Saturday, 6 October 2012
“Biết ra sao ngày sau,”
Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 28 thương niên năm B 14.10.2012
“Biết ra sao ngày sau,”
“Đời luyến lưu vui cười khổ đau…?”
(Nhạc: Que sera sera của Jay Livingston & Ray Evans
Lời Việt: Tiêu Khúc)
(1Ph 2: 13, 16-17)
Hồi thập niên 1960, rất nhiều bạn trẻ cứ đua nhau hát và hỏi những câu rất nổi cộm như:
“Ngày em còn thơ lòng vương mộng mơ,
Thường hay hỏi má em : Má ơi ngày sau
Con sẽ thắm tơ duyên và vui sướng thêm?
Má em sẽ khuyên bảo rằng:
Biết ra sao ngày sau
Đời luyến lưu vui cười khổ đau…”
(Que Sera sera – bđd)
Thật ra thì, có hỏi má hay hỏi ba những câu vớ vẩn như thế, bố ai mà trả lời với trả vốn, nổi. Khác nào, hồi Công Đồng Vatican II đang sôi sục bàn về “vai trò của giáo dân trong thánh hội” mà lại hỏi hoặc hát những câu “Đời (người giáo dân) có luyến lưu vui cười khổ đau” không? cũng chịu. Chả làm sao trả đến một lời hay một chữ, thật rất khó.
Hôm nay, 50 năm nhìn lại, có thể lại cũng có những câu hỏi hoặc câu hát rất tương tự khi người nhà Đạo cứ bàn chuyện giáo dân với Giáo hội như trên, hẳn có là cha hay má trong thánh Hội cũng nào dám nói. Bần đạo đây, dù kinh nghiệm 60 năm đời người, nếu có nói cũng chỉ nói dựa đấng bậc để thưa gửi đôi điều hệ trọng. Nhưng, trước khi thưa và gửi, cũng nên tạt qua khu truyện kể để dễ thở, và cho vui:
“Truyện rằng:
Hai vợ chồng nọ tuổi cũng khá cứng, suốt ngày vẫn hỏi đáp những câu khá là vui, như sau:
Vợ tôi hỏi: Trên Tivi có gì không anh?
Tôi trả lời: Có rất nhiều bụi bặm, chắc tại em quên lau…
Thế là hai vợ chồng tôi bèn cãi nhau.
Cuối tuần rồi, sinh nhật bà xã, tôi hỏi bả muốn gì? Bà nói bả muốn một cái gì láng cóng, đi từ 0 đến 200 trong 3 giây. Tôi bèn mua cho bả cái cân nhỏ để phòng tắm. Thế là hai vợ chồng lại cãi nhau.
Kỷ niệm 20 năm ngày cưới, tôi hỏi xem bả muốn đi đâu một chút cho vui
Bả nói: Em muốn đi đến một chỗ mà từ lâu em không đặt chân đến.
Tôi nói: Ủa! Em muốn vào trong bếp hả?
Thế là hai vợ chồng mình cứ cãi vã.
Sau nhiều ngày suy tính, tôi quyết định đăng báo bán cuốn “Tự Điển Bách Khoa” dầy 3,000 trang còn mới cứng, với giá vỏn vẹn chỉ 10 đô thôi, lý do là vì lấy vợ rồi nên đâu cần gì từ điển. Vợ mình cái gì cũng biết, cứ hỏi bả là ra ngay thôi.” (trích truyện cười trên mạng, mới vừa chộp)
Thế nên, muốn hỏi chuyện đạo hoặc chuyện đời mà lại hỏi vợ mình hoặc má vợ: “Biết ra sao ngày sau?” có lẽ cũng đâu bằng hỏi ngay đấng bậc thày dạy, là lập tức có câu trả lời, chẳng cần cãi. Bởi vậy, hôm nay, bần đạo mới lại chạy đến bậc thày dạy để hỏi xem: nhiều năm qua, Giáo hội mình có đề cao vai trò của giáo dân, như Công đồng Vatican II đề bạt không? Nhưng, bậc thày của bần đạo thay vì trả lời, lại đã đề nghị bần đạo hãy xem xét đôi điều về Công đồng này, như:
“50 năm Công đồng Vatican 2, nhìn lại thấy các nghị phụ Công Đồng hồi ấy, nay không còn ai ngoại trừ 2 Giám mục hồi hưu của Pháp là Gm Jean Vilnet và Gery Leuliet, nay ngoài 102 tuổi.
