Friday, 15 June 2012

“Tôi muốn mời em về,”

Normal 0 MicrosoftInternetExplorer4
Chuyện phiếm đọc trong tuần Thứ 12 Thường niên Năm B 24.6.2012

“Tôi muốn mời em về,”
“Thăm lại phố phường xưa.
Những chiều trời mưa phủ ,
Lời yêu nói sao vừa.”
 (Việt Dzũng – Mời Em Về)
(1P 1: 6-7)
Mời Em Về”, hôm nay hay ngày mai, không phải để em thăm lại phố phường thời xưa cũ. Mà, còn để nói với em và với tôi, đôi điều vẫn chưa nói cho hết. Hoặc, có nói em cũng chưa kịp nhận ra.
Với bần đạo, lâu nay khá nhiều bầu bạn vẫn cứ thư về gợi nhớ lời người xưa khuyên nhủ, chỉ đôi câu. Câu ấy nghe khá giống ca từ người xưa, vẫn cứ hát:

“Tôi muốn mời em về
Thăm lại căn nhà xưa
Có mẹ ngồi đâu đó
Sợi tóc bạc đong đưa.”
(Việt Dzũng – bđd)

Hát thế rồi, bầu bạn lại còn bảo:

“Bạn ra đi lâu ngày quá, cũng nên về thăm quê một lần cho biết để thấy là quê mình giờ này đã đổi thay, cũng khá nhiều. Đổi, về ngoại hình. Thay, cả về tâm tính lẫn tình hình và chính kiến. Bạn về đi, bọn tôi đây bảo đảm là bạn sẽ thấy vui như ngày Tết, để rồi mai ngày lại cứ đòi về mãi, không biết mệt. Duy, có điều là: khi về, bạn đừng để quên người bạn đời ở đâu đó rất khó tìm. Bởi, rất nhiều người khi về rồi đà thấy vui, bèn chẳng muốn trở lại chốn cũ những quần quật chuyện cày bừa, đâu đấy nhé…”

Nghe rủ, bần đạo thấy cũng mê nhưng hơi mệt, bèn quay về nhạc bản có ca từ nghệ sĩ  hát:

“Tôi muốn mời em về
Thăm lại Sài Gòn xưa
Duy Tân chiều say nắng
Uống môi nồng hương xưa.”
(Việt Dzũng – bđd)

            Vâng. Quả là, có về thăm nơi nào rồi cũng thế. Thăm Hà Nội hoặc Sàigòn xưa, vẫn hằn ghi dấu vết của bước chân âm thầm thời son trẻ. Về lại quê mình, bần đạo đây cũng rất muốn, nhưng đôi lúc ngồi nghĩ quẩn lại đã nhận ra rằng: “thân này há xẻ làm đôi, nửa bên nước Úc, nửa quê dặm buồn?”
            Có thể là, bần đạo buồn, vì không thực hiện được điều mình vẫn ước và vẫn muốn. Buồn nhiều hơn, khi lại nghe thêm ca từ vừa mới hát:

“Tôi muốn mời em về,
Nhưng quê hương tôi quá xa.
Bên kia bờ Thái Bình bao la.
Tôi muốn mời em về,
Nhưng chim đã gãy cánh.
Nhưng mây đã ngừng bay.
Cho tôi còn lại nơi này.”
(Việt Dzũng – bđd)

            Tản mạn đôi lời thơ/ý nhạc xong, nay bần đạo mời bạn và tôi, ta đi vào giòng chảy rất phiếm có những truyện kể về nhiều thứ. Những thứ, vẫn đánh động cuộc sống của bạn và của tôi như sau:

“Có một thời, khi mọi vật trên đời đều biết nói, thì hôm đó, hai con sóng lớn nhỏ ở giòng sông đã cùng nhau thủ thỉ những lời trần tình như sau:   
-Kể ra cũng bực. Sao con sóng kia cứ to lớn, còn mình đây vẫn bé nhỏ có thế này?
Sóng to nghe vậy bèn đáp:
-Đơn giản chỉ vì bạn không nhận ra gốc gác của mình nên mới bực, thế thôi!
-Thế tôi không là sóng, thì là cái quái gì đây cơ chứ?
-Không! Sóng chỉ là hình thức tạm bợ nơi bản chất của bạn thôi. Kỳ thực, bản chất của bạn chính là nước. Một khi đã nhận ra bản chất của mình là nước rồi, thì lúc đó bạn sẽ không còn ấm ức với cái vỏ là sóng vỗ bên ngoài và từ đó sẽ không còn bực bõ gì nữa hết.
Lúc ấy, con sóng nhỏ mới nhận ra được chân lý, bèn vui vẻ nói:
-À thì ra, giờ này tôi mới hiểu. Bạn và tôi tuy hai mà một, không có gì khác hết phải không? Có khác chăng, chỉ mỗi điều là: dù to/nhỏ, ai làm nên chuyện kỳ lạ mới là người đáng ta nể vì, mà thôi!”

Đúng thế. Cuộc đời bạn và bản thân tôi, tuy là hai nhưng lại giống như một. Một nguyên lý. Một tình tự của người con Đức Chúa. Của quê hương, nước Trời.
Hôm nay đây, ở Nước Trời quê tạm này lại vẫn có những vấn đề của nó, rất thời thượng. Vấn đề, là vấn nạn về đề tài muôn thuở thời hôm nay. Bởi thế nên, nay mời bạn mời cả tôi, ta gia nhập đoàn người vẫn thích “phiếm”. Phiếm nhè nhẹ. Sương sương, như mọi lúc. Phiếm, là phiếm thế này:
Vừa qua, ở trời Tây nước bạn, có vị đã nêu ra nhiều vấn nạn về nhiều chuyện như nhật báo có tên “Science Daily” vừa đưa ra một phát giác “kinh khủng” mà báo ấy cho là vẫn rất mới, như sau:

