lời bàn của người kể, cứ bảo rằng: mọi thứ “quý giá trên đời” còn nhiều lắm. Nhưng, vẫn không là thứ “quý nhất”, “giá trị” nhất. Bởi, “quý nhất” vẫn là cái mà mỗi người và mọi người đang trân quý, tỉ như: lương tâm trong trắng, lòng đạo sốt sắng và nhiều thứ khác , vẫn rất nhiều...
            Tắt một lời, thiết tưởng bạn và tôi, ta cũng nên trở về với Lời Vàng Chúa dạy trong Kinh Sách, đã nhắn nhủ người thanh-niên giàu có khi xưa từng có tất cả những thứ “quý giá” nhất trong đời mình, nhưng vẫn thấy thiếu một điều, rằng:
           
            Nghe vậy, Đức Giê-su bảo với anh:
"Anh chỉ còn thiếu có một điều,
là hãy bán tất cả những gì anh có
mà phân phát cho người nghèo,
và anh sẽ được cả một kho tàng trên trời.
Rồi hãy đến theo Tôi."
Nghe vậy, anh buồn lắm,
vì anh rất giàu.”
(Lc 18: 22-23) 

            Theo thiển ý, hành trang men theo Đức Giáo Hoàng ra đi mà làm việc đạo-hạnh trên đời, là tái-tục rao-truyền Lời Chúa, tức sẽ nhận ra được chân lý để đời, nơi sự việc mà người người vẫn khẳng-định: “Thiên-Chúa-là-Tình-yêu”.
            Thế thì, bao lâu ta nhận ra được điều đó, tức đã nhận ra thứ “quý giá” nhất trên đời. Chứ, không phải chỉ mỗi đặc-trưng “dân-chủ” hoặc “nhân-dân làm chủ” của ai đó, chí ít là Đức Giáo Hoàng, rất Phanxicô.

Trần Ngọc Mười Hai
Và những khẳng-định
Vẫn thường nghe
Nhưng ít khi làm.