Còn, dân con tín hữu Công giáo cũng chẳng biết nhiều về Công đồng này. Có bạn nói: đây là những bí mật được Giáo hội giữ kín như bưng suốt nhiều năm, làm sao biết. Hỏi thêm, quyết định của Công Đồng này, nay còn hiệu lực chứ? Có còn ai áp dụng nữa hay không? Giáo hội mình từng trải nghiệm hậu quả Công đồng chứ? Công đồng có tạo được kết quả nào thoả đáng? Có gì mới kể từ đó không? Công Đồng này thật rất tốt hay chỉ thường thương bậc trung?... Hỏi, thì hỏi khá nhiều điều, nhưng có giáo dân vẫn không hiểu tại sao Giáo hội hiện không theo nề nếp gì do Công đồng định? Và, họ biết rất ít những chuyện xảy đến với Giáo hội cách nay 50 năm. Và nhất là, chẳng hiểu tại sao lúc đó Giáo hội lại quyết định mở Công đồng này…
Thật ra thì, khi ấy thấy xảy ra nhiều ý kiến rất khác biệt. Ý kiến nào cũng phản ánh ý thức hệ riêng rẽ. Có người còn bảo: Công đồng Vatican 2 cũng có ảnh hưởng trên Giáo hội đấy chứ. Nhưng, phần đông cho rằng đa phần là ảnh hưởng xấu hơn là tốt. Có người lại nghĩ, Công Đồng cố tìm cách tạo ra những gì tốt nhất từ xưa đến giờ, nhưng lại bị quên lãng, không ai cài đặt vào hệ thống thần quyền của Giáo hội. Thông thường thì, quyết định của Công Đồng dễ bi bỏ quên, hoặc bị chối bỏ, có khi còn bị thế hệ tiếp nối cứ phản bội. Nói chung, hiệu quả của Công đồng không xảy ra như mọi người mong muốn. Tác giả Robert Blair Kaiser đã ghi lại đôi điều đáng nhớ xem ra cũng khá tệ. Tệ hại, đau buồn và đáng thương tiếc. Tiếc, cho cơ hội ngàn năm nay vụt mất.
Hỏi: tại sao Công Đồng có nhiều sự kiện lớn như thế, lại không sinh hoa kết trái tốt đẹp cho toàn Giáo hội? Vì lý do gì Công đồng Vatican 2 nay trở thành tâm điểm mọi chú tâm khi ta nhìn vào 50 năm sau Công đồng? Điều gì vĩnh viễn ra đi và điều gì còn tiếp tục? Quyền lực hay vai trò của giáo dân? Nền thần học mới hoặc quyết tâm đạt Tình Đại Kết với tôn giáo khác? Để trả lời, cũng nên xem xét nhiều sự kiện lịch sử, mới đả thông được…” (xem Lm Kevin O’Shea, Retrospect: The Past Fifty Years, Suy tư thần học phổ biến tại Đại Học Công Giáo Úc, Sydney25/8/12 tr. 4)
Kể ra cũng khó mà phê phán những gì xảy đến với Giáo hội suốt 50 năm, kể từ ngày có Công Đồng Vatican II. Vấn đề không chỉ xét lại lịch sử hoặc thần sử mà còn là thần học con người và lịch sử, nên mới khó. Khó, cho mọi người. Càng khó cho giáo dân hạng thứ như bần đạo, hôm nay.
Đó là vài nét sơ qua về Công Đồng Vatican II. Còn, vấn đề vai trò của giáo dân, có gì đáng nói? Nhưng, trước khi đi đến một giải đáp, cũng nên về với vườn hoa Kinh Sách rất Thánh hiền, từng dặn bảo:
“Vì Chúa, anh em hãy tuân phục mọi thể chế
do loài người đặt.
Hãy hành động như người tự do,
không phải như người dùng tự do làm màn che tội ác,
mà như tôi tớ Chúa.
Hãy tôn trọng mọi người, hãy yêu thương anh em,
hãy kính sợ Thiên Chúa, hãy tôn trọng nhà vua.”
(1Ph 2: 13, 16-17)
Hãy yêu thương tôn trọng mọi người, đó là việc hiển nhiên. Nhưng tôn trọng giáo dân hạng thứ rất thấp hèn, có là việc hiển nhiên của Hội thánh hay không, cũng nên về với nhận định của đấng bậc chủ quản nọ ở Mỹ, mang tên Đức ngài Bryan N. Massingale, std như sau:
“Vừa qua Gm Richard Sklba có đưa ra hình ảnh nổi bật về ơn gọi ngôn sứ ai cũng nhìn thấy ở Sách Thánh. Hôm nay, tôi mạo muội tóm tắt nhận định của ngài bằng một vài diễn tả để nói lên đôi nét về “các dấu chỉ thời đại” mà các ngôn sứ nhận thấy ngay trong tâm khảm của Đức Chúa. Nói khác đi, thì: các ngôn sứ có vai trò nói lên sự thật thường thì không dễ chịu chút nào và cũng chẳng có ai thích đón nhận, nhưng sự thất ấy vẫn cần thiết cho cuộc sống.
Vấn đề tôi đặt ra hôm nay, là: việc thực thi ơn gọi ngôn sứ trong Hội thánh vào thời khắc ta thường hay gọi đó là giao thời. Nói nôm na đơn giản là: tôi muốn đưa ra một viễn cảnh, hoặc hành xử của ngôn sứ trong cố gắng lắng nghe tiếng nói của hàng giáo sĩ và cố gắng định ra được những gì mà Thần Khí Chúa đang nói cho ta và với ta hôm nay.
Tác giả Walter Brueggemann vẫn nói: vai trò của ngôn sứ là đề ra thị kiến và khả năng thay thế những gì vẫn được áp đặt một cách chính thức. Và như thế, thì ngôn sứ trong Kinh thánh có hai vai trò: một là dựa vào ánh sáng Lời Chúa để nói lên hy vọng sâu xa của chúng dân và dẫn dắt họ tiếp nhận lời Chúa hứa ban sự sống mới. Trong tinh thần đó, nay tôi tin rằng ơn gọi của ngôn sứ trước tiên là giúp cộng đồng các kẻ tin biết chấp nhận những mất mát mà họ không muốn nhận; và rồi, đem đến cho chúng dân niềm hy vọng mà chính họ không dám tưởng tượng.