“Nghiên cứu mới nhất cho thấy: nhiều cải thiện về khả năng xem xét sở thích của mọi người là tuỳ độ tuổi. Nói khác đi, thì sở thích con người là tuỳ sự chín chắn/trưởng thành ở trung khu thần kinh có liên quan đến việc tự kềm chế.
Khám phá trên, do cơ quan được gọi là “Cell Press” phát hiện và đưa ra cho công chúng nhận thức hôm 8 tháng 3 năm 2012 qua nhật ký biên khảo mang tên “Neuron” nhằm giải thích lý do khiến trẻ nhỏ phải phấn đấu tự chế để chống lại những thôi thúc vị kỷ, cả vào khi chúng biết rõ điều tốt đẹp hơn. Điều này, đánh mạnh lên chính sách giáo dục nhằm thăng tiến cung cách hành xử lành mạnh, trong xã hội.
Khám phá, cho thấy đã có tiến bộ khá quan trong nhằm tìm hiểu rõ nguyên nhân phát triển hành xử xã hội hàm ngụ chính sách giáo dục nói chung, hầu nhấn mạnh tầm quan trọng mà giúp con trẻ hành xử theo cách quen thuộc chúng hiểu biết. Các chính sách như thế sẽ tạo nền tảng cho hành xử của người biết nghĩ đến kẻ khác, trong mai ngày.” (x.Mariette Ulrich, MercatorNet 26/3/2012) 

Thật ra, theo Mariette Ulrich thì: khám phá trên chỉ muốn nói lên điều này: sở dĩ trẻ bé thường ích kỷ vì chúng không chín chắn đủ, để có thể hành xử cho phải phép. Nhưng biết được điều này, đâu cần khoa học phải bỏ công ra mà tìm tòi/khảo sát khá kỹ mới biết được. Điều nực cười, là: Khoa học vẫn tự nhận là mình đã khám phá ra điều mới mẻ trong tương quan giữa tính ích kỷ với sự trưởng thành, lại đề nghị chính phủ nên có giải pháp mình đề nghị chẳng liên quan đến khoa học gì hết.
Nói tóm lại, kế hoạch giáo dục dù đã cải thiện tuổi ấu thơ/măng sữa đi nữa, cuối cùng rồi cũng đào tạo được đám trẻ nay biết thực thi động thái vô-vị-lợi hầu trở thành công dân tốt, có đạo đức/chức năng hợp lẽ đạo. Nhưng vấn đề, là: nếu con trẻ được giáo dục theo cách nào đó để thành người cao sang/quyền quý và độ lượng vẫn phải có sự hỗ trợ của các gia đình sang trọng/khá giả. Có làm thế, chúng sẽ khá hơn, rất trăm bề.
Cuối cùng, là câu hỏi: về thể lý, trẻ bé thuộc tuổi ấu thơ, khi não bộ thần kinh của chúng chưa phát triển đúng cách, đã thấy phát sinh ra tính vị kỷ rồi, còn đám trẻ ở tuổi “teen” lâu nay chỉ tập trung mọi sự vào chính mình, thì động thái này ta đổ lỗi cho ai đây?” (xem thêm Mariette Ulrich, bđd)
            Và, tuổi trẻ ở nhà Đạo thì sao? Có gì cải thiện được cung cách giữ đạo và hành đạo không? Để trả lời, tưởng cũng nên quay về với đấng bậc vị vọng ở Úc, từng bộc bạch như sau:

Sống phù hợp Đạo Chúa, người Công giáo ta vẫn hay hát. Hát cả vào lúc vui, lẫn khi buồn. Bởi, “Hát là cầu nguyện, những hai lần” mà! Và, người nhà Đạo cũng hát rất chăm. Suy tư cũng rất nhiều. Vẫn có các bài ca làm tỉnh giấc mơ hoa, như bài “How Great Thou Art”, nghe không được chuẩn cho lắm. Chí ít, là ở tiểu khúc 3. Như tác giả dẫn ý:

“Hân hoan tình Chúa rất bao la,
chẳng ngại hồn đau vẫn cứ là.
Là, Con Một Hiền lành theo cõi chết,
Ôm trọn tội người, trọn ý Cha.”