Xem như thế, thì ơn gọi của ngôn sứ bắt đầu bằng việc lắng nghe tiếng rên xiết của cộng đoàn và cho họ cơ hội được có tiếng nói. Rên xiết ở đây khác với lời kêu ca hoặc than phiền. Theo định nghĩa, thì rên xiết là những gì nói không nên lời. Là, tiếng khóc từ nỗi buồn thẳm sâu hoặc đớn đau không cho biết nguồn gốc hoặc nguyên do. Trách nhiệm của ngôn sứ là nhạy bén trước những “rên xiết”, tức khóc than không thành tiếng xuất tự nỗi buồn đau của chúng dân, cho thấy rằng có cái gì đó không ổn. Và đây không là điều Chúa muốn….
Rên xiết từ hàng giáo sĩ đều dễ thấy. Ngoài ra, còn có lời rên xiết từ phía giáo dân, nữa.
Rên xiết về những bài chia sẻ không thích hợp với những mong đời từ tâm trí người nghe. Nghe, là nghe tiếng nói bên trong Hội thánh và nghe về tương quan hợp tác rất xác thực giữa hàng giáo sĩ và đấng bậc chủ quản. Rên xiết, đã can đảm nói lên những “trục gian tà” có thật trong thế giới. Rên xiết về niềm tin chân phương sống trong thế giới tiêu thụ về quân sự. Và lời rên xiết sâu thẳm của giáo dân cũng cho thấy “Có cái gì đó không ổn trong Hội thánh”. Và, những rên xiết mà ngôn sứ thời đại đang nghe được, là: Sự việc đang đi tới đoạn kết. Với ngôn sứ, sự việc gọi-là “không ổn” trong Hội thánh phải chấm dứt. Bởi, là giáo dân hay giáo sĩ, ai cũng thấy rằng sự việc không ổn đang xảy ra với Hội thánh đều không là thánh ý của Chúa.
Sự việc đi đến hồi kết cuộc. Câu nói này là thực tại đầy ảm đạm thường bị bao che bằng cụm từ “chuyển tiếp hoặc giao thời”. Nói thẳng thừng, thì cung cách Hội thánh sống đang đi vào chỗ chết. Sự suy sụp của hàng giáo sĩ toàn là nam-nhân, và đa phần còn độc thân đang có dấu hiệu đang chết dần. Tình trạng giao thời ta đang sống không thể nào lật ngược được. Và, tiếng rên la của ta trực chỉ một hình ảnh rộng lớn hơn về một chấn động và đổi thay rày sẽ đến với Hội thánh và xã hội phương Tây.
Tác giả Richard Schoenherr liệt kê hình ảnh ấy thành 6 dạng:
1) Đổi thay từ chủ nghĩa giáo điều sang đa nguyên theo tầm nhìn của thế giới.
2) Thay đổi một dựng xây tính dục mang tính siêu nghiệm qua tính nhân bản;
3) Thay đổi từ Giáo hội của Châu Âu thành Hội thánh đích thực toàn cầu;
4) Thay đổi từ tình trạng nam nhân thống trị sang nữ giới đồng quyền;
5) Giảm sút thuyết giáo-sĩ-trị lấn át/kềm kẹp giáo hội để gia tăng quyền bính của giáo dân;
6) Giảm thuyết chú trọng đến Bí tích và gia tăng phụng thờ dựa vào Kinh thánh, ngay trong Hội thánh Công giáo.
Nói chung, làn sóng đổi thay không ngừng chấn động này sẽ đưa hàng giáo sĩ và Hội thánh, tức chúng ta, đi vào những nơi không ngờ và do đó, gây khiếp sợ.
Quả thật, sự việc đang đi tới hồi kết cuộc. Và ngôn sứ là người dám nói lên rằng sự thể chết dần chết mòn đang xảy đến có sự trợ giúp cũng như thúc đẩy từ Đức Chúa, rất không sai.” (xem Lm Bryan N. Massinggale, “See, I Am Doing Something New” www.jknirp.com/massin.htm 16/12/2004)
Hãy yêu thương tôn trọng mọi người, cũng là ý nghĩa của truyện kể mà bần đạo vừa nhận được từ bài suy niệm của đấng bậc họ Nguyễn hôm 09.09.2012, có lời lẽ rất chắc nịch như sau:
“Người cha nọ muốn dạy cho con mình một bài học để đời, là: chớ bao giờ phê phán sự gì hoặc người nào theo cách “nhanh nhẩu đoảng, thật thà hư.” Nên, ông mới gọi cả bốn đứa con lại, và bảo: “Nay cha muốn anh hai lớn làm việc này cho cha: hãy ra đông xem cây lựu của cha có trổ sinh hoa trái gì không, rồi về cho cha biết.” Nghe dạy, người anh lớn bèn ra đi tìm cây lựu cha trồng, nhưng đến nơi đã vào mùa đông nên cây khó lòng mà sinh hoa nảy lộc, bèn trình về: “Con có thấy cây lựu cha trồng, nhưng chẳng hứa hẹn gì. Xem ra, cây ấy sống cũng nhiều năm, e khó qua được mùa đông băng giá rất khó lòng.”
Ba tháng sau, người cha một lần nữa lại sai người con cả ra đi vào mùa xuân xem cây lựu nhà ông có gì hứa hẹn hay không. Người con đi về kể lại: “Dạ thưa, con thấy cây lựu nay trổ bông trắng cũng rất nhiều, nhưng để trang hoàng thì tốt chứ chẳng hy vọng gì sẽ đậu trái. Con rất nghi ngờ cây đó, dù đã khuyến dụ “hãy mở ra!”, nhưng chẳng hy vọng gì một kết quả.”
Ba tháng kế tiếp cha lại sai anh con cả ra đi lần thứ ba xem cây lựu của nhà ông hy vọng gì không. Người con trở về, lần này lại nói: “Cây lựu lần này xem ra cũng lớn dần nhiều kết quả, đầy những lá rất xum xuê. Con có thấy một đôi trái nên có hái ăn thử, nhưng đắng ngắt chẳng tài nào nuốt nổi. Con nghĩ chắc chẳng ai buồn ăn trái của nó hết đâu cha.” Một lần nữa, chừng như anh trai cũng đã nói với cây lựu: “Hãy mở ra, mà phát triển!” nhưng cũng chẳng ăn thua gì.
Cuối cùng, chỉ ba tháng sau, người cha lại sai anh con cả ra đồng xem cây lựu có biến đổi gì không. Lần này, cây lựu trổ đầy những trái rất mọng, lại chín dòn. Anh con cả ăn thử rồi về trình với cha mình rằng: “Cha à! Con nghĩ phải mau mau ra mà trẩy hái, lựu nhà mình năm nay rất được mùa, đầy những trái ăn ngon lành.” Anh cũng nói, lần nào anh cũng nói với cây lựu: “Hãy mở ra mà sinh quả”. Và lần này, chắc cũng có người nói thêm vào cây nên mới đạt.
Người cha bèn gọi cả bốn người con lại rồi nói: “Các con thấy không? Các con đều thấy tình trạng của cây lựu nhà mình, vào mỗi mùa. Nhưng, nhận định của các con về cây lựu chỉ là những lời nhận xét phiến diện, nghĩa là cứ nhanh nhẩu chỉ để ý đến một phần của cây vào lúc ấy mà thôi. Qua kinh nghiệm này, các con nên nhớ đừng bao giờ phê phán con người theo cách đó. Bởi, làm thế các con chỉ kịp dựa trên khía cạnh nào đó rồi phán đoán như thế là không công bằng và cũng chẳng khôn khéo. Tất cả mọi sinh vật đều phải được định giá qua chuỗi ngày dài của thời khắc và chỉ sau khi thanh sát cẩn thận nhiều lần ta mới nhìn ra. Bởi lẽ, ngay cả những sinh vật bề ngoài trông khô cằn, xấu xí vẫn có thể cho ra những thành quả tốt đẹp, như thường.”
Xem như thế, thì: vai trò cả của giáo dân lẫn thần quyền, là: “Hãy cởi mở!” Cởi và mở ra cho hết mọi người, mọi sự. Dù, sự đó chỉ là thiên nhiên/vạn vật rất vô tư. Sự đó, có là loài thú hay loài người, vẫn cứ cởi và mở. Mở cho rộng, cởi cho thoát, để sẽ không còn ai cứ phải thắc mắc với ưu tư về vai trò của người Hội thánh là Nước Trời.
Xem như thế, thì Nước Trời là Hội thánh chỉ khá thánh khi biết cởi và mở suốt mọi thời, chứ không chỉ 50 năm hoặc sau 50 năm trời rất khép kín. Và có lẽ, đặc trưng cao và tốt đẹp nhất cho mọi người, kể cả Hội thánh ở trần gian vẫn là thế. Là thế và như thế, để người người sẽ không còn lý do mà khiển trách, nghi ngờ thiện chí của Giáo hội nữa.
Xem thế thì, sau khi quả quyết như thế, người cha người mẹ ở thánh hội sẽ có thể trả lời cho câu hỏi và câu hát ở trên, rằng:
“Ngày em còn thơ lòng vương mộng mơ
Thường hay hỏi má em: Má ơi ngày sau
Con sẽ thắm tơ duyên và vui sướng thêm?
Má em sẽ khuyên bảo rằng:
Biết ra sao ngày sau, đời luyến lưu vui cười khổ đau…
Vì sắc duyên là sóng bể dâu
Nào ai biết ngày sau…”
(Que sera sera – bđd)
Má và ba, tuy không biết ra sao ngày sau, nhưng Hội thánh Chúa ở trần gian nay đà biết. Biết nói rằng: “Ephata: Hãy cởi mở!” Cởi mở đi, ngày sau sẽ không còn khổ đau, bể dâu hay gì gì nữa. Mà, chắc chắn sẽ là chuỗi ngày “luyến lưu vui cười”, hạnh phúc.
Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn muốn nói hoài hoài
Chỉ một chữ “Ephata: Hãy cởi mở!”
Đời mình rồi sẽ dễ thở,
cũng chóng thôi.
Saturday, 29 September 2012
“Gió, đưa đến hồn tôi,”
Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 27 thương niên năm B 07.10.2012
“Gió, đưa đến hồn tôi,”
“Nhạc chiều, từ viễn khơi,
“hoà theo tiếng hát xa vời,
“nương cánh mây trời, đem đến muôn lời ước nguyền.”