Vâng, tiểu khúc trên, dù mang cả một truyền thống đầy ý nghĩa, vẫn coi cái chết của Đức Kitô, như một hành động chuộc tội, do Cha muốn. Nhận định như thế, tức bảo rằng: khổ đau, sự chết của Chúa là giá chuộc mạng mà Ngài đã thanh trả cho bọn xấu, để ta có thể san sẻ sự sống với Chúa Cha. Như một chọn lựa, cái chết của Đức Giêsu phải được coi như hành động duy nhất để Cha nguôi giận về tội lỗi của con người. Vì thế nên, Cha vẫn tiếp tục thương yêu loài người như khi trước.
Nghe điệu nhạc ướt át đầy cảm tính như thế, đôi lúc cũng làm ta hãi sợ. Có lẽ, ta cũng nên kiểm tra lại lời ca ý nhạc, xem nó có thích hợp với nền thần học ta được dạy bảo, hay không. Một đằng, nền thần học của ta vẫn khẳng định: tình thương yêu đặc biệt Chúa ban, rất cao sang, vời vợi. Tình yêu Ngài, vẫn kinh qua mọi thăng trầm cuộc sống, cả lúc vui cũng như khi buồn. Đằng khác, nếu khi hát, ta cứ hay kể nhiều về nỗi khó khăn, buồn phiền Chúa gánh chịu. Là thế, tức là ta chủ trương: Đấng Hoá Công đầy lòng bao dung, vẫn đẩy Người Con Thân Yêu của Ngài vào chỗ chết, có tủi nhục? Phải chăng ta coi đây như phương cách duy nhất làm Ngài hài lòng, sao?        
Áp dụng chuyện xử án, đôi lúc cũng nên hỏi: quan án có để cho đương can vô tội chết lặng lẽ trong lỗi phạm không? Và như thế, Chúa là vị Quan Án Tối Cao, Ngài có quyền lực gì trên sự dữ/ác thần, không? Đây là cách duy nhất để Ngài kiểm nghiệm sự hy sinh cao cả nơi Người Con Yêu Dấu của Ngài, ư? Các vấn nạn trên, gây ảnh hưởng lên đời sống đức tin của người đi Đạo. Đôi lúc, điều này lại làm ta xa vời niềm tin đích thực, lâu nay ta thường được nhắc nhớ, rằng: Đức Chúa trên cao vẫn thương mọi người, dù con người có lầm lỡ, lỗi phạm rất nhiều sự.
Ngày nay, ta nghe nhiều về các nạn nhân, không còn chọn lựa nào khác, đã rơi vào bẫy cạm của tội lỗi. Thật ra, trong nhiều trường hợp, việc ấy không do họ làm. Mà, do người khác đối xử không được tử tế theo lẽ Đạo. Người khác, là người có tự do trong đối xử một cách “khác người”, rất lạ kỳ, và buồn bã. Người khác, vẫn là người biết nhiều, hiểu nhiều. Nhưng, đứng ở góc cạnh nào đó, ta sẽ cùng với họ biểu đồng tình mà cho rằng: Đức Kitô là nạn nhân của thánh ý Cha, khi Ngài chấp nhận khổ đau, và nỗi chết. Hiểu thế, tức cho rằng: Cha vẫn muốn Ngài hy sinh, chuộc mạng để đổi chác chuộc lấy tội của con người, mà thứ tha? Hiểu như thế, sẽ kéo theo ngộ nhận bảo rằng: mình là nạn nhân của Chúa, cũng không chừng. Nếu ý Cha muốn Đức Kitô phải chịu khổ và chết nhục, thì sao ta lại buồn khi lĩnh nhận thánh giá tưởng-chừng-như-quá-nặng?
Suy tư theo hướng này, ta sẽ càng thêm ngờ vực, rằng: sự Thương khó của Đức kitô có thể đã quá đặt nặng vào điểm nhấn trên tính miễn cưỡng của Chúa khi chấp nhận khổ ải. Quả thật, các thánh sử có nhắc đến việc Chúa ngồi cùng bàn với phường giá áo, túi cơm. Kết bạn với bọn phản phé. Làm thầy kẻ chối bỏ sự thật, bỏ của chạy lấy người…
Nhưng không nên hiểu Kinh thánh theo khuynh hướng này. Bởi, nếu không, sẽ có người ngờ rằng: thánh Mác-cô ám chỉ Chúa hoảng sợ trước cái chết khổ nhục, vẫn gần kề. Và, trong chiều hướng ấy, lại sẽ nghĩ: khi Ngài cất tiếng kêu “Lạy Cha”, tức Ngài kêu lên lời ai oán để tự cứu mình khỏi cơn buồn phiền, phải thế không? Cuối cùng, hiểu theo hướng này, sẽ có người lại cứ nghĩ: Đức Kitô nhận “theo ý Cha”, nhưng phút cuối, vẫn thấy như mình bị bỏ rơi trên thập giá? Quả thật, đó không phải là thần học đích thực. Suy cho cùng, hiểu theo hướng này, chắc chắn có sai sót. Bởi đọc kỹ chương đoạn nói rõ Chúa chấp nhận thánh ý của Cha ở Vườn Cây Dầu, thay vì hiểu theo hướng xấu, lại đổ riệt mọi lỗi tội cho Chúa Cha, có lẽ nên coi đây như một khẳng định, bảo rằng: Đức Kitô đã một lòng chung thuỷ với đường lối Ngài tuân theo, trong hành xử với Cha và loài người. Ngài vẫn một mực tuân phục Cha cho đến chết. Vẫn thương yêu con người đến hơi thở cuối cùng.
Có như thế, Đức Kitô mới trấn át giới chức đạo-đời, thời bấy giờ. Ngài khẳng định việc chấp nhận cái chết trong tuân phục, đến phút cuối. Ngõ hầu chứng tỏ cho mọi người thấy:Ngài thương yêu loài người đến tận cùng. Điều này cho thấy: Chúa sống đích thực tư cách rất “người” của Ngài. Chính vì thế, Ngài mới bị quyền lực đen tối dẫn đến cái chết. Và là, cái chết rất nhục. Hôm nay, suy tư về sự thống khổ của thập giá và chết cho chính mình, ta nhận ra được cái giá phải trả, khi giáp mặt với thực trạng của người phạm lỗi, trái luật. Và có thế, mới sống đúng yêu cầu của Vương Quốc Nước Trời có bình an, công chính.
Suy tư như thế, ta mới dõi bước được chân mềm của Chúa. Biết rập khuôn bắt chước lối sống thuỷ chung, trong hành xử giữa Cha và Con. Bởi, sự việc có xảy ra đến thế nào, đi nữa. Hoặc, đường đời còn lắm gian nan, khổ ải đi nữa, thì Đức Kitô là mẫu mực cho sự thủy chung, tuân phục, sẽ giúp ta cứ đầu cao mắt sáng, hiên ngang mà chúc tụng Ngài, cả vào lúc cộng đoàn còn đang sầu buồn, than khóc. Và, với những người dõi bước theo chân Chúa, sẽ chẳng có gì là tang tóc, khóc than hết. Tất cả, vẫn là yêu thương, đồng cảm. Xem như thế, chẳng có gì để ta cứ phải ỉ ôi than vãn cả khi nguyện cầu và hát lễ.” (x. Lm Richard Leonards sj, Suy niệm CN Lễ Lá năm B 01/4/2012)

            Suy niệm về lề lối nguyện cầu theo cách ỉ ôi, sầu não lại sẽ dẫn ta về với câu hát, khá ý nghĩa:

Tôi muốn mời em về
Thăm lại Hà Nội xưa
Cổ Ngư chiều đổ lá
Trong mưa buồn lưa thưa.”
(Việt Dzũng, bđd)

            Dĩ nhiên, nghệ sĩ trên không cố ý mời bạn và mời tôi về với cố đô hay thành cổ có nỗi buồn lưa thưa, nhiều lá đổ. Mà, chỉ nói với mọi người: hãy về với người xưa chốn cũ, dù họ có tình tự không dễ ưa, để người người sẽ nhận ra rằng: tính tình của mỗi người dù có vị kỷ hoặc sống riêng tư, như khoa học gia nói trên đổ rền cho tuổi nhỏ, vẫn nên hiểu theo cách khác.
Nói và hiểu theo cách trên, bần đạo nghĩ: chắc nhiều người cũng tự hỏi: có nhất thiết phải nhấn mạnh nhiều như thế không? Và, sao ta cứ lập đi lập lại đến day dứt nỗi thống khổ ở Tuần Thánh? Mà quên rằng điểm nhấn chính yếu vẫn là Phục sinh quang vinh của Chúa. Đó chính là truyền thống chắc nịch để thánh hội của ta cần duy trì.
Nói và hiểu, theo kiểu ỉ ôi, lôi thôi theo cảm tính và cảm tình của nhiều người, lại cũng đưa ta về với nhận định rất chân chính, như sau:

“Tính ích kỷ làm ta mù, không thấy nhu cầu của tha nhân.
Tính vô cảm làm ta mù, không thấy những việc ta đã làm đau lòng tha nhân.
Tính tự phụ làm ta mù, không thấy tha nhân cũng có nhân phẩm như mình.
Tính kiêu căng làm ta mù, không thấy khuyết điểm của mình.
Những thành kiến làm ta mù, không thấy sự thật.
Sự hối hả làm ta mù, không thấy vẻ đẹp của vũ trụ chung quanh.
Khuynh hướng duy vật làm ta mù, không thấy những giá trị thiêng liêng.
Sự hời hợt làm ta mù, không thấy giá trị thật của con người
và khiến ta hay lên án.”

            Nói cho cùng, thì giá trị đích thật nơi tâm tính mỗi người, không ai có thể “lên án” hoặc dèm pha rồi đổ vấy cho người khác, chí ít là người trẻ hoặc ấu thơ. Hơn nữa, hãy cùng với thánh nhân nhà Đạo, ta cũng nên có nhận định thật rất khác. Khác, như sau:

            “Anh em sẽ được hân hoan vui mừng,
mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu
giữa trăm chiều thử thách.
Những thử thách đó
nhằm tinh luyện đức tin của anh em
là thứ quý hơn vàng gấp bội”
(1P 1:6-7)

            Lập trường của thánh nhân nhà Đạo trích ở trên, không hẳn đã diễn tả: sự thật ở đời, là như thế. Như thế và như thể, mọi người trong Đạo cùng hoàn cảnh mang nhiều thử thách, giống thánh nhân. Nhưng, sống ở đời theo lẽ đạo cho đúng đạo lý làm người, đôi khi còn có tâm tình như tình thư bố mẹ gửi người con dấu yêu, như sau:

“Các con thân yêu,
“Ngày bố mẹ già đi, con hãy cố gắng kiên nhẫn và hiểu cho bố mẹ. Nếu như bố mẹ ăn uống rớt vung vãi... Nếu như bố mẹ gặp khó khăn ngay cả đến cái ăn cái mặc... Xin con hãy bao dung!
Con hãy nhớ những ngày, giờ mà bố mẹ đã trải qua với con, để dạy cho con bao điều lúc thuở bé.
-Nếu như bố mẹ cứ lập đi lập lại hàng trăm lần mãi một chuyện, thì đừng bao giờ cắt đứt lời bố mẹ... mà hãy lắng nghe!
-Khi con còn ấu thơ, con hay muốn bố mẹ đọc đi đọc lại mãi một câu truyện hằng đêm cho đến khi con đi vào trong giấc ngủ... và bố mẹ đã làm vì con.
-Nếu như bố mẹ không tự tắm rửa được thường xuyên, thì đừng quở trách bố mẹ và đừng nên cho đó là điều xấu hổ.
Con hãy nhớ: lúc con còn nhỏ, bố mẹ đã phải viện cớ bao lần để vỗ về con trước khi tắm.
Khi con thấy sự ít hiểu biết của bố mẹ trong đời sống văn minh hiện đại ngày hôm nay, đừng thất vọng mà hãy để bố mẹ thời gian để tìm hiểu.
Bố mẹ đã dạy dỗ con bao điều... từ cái ăn, cái mặc cho đến bản thân và phải biết đương đầu với bao thử thách trong cuộc sống.
-Nếu như bố mẹ có đãng trí hay không nhớ hết những gì con nói... hãy để bố mẹ đôi chút thời gian để suy ngẫm lại và nhỡ như bố mẹ không tài nào nhớ nổi, đừng vì thế mà con bực mình mà tức giận... vì điều quan trọng nhất đối với bố mẹ là được nhìn con, đưọc gần bên con và được nghe con nói, thế thôi!
-Nếu như bố mẹ không muốn ăn, đừng ép bố mẹ!... vì bố mẹ biết khi nào bố mẹ đói hay không.
-Khi đôi chân của bố mẹ không còn đứng vững như xưa nữa... hãy giúp bố mẹ, nắm lấy tay bố mẹ như thể ngày nào bố mẹ đã tập tành con trẻ những bước đi đầu đời.
-Và một ngày như một ngày sẽ đến, bố mẹ sẽ nói với con rằng... bố mẹ không muốn sống, bố mẹ muốn từ biệt ra đi.
Con đừng oán giận và buồn khổ... vì con sẽ hiểu và thông cảm cho bố mẹ khi thời gian sẽ tới với con.
-Hãy cố hiểu và chấp nhận, đến khi về già, sống mà không còn hữu ích cho xã hội mà chỉ là gánh nặng cho gia đình!... và sống chỉ là vỏn vẹn hai chữ "sinh tồn".
-Một ngày con lớn khôn, con sẽ hiểu rằng, với bao sai lầm ai chẳng vướng phải, bố mẹ vẫn bỏ công xây dựng cho con một con đường đi đầy an lành.
Con đừng nên cảm thấy xót xa buồn đau, đừng cho rằng con bất lực trước sự già nua của bố mẹ.
-Con chỉ cần hiện diện bên bố mẹ để chia sẻ những gì bố mẹ đang sống và cảm thông cho bố mẹ, như bố mẹ đã làm cho con tự khi lúc con chào đời.
Hãy giúp bố mẹ trong từng bước đi vào chiều...
Hãy giúp bố mẹ trong phút sống còn lại trong yêu thương và nhẫn nại...
Cách duy nhất còn lại mà bố mẹ muốn cảm ơn con là nụ cười và cả tình thương để lại trong con.
                        Thương con thật nhiều...
            Bố mẹ.”
                        (Tác giả thư trên là của Pierre Antoine, một Việt kiều ở Pháp)