(Nhạc: Enrico
Toselli – Lời Việt: Thục Vũ – Nhạc Chiều)
(Cv 8: 9-11)
“Nhạc chiều từ viễn khơi”, là giòng nhạc
có “tiếng hát xa vời”, rồi cứ thế “nương cánh mây trời”, “đem đến muôn lời ước
nguyền”. Uớc nguyện hôm nay, là những nguyện và ước rất êm đềm, một tình
huống. Ước nguyện lâu rày, còn là nguyện ước có những chiều êm ả của trời đất,
rất dễ chịu.
Nhạc chiều viễn
khơi, không chỉ là giòng nhạc trổi vào buổi ru hồn tôi, có những tình tiết như:
“Thiết tha giữa rừng thu,
Nhạc chiều là tiếng ru hồn tôi,
trong giấc mơ vàng theo gió
trăng ngàn,
đem đến bên nàng tiếng đàn.
Lòng lâng lâng theo cung đàn
chiều vào tơ duyên theo tiếng
hát mỹ miều.”
(Enrico Toselli/Thục Vũ – bđd)
Nhạc
buổi chiều, có tình tự êm ả cả nhà quây quần bên nhau trong bầu khí ấm cúng có
âm thanh/lời ca vang êm đềm, mỗi buổi chiều. Nhạc êm êm, bầu khí thân thương có
gia đình cùng thưởng ngoạn. Thưởng thức cảnh sống vui thần tiên trong đời, được
học giả nọ ở Mỹ, lại cho biết:
“Một số các nhà nghiên cứu ở Mỹ đã
cho biết: hiện có bằng chứng cho thấy có nối kết chặt chẽ giữa niềm vui sống
của con cái ở tuổi “teen” với gia đình của em, khi cả nhà cùng ngồi vào bàn ăn thưởng
thức bữa tối, rất êm đềm.
Nhiều học giả còn coi chuyện ăn tối với gia đình ở tại nhà đã
biến bữa ăn này trở thành một thứ “phép mầu thần thông” khả dĩ cứu vãn được tình
trạng căng thẳng/trầm thống mà các người cha, người mẹ ở nhà bớt đi một thắc
mắc. Nay, phép mầu “thần thông” lại làm cho bậc cha mẹ bớt đi cảm giác phạm lỗi,
rất tội.
Tác giả Ann Meier thuộc đại học Minnesota và Kelly Musick thuộc
tổ chức Connel vừa phân tích dữ kiện thu thập được từ hơn 18 ngàn bạn trẻ bậc trung
học trên toàn nước Mỹ, có nhận định sau đây:
“Qua khảo sát, chúng
tôi nhận ra một điều, là: gia đình nào tạo điều kiện để mọi người trong nhà cùng
ăn cơm chung với nhau, đó là yếu tố cho thấy gia đình ấy đã đạt niềm vui sống với
con cái hầu tránh căng thẳng và giúp cho con mình lánh xa được cố tật nghiện ngập
như: bia/rượu, ma tuý và/hoặc tình trạng thiếu niên phạm pháp.
“Phân tách dữ kiện
thâu lượm được, chúng tôi thấy là các buổi ăn tối chung với bố mẹ ở nhà đã đánh
động mạnh lên đầu óc con trẻ; để rồi, sau này khi khôn lớn, con cái có được
cuộc sống chất lượng, quan hệ tốt với mọi tầng lớp xã hội.”
“Ngoài ra, các nhà nghiên cứu Mỹ cũng không loại trừ khả năng cho rằng ăn
tối chung với gia đình sẽ gây ấn tượng lên con trẻ, mãi về sau. Đồng thời, các
vị lại khẳng định rằng: cha mẹ nào mải miết với công việc làm ăn, cũng nên để
giờ ra mà ở với con cái; có như thế, mới học hỏi được điều thiết yếu trong cuộc
sống thường nhật, vốn rất cần.” (xem Carolyn Moynihan, Family
Dinners Don’t Work Magic, MercatorNet 3/7/2012)
Thật ra thì, “phép thần thông nhiệm
màu” không hiện ra ở sự kiện chung vui ăn tối với gia đình, cho bằng vào yếu tố
thời gian mà cả nhà bỏ ra để gần gũi nhau. Đó là sự thật rất mực quan trọng trong
quan hệ bình thường, ở đời. Nói chữ quan trọng, là bởi: cả khi người người bị
cú sét ái tình đi nữa, họ cũng thấy được đâu là “phép thần thông biến hoá”
trong trời đất.
Nhưng có điều, là: phép thần thông
biến hoá ấy, không tồn tại mãi riêng lẻ chỉ một người mà thôi. Nhưng, lại rải đều
với mọi người. Thế nên, vấn đề là: khi nhận phép mầu thần thông biến hoá để thành
tình nhân hay vợ chồng, sau đó rồi sẽ ra sao? Ra sao, là ra thế nào khi gặp
phải sự thật trần trụi nơi cuộc sống quá bận rộn lại bon chen, chèn lọc, cạy
cục. Ra thế nào, khi chỉ vì lý do nào đó, mình và người không còn nhận được ân
lộc Bề Trên ban, để rồi khi đó hỏi rằng mình có còn tin vào sức mạnh của phép
mầu thần thông biến hoá, nữa không?