            Thư tâm tình bố mẹ gửi người con thân yêu của chính mình khi gần tới cõi, trích ra đây là để phô diễn tình tự rất “trần” về cuộc sống ở đời có những điều mà đàn con chưa thể hiểu, nhưng vẫn biết nghĩ suy.  Suy, về đời thường. Nghĩ, về đạo làm người có lý lẽ tuy không khó hiểu, nhưng diễn biến theo thời gian và không gian. Tựa hồ như suy tư/nhận định của Thiền sư Nan In như sau:
           
            “Có giáo sư đại học nọ đến gặp thiền sư Nan In để học hỏi thêm về “Thiền”. Thiền sư Nan In mời ông vừa uống trà vừa đàm đạo. Nan In rót đầy chén trà rồi vẫn cứ thế rót thêm. Vị giáo chức đại học thấy thế bèn nhắc nhở:
            -Bạch thày! Kìa, chung trà đã tràn đầy rồi mà sao thày vẫn rót mãi?
            -Cũng như chung trà này, đầu óc của ông cũng đầy ắp những quan niệm tư riêng của ông thôi. Nếu như việc trước tiên ông không cạn chén trà này đi đã, thì tôi đây làm sao bày tỏ cho ông biết về Thiên được?”

Chuyện về “Thiền” cộng thêm lời bình của người kể, có thể diễn nghĩa như sau: những người chứa đầy những kiến thức trong đầu đều có động thái tương tự kẻ tham gia cuộc tranh luận trong đó có người hay đưa nhận thức của riêng mình vào cuộc biện tranh, rất lý luận. Thế nên, rút cục chỉ nghe mỗi tiếng của mình mà không học được gì thêm cho mình hết.
Về tính vị kỷ hay tật xấu/thói quen của cá nhân hoặc nhóm hội nào đi nữa, vẫn chỉ là tâm tính hoặc tâm tình cụ thể của một người, ở vào hoàn cảnh nào đó, thế thôi. Dù người kia, nhóm nọ có ra thế nào đi nữa, ta vẫn hy vọng rằng ngày nào đó người ấy sẽ đổi thay. Giả như họ vẫn chưa thay đổi được, chẳng qua cũng chỉ vì họ chưa gặp thời hoặc gặp được bạn hiền nào chỉ cho mình cách thức để cải thiện hoặc sửa đổi chính mình, thế thôi. Ngay như câu truyện ở trên, vị giáo sư đại-học kia kiến thức đầy mình là thế, nhưng vẫn cần đến ý kiến của thiền-sư với kiến thức cũng như học vị chẳng bằng ai. Thế nhưng, kiến thức văn hoá về con người và về sự biến hoá của vũ trụ, thì chưa chắc là ai bằng người thày ấy.
Và, đó cũng là ao ước của nghệ sĩ lâu nay vẫn thường hát:

Tôi muốn mời em về,”
“Thăm lại phố phường xưa.
Những chiều trời mưa phủ ,
Lời yêu nói sao vừa.”
            (Việt Dzũng – bđd)

            Mời em hay mời tôi, ta vẫn cứ mời. Mời, là để tôi và em, ta không chỉ thăm lại phố phường xưa, thôi. Nhưng, còn để bảo rằng: “lời yêu, nói sao vừa?” Sao vừa được, bởi lời ấy không là lời yêu thương mỗi chính mình, khá vị kỷ. Mà là, lời thương yêu hết mọi người dù ở trong Đạo hay ngoài đời. Khắp muôn nơi.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Vẫn cứ mời bạn và tôi
            ta về với người xưa, chốn cũ
            có sự thật rất không phai và không cũ.
Như tình yêu vô vị kỷ,
ở Nước Trời.

Saturday, 2 June 2012

“Sáng Chủ nhật đẹp, trời trong nắng mai,”


Chuyện phiếm đọc vào tuần sau lễ MìnhMáuChúa năm B 10-6-2012

“Sáng Chủ nhật đẹp, trời trong nắng mai,”
“Tiếng chim ca đùa, làm vui thú thêm.
Ôi! Chủ nhật đem tình yêu đến với nguời.”
 (Daniel Boone – Lời Việt: Sưu tầm)

(Ga 13: 34-35)

Không hiểu sao, mỗi khi nghe ai đó cất tiếng hát vang nhạc bản này, không biết tại sao trong tôi vẫn thấy nhiều điều khá lấn cấn. Lấn cấn nhất, là: cụm từ mà nhà thơ dịch từ nhóm chữ “Beautiful Sunday” của Daniel Boone ra như thế? Dịch giả nhà mình sao không dùng tiếng “Chúa nhật” thay cho “Chủ nhật” giống người thường ở huyện vẫn cứ bảo: “Ngày đẹp trời”, “trong nắng mai” là quà tặng Chúa ban, chứ đâu do ông “chủ”/bà “chủ” nào đó cho công nhân/thợ thuyền nghỉ, để rồi đám thợ của ông/của bà sẽ gọi ngày ấy là ngày của chủ, tức “chủ nhật buồn”, rất lấn cấn với dân con nhà Đạo? 