Nhiều cặp tình nhân hay chồng vợ vẫn
cứ vui vẻ chấp nhận mọi tình huống, cả đến tình huống căng thẳng, trầm thống
xảy ra với mình, để rồi coi mọi sự như “phép thần thông” nhận từ trên. Ngược
lại, nhiều cặp và nhiều người vẫn trông đợi vào “phép thần thông biến hoá” của
ai đó, mà tự thân chẳng có cố gắng nào hết.
Nói cách khác, họ vẫn cầu và vẫn xin
để có được “phép mầu” đến với mình. Bởi thế nên, mới chăm chỉ “cầu kinh”. Bởi
vậy, đấng bậc vị vọng thời xưa cũ mới đặt ra cái-gọi-là “kinh cầu”, như: cầu
hồn, cầu chữ, cầu đủ thứ đến thiên thu. Nói chữ “thiên thu”, là vì nhiều cụ và
nhiều vị lâu nay cứ chạy theo các diễn biến thời thượng để tìm ra ơn đặc sủng gửi
đến cho riêng mình qua kinh cầu này khác, để rồi cứ tưởng rằng phép mầu ấy/”sự
lạ” này nó sẽ xảy đến dài dài, không đứt đoạn.
Nói cho cùng, phép mầu thần thông
trông giống phép lạ, phép nào cũng cao cả, khiến người đi Đạo luôn thất thần mà
kiếm tìm và chạy đến. Thế nhưng, ở đây, nghệ sĩ ngoài đạo nhận ra được điều lạ
kỳ, gọi được là phép mầu thần thông, ở thi ca/âm nhạc có những câu:
“Người hỡi cánh chim bay lưng trời
mang muôn ý thơ về khơi.
Nhạc thiêng trong ngàn lá…
(Enrico Tocelli/Thục Vũ – bđd)
Nghệ sĩ nhà
ta thường gọi: “Nhạc thiêng trong ngàn
lá…” mà, người đời lại cứ tưởng đó là tiếng lạ được gió mang theo ân huệ lạ
thường, mình vẫn mong.
Thông
thường, người đời cứ là hay tìm của lạ, như chuyện lạ kỳ ít thấy. Để rồi, coi
đó là “phép mầu” lạ lùng, gửi đến cho mình. Ai chưa được, hoặc chưa có nhưng vẫn
muốn nhận, nên cứ xin. Xin ráo riết, liên lỉ để được dấu lạ, ít ai có. Và, thế
là người đi Đạo lại hành xử như người đời xưa, đến độ thánh nhân còn ghi nhớ:
“Trong thành ấy, có một người tên là
Si-môn,
vốn dùng phù phép làm cho dân Samari kinh ngạc.
Ông ta xưng mình là một nhân vật quan trọng,
và mọi người từ nhỏ đến lớn đều chú ý đến ông.
Họ nói: "Ông này là Quyền năng của Thiên Chúa,
Quyền năng được gọi là "Vĩ đại"."
Họ chú ý đến ông,
vì từ khá lâu
ông đã dùng phù phép làm cho họ kinh ngạc.”
(Cv 8: 9-11)
Do bởi tính phàm trần còn rớt lại, nên dân con nhà
Đạo thời nay lại có những hành xử chẳng khác nào người xưa ở điểm này, là: cứ
kiếm tìm sự lạ, chuyện lạ, tức “phép mầu thần thông” dành cho mình, nên cứ chạy
theo đủ loại phong trào/sự thể . Đủ mọi dấu chỉ cho thấy ở đây/nơi đó có “phép
mầu” chữa lành đủ mọi bệnh, mà không ngờ rằng bậc hiền nhân trong Đạo, từng
cảnh giác.
Vừa qua,
bần đạo bắt gặp được tư tưởng rất chính đạo của đấng bậc chuyên viết suy niệm
trong tờ “Bản tin Giáo xứ” ở họ đạo lẻ, nơi lộ tẻ, như đoạn sau đây:
“Người đời nay hay đi tìm dấu chỉ thời đại về phép mầu lạ
lùng ở đâu đó, nào đã biết rằng: dấu chỉ rất “phép mầu” về lòng tin-yêu. Tin vào
sức bổ dưỡng có từ Bên Trên. Tin vào tình thương yêu đặt để nơi mọi người, ở
khắp chốn. Từ cơ quan, công xưởng cho chí gia đình/chòm xóm. Tinh ý hơn, ta sẽ
nhận ra tính trung thực nơi lòng thuỷ chung vào tính chất “chết đi cho tính
“lăng xăng tìm chuyện lạ, và phép lạ ở đâu đó” chứ không giết chết chính mình.
Ở đây nữa, ta được dặn dò chỉ nên thực hiện vế trước, tức chết đi cho tính tình
không phải lẽ. Chứ đừng bị lôi cuốn vào vế sau, là “tự giết chính mình” bằng
các hành xử không phải phép, dù hấp dẫn. Chết đi cho chính mình, là: dẹp bỏ bản
ngã mang tính phù thuỷ/dễ tin, cần cải thiện. Chức không phải là chết cho thân
xác bằng các hình thức này khác. Cũng chẳng là: chết đi cho cuộc đời, cùng với
mọi người sống cho phải Đạo.