Thêm một lấn cấn khác, là: nỗi buồn “chủ nhật”, tức buồn bã ngày của “chủ nhân ông” khiến nhiều người nay không còn thấy vui như trước. Không thấy vui, như ai đó có viết ở đoạn sau đây:

Tôi hát trong ca đoàn ở Giáo Xứ Mỹ, giữ một chức rất quan trọng không thể thiếu: quét rác gác đàn và chuẩn bị sách vở. Ai cũng yêu mến nài nỉ tôi hát solo, nhưng tôi không dám mang chuông rè đánh xứ người. Dù ở Mỹ hơn hai chục năm, nhưng lỡ ăn nước mắm quê hương nên tiếng hát của tôi có chất giọng con bìm bịp gọi lục bình lững lờ trôi theo con nước ven sông quê ngoại: đục buồn ảm đạm, cứ lục cục trong cổ họng… Có người hỏi: “Sao giọng anh buồn thế ?” Tôi có dịp ca “cải lương” nửa đùa nửa thật: “Vì tận đáy sâu trong lòng tôi có một khối u buồn: nước mất nhà tan đành nương thân xứ người…
“Tuần vừa qua, sau Lễ vọng Phục Sinh, anh ca trưởng dẫn cả nhóm ra quán bồi dưỡng cho bõ tháng ngày vất vả tập luyện. Ngồi kế tôi là một em giúp lễ tuổi chừng 13, thấy mặt mày sáng sủa, dáng nhanh nhẹn tôi hỏi: “Có bao giờ em nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ trở thành Linh Mục không?” Cậu bé nhún vai le lưỡi. Tôi thấy hơi buồn.
Tôi hỏi bà dì ruột ngồi kế bên cậu: “Chắc bà cũng muốn em trở thành Linh Mục chứ?” Người dì ruột phán một câu chắc nịch: “Bố tôi bảo mày làm gì thì làm, chứ đừng bao giờ làm Nữ Tu…” Tôi hụt hẫng và rất buồn…” (x. Người Tôi Tớ Vô Dụng, Boston 4/2012 Ephata ViệtNam số 506 Chúa Nhật 22.4.2012, tr.20)

Bần đạo nghe truyện ở trên thấy cũng buồn, nhưng nghĩ lại đâu cứ phải linh mục mới là người đáp trả lời mời của Đức Chúa. Có nhiều vai trò không kém quan trọng và cũng thực thi sứ vụ Chúa giao phó, đó là vai trò của Thừa Tác Viên. Nghĩ thế rồi, bần đạo bèn quay về lập trường của đấng bậc trổi trang ở Sydney vốn có tư tưởng khá “cứng” về công việc thừa-tác cũng rất Đạo, như sau:

“Chức năng của “Thừa-tác-viên”, ta hiểu là của giáo dân có nhiệm vụ khác nhau ở Tiệc Thánh Thể, là để giúp người tham dự thêm lòng sốt sắng, long trọng. Trước nhất, là vai trò của thừa-tác-viên giúp lễ.
            Năm 1973, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục có ra tông thư “Motu proprio” có tựa đề “Ministeria quaedam” trong đó ngài đề cập đến “sứ vụ” thừa-tác giúp lễ, đọc sách thánh, trừ quỷ và giữ cửa, chuẩn bị cho chức thánh linh mục.
            Việc giúp lễ và đọc sách thánh, có thể giao cho giáo dân nay Giáo hội vẫn còn giữ và gọi đó là công việc “thừa tác”. Hơn nữa, cất nhắc các chức sắc này nay là định chế chứ không phải là “tấn phong”, như khi trước nữa.
            Tông thư của Đức Giáo Hoàng Phaolô đệ Lục cũng nói: “Sứ vụ của Thừa-tác-viên giúp lễ được đặt ra là để giúp phó-tế và để các vị hợp tác với linh mục chủ tế trong thánh lễ, đặc biệt còn cho phép các vị này được trao Mình Thánh Chúa với tư cách “thừa-tác-viên đặc biệt” khi thừa-tác thánh thể vắng mặt vì bị ốm hoặc vì lý do tuổi tác, hoặc bị ngăn trở này khác như điều 845 Luật Phụng vụ nói đến.” (xem Tông thư ở trên đoạn #6)
            Hơn nữa, thừa-tác-viên Thánh-thể ngoại lệ được gọi đến chỉ để làm công việc thừa-tác trong trường hợp linh mục chủ tế bị ngăn trở do sức khoẻ, tuổi tác hoặc lý do nào khác cũng chính đáng; hoặc khi giáo dân lên rước lễ đông quá, cần có thêm người trao Mình thánh để thánh lễ không kéo dài ngoài dự trù. Tuy thế, việc này chỉ nên làm trong thời gian ngắn thôi tuỳ hoàn cảnh và văn hoá của mỗi nơi.“ (trích Tông thư Redemptionis sacramentum đoạn 158) (xem Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly ngày 20.02.2012 tr.10).

            Phụng vụ Đạo Chúa, vẫn như thế. Như thế và như thể hơi bị “cứng”, một chút thôi. Chí ít, là khi số người “đi lễ” nhà thờ ở trời Tây độ này đà sút giảm, đâu cần nhiều người thực thi việc thừa-tác rất thánh, nơi Giáo hội! Có chăng, cũng chỉ xảy ra ở xứ miền nào đó, thôi.     
      
            Nói “cứng” theo đúng luật và lệ, là nói không khác thế vậy là mấy. Tuy nhiên, nói theo kiểu người đời ở đời người về niềm vui/nỗi buồn “ngày của Chúa” là nói giọng rất “Tây” có ý nhạc, sau đây:

            “Sáng chủ nhật đẹp, người yêu đến chơi,
             với đôi môi hồng, nàng sẽ hát ca:
            Ôi! Chủ nhật, tô đẹp thêm đôi mắt nàng.
            Hà! Ha! Há! Tiếng em đùa tươi cười
            Nhìn say đắm, mãi …mãi… trong tình yêu đầu.
            Nhìn em biết, nói! nói! bao lời cho vừa
            Ôi! Ta sẽ nguyền kề vai nhau suốt đời.”
            (Daniel Boone – Beautiful Sunday)

            Chả biết sao, Đạo mình cứ đòi bản quyền tác giả ở cụm từ “Chúa” Nhật, mà không vui. Vui sao được, khi đấng bậc mình chỉ phán và bảo những luật và luật, mà thôi. Trong khi âm nhạc mình, lại chỉ hát với ca những điều vui, như: “tiếng em đùa tươi cười”, rồi còn bảo: “sẽ nguyền kề vai suốt đời”, thế mới vui. 

            Thực thi công cuộc thừa tác ngày của Chúa, ở Tiệc Thánh, bần đạo đây chẳng là thầy tư/thày sáu bao giờ đâu, thế mà cũng được linh mục chủ tế mượn/nhờ làm thừa-tác-viên đọc sách và trao Mình Chúa, có lần lại còn được yêu cầu san sẻ Lời Chúa với bà con ở nhà thờ nhỏ có buổi lễ cũng khá lớn. Như thế thì, làm thừa-tác-viên cho Hội-thánh, là để chung vui cùng các thánh ở Tiệc Thánh, rất phụng vụ.