Trong cuốn sách do mình viết với lời tựa: “Các nhân đức cần
thiết để tín hữu của ta có được cuộc sống bình thường, không phù phép”, tác giả
James Keenan đã khẳng rằng: ‘Thuỷ chung với Chúa, là lằn ranh đậm nét nơi cuộc sống của
tín hữu Đức Kitô. Tác giả còn biện luận là: Giáo hội ta bỏ ra quá nhiều giờ để
giảng giải về sự bất trung của con người khi chạy theo phép mầu cùng sự lạ xảy
ra đây đó. Nhưng lại có ít thời gian để nói về chuyện củng cố lòng chung thuỷ,
sống đúng Đạo.’
Ông còn nói: đời người, ai cũng có hai mục tiêu nhắm vào lòng đạo, đó
là: sự chung thuỷ và lòng công chính. Chung thuỷ với Cha, với Chúa. Thuỷ chung
với mọi người. Đó là những gì tóm gọn đều
Chúa từng làm để cứu độ mọi người. Và, cũng là điều mà Ngài hằng kêu gọi dân
con đồ đệ ở Phúc Âm đừng tìm “dấu lạ/phép lạ” ở đâu khác. Có lẽ, vì ta quá dễ
dàng tin người khác nói, quên đi những điều Chúa dạy để cứ cho rằng chung thuỷ
với bầu bạn là vấn đề đạo đức, khó hoàn thành.
Một khi ta thấy đuợc tình bằng hữu là phép lạ Chúa ban cho,
lại là chìa khoá gỡ mở cuộc sống đạo đức, thì khi ấy ta sẽ thấy rằng sống đời
đạo đức không còn là chạy theo tin đồn ở đây ở đó về phép lạ, sự lạ mà chỉ là
chuyện tương tác với người khác, trong cuộc sống thường nhật. James Keenan lại
cũng viết: “Để đạt
tới đó, có lẽ ta cần gọi nhau cho thật nhiều. Thư từ cho thường xuyên. Nấu
nướng cho nhau ăn nhiều hơn. Tản bộ dài và lâu hơn. Hoặc, nán lại ở với nhau
lâu hơn để gần gũi bạn bè. Và có lẽ, ta cũng nên cởi bỏ những thói tật của
chính mình. Những tật và những thói như: chỉ biết cân đong đo đếm điều người khác
đã làm hoặc không làm như mình. Bỏ cả thói quen không tốt lành như chạy theo
tìm kiếm việc lạ, sự lạ, đến rối bời…”
Tóm lại, chung thuỷ với Chúa vẫn hiện diện nơi người đồng
loại, là biết đáp ứng lời gọi mời đặt tình thuỷ chung/bằng hữu vào trọng tâm
của cuộc sống rất đạo đức, chứ không phải những chuyện bề ngoài, thoáng qua,
non trẻ. Biết sống đích thực như lời Chúa dạy: đừng tìm kiếm các dấu chỉ hoặc
sự lạ ở đâu khác. Vì sự lạ lớn nhất chưa từng thấy trong đời, là: Chúa đã chết
đi để rồi Ngài sống lại cho ta, cho bản tính vớ vẩn hoặc non trẻ ở nơi ta.” (x. Lm Richard Leonard sj, Suy Niệm
Chúa Nhật thứ XXI thường niên năm B, Bản tin Giáo xứ Fairfield Sydney 26/8/2012)
Trích dẫn lời của đấng bậc ở Úc rồi, bần đạo thấy
chưa thoả, vẫn còn muốn kể lại nhận định của một bạn hiền nọ người Úc có chồng
Việt tên Nguyễn Văn Hiển sống ở Baulkham Hills Sydney đã thành thật trả lời sau
khi bần đạo chia buồn cùng chị, rằng: “Cho
đến bây giờ tôi vẫn học được nhiều điều từ ông chồng người Việt của tôi, đó
anh.” Chị nói thêm: “Một trong những
điều chị học được là đức tính thân thiện, thuỷ chung cả với bạn bè chứ không
chỉ với vợ mình mà thôi.”
Câu nói của
bạn hiền người Úc cón có nghĩa: thuỷ chung tình bạn với bầu bạn và với Chúa
không chỉ có nghĩa trong hành xử thường xuyên ca tụng, ngợi khen bạn hiền mình,
dù khác sắc tộc. Nhưng còn ở tính chân phương thuỷ chung với bạn hiền. Chứ,
không còn muốn tìm của lạ, sự lạ hoặc phép lạ nào khác. Dù sự lạ ấy, phép mầu
này có mang danh từ rất mỹ miều, hoặc huê dạng cách mấy cũng mặc.
Để minh hoạ
cho những điều vừa nói ở trên, đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta quá bộ đi vào “gia
trang” có những truyện kể nhè nhẹ, nhưng tâm đắc. Tâm rất đắc, ở cả những điều
lâu nay mình nghe quen quen, cũng rất thường, như sau:
Truyện rằng:
Có anh chồng được vợ dặn nhiều lần về một bí quyết sống hạnh phúc trong
đời là đừng nên tìm kiếm phép mầu rất lạ, chuyện lạ hay của lạ, thế mà vẫn cứ
quên. Hôm ấy, để thử lại trí nhớ của đức ông chồng, người vợ bỗng dưng chạy đến
bên chồng rồi hỏi:
-Anh, anh thấy cái Phương kia có xinh xinh đến lạ kỳ không ?