            Tuy nhiên, các thánh lâu nay dù quá vãng, đâu thấy buồn. Chỉ buồn một nỗi, có mỗi chuyện là: người đi Đạo hôm nay không định giá đúng mức tính sử học, vai trò và thành tựu mà các thừa-tác-viên khi xưa từng thực hiện. Thế nên, có đấng bậc nhà mình từng để nhiều giờ ra mà tìm hiểu lịch sử Đạo Chúa, thấy có điều khá “lấn cấn” nơi tâm tình người nhà Đạo, về việc này.

            Cũng thế, nay bần đạo đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta bỏ ra ba phút ngắn ngủi để về với lịch sử thánh thiêng hầu tìm hiểu chức-năng lành thánh mà nhiều vị quên đi, hoặc chẳng biết. Nói nôm na, thì: ta cũng nên điểm qua tình hình người mình nhận xét khá chính xác về lịch sử và/hoặc vai trò của một số thừa-tác-viên nữ tên là Maria Magđalêna, có lý lịch như sau:

“Trong số các thừa tác-viên nam/nữ có vai trò nổi bật và chỗ đứng hàng đầu vào thời Chúa sống phải kể đến Maria Mađalêna. Nhiều người vẫn cứ hỏi: chị ta là ai? Là, đồ đệ gần gũi Chúa hay người nữ phạm lỗi nay hối cải? Có chăng, vào thời trước, chiến dịch bôi nhọ tên tuổi bằng cách chuyển vai trò thừa tác viên gần gũi Chúa thành người nữ lỗi phạm, nay cải hối?
            “Lâu nay, ta nghe rất nhiều truyện kể về Chị là một trong số các tín hữu theo chân Chúa, và ngay đến nghệ thuật  cũng vẽ lên chân dung Chị như kẻ tội phạm, người nữ dâm dục chuyên khêu gợi đến độ coi Chị như gái điếm lúc nào cũng mang bên mình hũ dầu thơm, để bôi/xức.
“Tin Mừng thánh Luca đoạn 7 kể rất rõ về “bữa ăn tại nhà một Biệt Phái có mời Chúa đến dùng. Lúc ấy, lại có một phụ nữ, người tội lỗi (tức gái điếm trong châu thành) cũng xà tới mang theo bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị có cử chỉ khiếm nhã, thực hiện những động tác như nghi thức lạ, là: sờ chạm chân Ngài là nam giới (một việc chỉ được phép làm với cha hoặc chồng mình thôi). Chị xả dầu vào chân Ngài, xoã tóc trên đầu lau khô dầu ấy, khiến mọi người kinh ngạc trước hành xử khiếm nhã….” Nhưng Đức Giêsu kể lại chuyện ấy và biến nó thành một dẫn chứng cổ điển về tính hiếu khách.
“Các thánh tổ phụ trong Giáo hội tìm hiểu nhiều về trình thuật này và khẳng định rằng Maria Magđalêna chính là người nữ lăng loàn đổ dầu thơm lên chân Chúa và cũng là nữ phụ bị bắt quả tang đã ngoại tình, là một. Nhưng vấn đề là: làm sao các tổ phụ lại có được nối kết ấy. Bởi, cho đến giờ này vẫn có điều gì đó rất mù mờ về những bối cảnh mà Tin Mừng thánh Luca kể.
“Thật ra, “Maria” là tên gọi của rất nhiều phụ nữ trong dân Do thái vào thế kỷ đầu (ta biết được chuyện này là nhờ các hình/chữ khắc trên vài hài cốt ở Giêrusalem). Ngay Tân Ước cũng nhắc đến nhiều vị tên Maria. Trong đó, có Maria Mẹ Đức Giêsu, Maria mẹ của thánh Giuđa, Maria chị Martha và Lazarô; lại cũng có Maria xức dầu lên chân Chúa trong Tin Mừng thánh Gioan và Maria Mađalêna. Thật khó mà giữ được sổ bộ các Maria khác nhau như thế. Ngay sau đoạn kể về chuyện đổ dầu vào chân do một người tội lỗi làm, thánh Luca lại cũng nói đến tên của Maria Mađalêna, nhưng thánh sử lại không nói rõ người nữ phụ trong truyện kể có là Maria Mađalêna không.
“Ở đoạn khác, thánh Luca cũng lại kể truyện Đức Giêsu tống khứ bẩy ác thần ra khỏi người của Maria Mađalên, nên các thánh tổ phụ Giáo hội bèn chú giải coi đó như “7 mối tội đầu” rất trọng. Thế nên, nối kết trên bị tắc nghẽn ở đó.
“Tin Mừng thánh Gioan, lại cũng kể về nữ phụ ngoại tình không ghi rõ tên tuổi được đem đến với Chúa. Cuối cùng, Chúa phán hỏi: ai trong số những người có mặt lúc đó không có tội hãy ném đá trước đi… Và thánh sử cũng không nói rõ nữ phụ ấy có là Maria Mađalêna hay không. Ở đoạn khác, thánh Gioan lại cũng kể về chuyện Đức Giêsu được một nữ phụ tên là Maria thuộc làng Bêtania xức dầu thơm lên chân Ngài. Nhưng chắc hẳn nữ phụ này không phải là Maria Mađalêna.
Sở dĩ có chuyện Hội thánh khi trước đặt tên cho nữ phụ tội lỗi đã hối cải là Maria Mađalêna là do từ bài giảng ở Rôma năm 591 trong đó Đức Giáo Hoàng Grêgôria Cả, giảng như thế. Ngài thẩm định rằng Maria Mađalêna chính là người nữ phụ ngoại tình đã cải hối. Truyền thống Giáo hội bèn tin vào đó rồi cứ thế cả ngàn năm sau vẫn cứ giảng rao như thế ở nhà thờ; kết quả là điều này lại đã đi vào với nghệ thuật cao cả và lịch sử tệ hại. Đây chính là sự hài hoà giữa các bản văn kết tội người nào đó hành nghề đĩ điếm.