- À, nhìn kỹ anh thấy cô ấy cũng xinh xinh..
- Hả, bộ anh muốn chết hay sao mà dám khen nó xinh đẹp trước mặt em. Có
tình ý gì với nó thì đi yêu nó luôn đi.
Hôm khác, cô vợ lại thủ thỉ vào tại
chồng, hỏi:
- Anh, hôm nay anh có thấy cái Phương xinh không ?
- Không, anh thấy cô ấy cũng bình thường, thôi.
- Này! Anh đừng có mà dối lòng, nó xinh như thế mà lại chê ỏng chê eo à?
Sao không dám thừa nhận là anh cũng thích nó, nói huỵch toẹt đi cho rồi còn úp
mở gì nữa hả ?
Hôm khác, để xem chồng mình có còn
nhớ lời vợ dặn đừng tìm của lạ nữa hay không, cô lại hỏi:
- Anh à, anh thấy cái Phương dạo này vẫn xinh đấy chứ nhỉ?
- À, nhìn cũng xinh xắn đấy nhưng với anh, thì em là người tuyệt vời
nhất.
- Uả, sao tự dưng nay lại nịnh vợ đến thế nhỉ? Hãy khai mau đi, anh vừa mới
làm điều gì có lỗi với vợ rồi phải không?
Theo cái đà hôm trước, nay cô vợ lại giả vờ õng ẹo hỏi đức ông chồng
mình câu nghe rất quen:
- Kìa anh, hôm nay anh thấy cái Phương xinh đẹp thế nào?
-...
- Anh, anh có thấy cái Phương xinh đẹp mặn mà không ?
-...
- Ô sao không trả lời? Trả lời mau lên không em đập chết tươi ngay bây
giờ!…
Thêm một truyện kể khác:
Mấy ngày sau khi đọc xong quyển "Làm thế nào để trở thành người Đàn
Ông trong gia đình", lão nọ chạy vào trong bếp chỉ tay vào mặt vợ hét lên
:
- Bắt đầu từ giờ phút này tôi là chủ trong gia đình này, lời nói của tôi
là mệnh lệnh bà chỉ có quyền nghe chứ không có quyền cãi. Sau ngày dài làm việc
mệt mỏi bà phải sửa soạn cho tôi một bữa cơm thật thịnh soạn. Xong rồi bà đi đổ
cho tôi một bồn nước ấm để tôi thoải mái trong khi bà rửa chén. Khi xong bà
phải lau người và tẩm quất cho tôi cho đến khi tôi ngủ, bà nghe rõ chưa? Bà
biết, sáng mai ai sẽ là người tắm rửa, thay quần áo và chải tóc cho tôi rồi
chứ?
Không ngửng đầu lên bà vợ trả lời :
-
Biết rồi! Người đó là thằng cha
chuyên môn tẩm liệm xác chết ở nhà xác đô thành, chứ gì?...”
Người kể hôm nay, tóm lại một triết lý rất để đời rằng: Muốn sống cho êm
đẹp cuộc đời, hãy nhớ một nguyên tắc sống, là: Điều gì vợ nói, đều rất đúng. Kể
cả chuyện: đừng bao giờ tìm cách chạy theo người khác, đua đòi tìm của lạ. Có
ngày không bêu đầu sứt trán, cũng rối bời.” (Trích truyện kể ê hề trên mạng)
Nói cho cùng, thì: phép mầu trong Đạo, không nằm ở
những gì mới lạ xảy đến với mình và cho bạn bè mình, cũng rất ít. Nhưng đúng
hơn, “phép mầu thần thông” trong Đạo vẫn là và phải là hành xử dám chấp nhận cái
chết cho mình hiện rõ nơi những sự, những việc hoặc những người bình thường dù quá
cũ, thấy rất quen. Phép mầu/sự lạ xảy đến với mình, còn là: hãy trỗi dậy cùng với
Chúa ngay vào lúc thấy đời mình cũng rất chán. Chán, những gì xưa cũ/cổ lỗ, đến
ngán ngẫm. Có thế, mới là người đi Đạo, giữ Đạo đích thực của Đức Chúa rất
Kitô.
Quyết thế
rồi, hỡi bạn và tôi, ta hãy cùng người nghệ sĩ, hát theo lời ca văng vẳng ở đâu
đó:
“Lòng lâng lâng theo cung đàn chiều
Vào tơ duyên tiếng hát
mỹ miều.
Người hỡi! cánh chim bay
lưng trời mang muôn ý thơ về khơi,
Nhạc thiêng trong ngàn
lá
Êm êm xuôi theo lời ca
Đẹp màu không gian,
Đẹp muôn phím tơ vàng
Đẹp như ánh trăng soi
lầu ngà
Theo tiếng Thu về trong
chiều tà…”
(Enrico Toselli/Thục Vũ – bđ)
Tiếng Thu
ấy, tơ vàng này vẫn là những lời nhủ khuyên của Đấng Thánh Hiền gửi bạn/gửi tôi
từ buổi đó. Rất nhiệm mầu, thần thông, cần gì kiếm tìm ở đâu khác.
Trần Ngọc Mười Hai
vẫn nhủ lòng mình
những điều như thế khi nghe tin bạn
cứ chạy theo phép mầu sự lạ,
cũng rất lạ.
Subscribe to:
Posts (Atom)