Tiếng Anh có cụm từ “maudlin” được phiên âm và diễn nghĩa lấy từ tên “Magdalen”, để chỉ thái độ tình cảm sướt mướt. Thế nhưng, chuyện phỏng đoán này lại khác hẳn những gì mọi người thấy ghi rõ trong Tin Mừng.Ở Tin Mừng, các thánh sử nói rõ Maria Mađalêna cùng đi với Chúa trong mọi hành trình. Chị còn ở lại với Ngài cho đến phút cuối trên đồi Canvariô, và cũng Chị chính là nữ phụ đầu tiên đến mộ phần của Chúa vào sáng Chúa Nhật cốt để lau sạch thi hài  Ngài bèn chứng kiến sự lạ đến độ khi Chị quay liền thấy Đức Giêsu “đứng” ngay đó (mà theo tiếng HyLạp có nghĩa là “trỗi dậy”). Chị lại là người đầu tiên thông báo tin vui Phục sinh, thôi.
Còn nữa, lại cũng theo cung cách diễn giải khác biệt, trong tài liệu lần đầu phát hiện ở Cairô năm 1896 –một cổ bản bằng da có từ thế kỷ thứ 5, được gọi là “Tin Mừng theo Maria” Maria này đích thực là Maria Mađalên. Trong Tin Mừng này có 4 trang còn nguyên vẹn, trong đó nói Maria Madalêna là thủ lãnh của toàn nhóm tông đồ và các trang đó cho thấy một lối hiểu biết rất khác về lời dạy của Đức Giêsu.
Chuyện rõ ràng, là: Hội thánh thời tiên khởi vẫn muốn loại trừ vai trò rất thực của Maria Mađalêna và để làm chuyện này, dứt khoát phải bôi nhọ hoặc bêu xấu tên tuổi của Chị và coi chị như người gái điềm đã hoàn tục.
Còn câu hỏi: đâu là lý lịch thực thụ của nữ phụ người Do thái này?
Để trả lời, thì:” tên tuổi của Chị được qui chiếu ở cả 4 Tin Mừng dưới danh xưng ‘Maria Mađalêna’. Theo tiếng Do thái và Aram cùng nghĩa tương đương bên tiếng Hy Lạp, thì tên của Chị được tả như ‘người làm đẹp đầu tóc’ mà thời nay ta gọi là ‘thợ làm đầu’
Ngoài ra, thị trấn Magđala ở vùng phía Tân miền cận duyên vùng biển Galilê, cách xa thị trấn Caphanaum chừng hai tiếng đồng hồ. Đây là làng đánh cá nhỏ, chứ không phải là chốn thị thành lịch lãm hoặc sinh tươi, mà chỉ là nơi được dùng để phơi cá. Theo tiếng Aram, thì Magđala chỉ có nghĩa như ‘cái tháp’, mà thôi.
Thành ngữ “thuộc” Magđala ở đây cũng bất thường. Phụ nữ nào có chồng thưòng được gọi tên chồng như thể Maria “thuộc về”chồng chứ không phải xứ miền, thị trấn. Điều này cho thấy thì có thể là Chị chưa lập gia đình và cũng không có con.
Xã hội Do thái phân biệt rõ ràng chức năng và vai trò của nam nhân lẫn nữ phụ. Ở đền thờ, phụ nữ ngồi ở khu vực dành riêng cho các chị, không ai được bén mảng vào “khu vực của tư tế”, tức nơi tế lễ. Nói chung, thì phụ nữ chủ yếu ở nhà lo việc nội trợ còn nam nhân mới là người ra ngoài sinh hoạt công khai.
Đức Giêsu không mấy quan tâm về những chuyện ấy hoặc Ngài từng bẻ gẫy qui định này. Tin Mừng thánh Luca có nói đến các nữ phụ như “Maria Mađalêna, Gioanna, Susanna cùng nữ phụ khác đã dùng của cải mình mà trợ giúp Ngài.” (Lc 8: 3) Điều này có nghĩa: các Chị sống độc lập với gia đình mình và cũng khá giả, dù thánh sử không muốn nói là sung túc. Nói cho đúng, các Chị là những vị có thực chất; có thể, các Chị cũng đã thừa hưởng hồi môn của gia đình. Xem ra, các Chị là những người từng theo chân Chúa và gia nhập nhóm ‘thừa tác viên’ đắc lực. Tác giả Carolyn Osiek giả thiết, là: Chị Maria Mađalêna có thể đã goá chồng, nên thừa hưởng gia tài nào đó sau khi chồng mất.
Đức Giêsu là Đấng Chữa Lành/trừ quỷ trong vùng Biển Hồ. Thế nên, trường hợp Maria Mađalêna đã bị ‘7 quỷ dữ ám hại’, nên Ngài xin Chúa Cha và nhân danh Cha Ngài cho phép tống khứ đám quỷ ấy ra khỏi Chị. Chuyện này sẽ không thể xảy ra, nếu người được chữa lại không tin tưởng vào quyền năng dũng mãnh của Đấng Chữa lành hết mọi chuyện. Và có thể, đây cũng là bước đầu của niềm tin giữa Maria Mađalêna và Đức Giêsu. Kết quả là, Chị đã trở thành người theo chân Chúa rất đắc lực và sốt sắng, mà nay ta gọi là ‘thừa-tác-viên’ trong Hội thánh.
Có điều là, giới phụ nữ sinh hoạt trong nhóm nhỏ của Đức Giêsu chẳng khi nào được gọi là ‘đồ đệ’ bao giờ hết. Để hiểu rõ điều này, có giải thích là cụm từ ‘đồ đệ’ bên tiếng Do thái gọi là “talmid” còn tiếng Aram gọi là “talmida” là từ ngữ không có giống cái. Bên tiếng Aram, ‘đồ-đệ-nữ’ lại có nghĩa khác hẳn ‘nam-nhân môn-đồ’. Với cộng đoàn thánh Phaolô, nữ giới luôn bình đẳng với nam nhân. Các Chị vẫn nguyện cầu, san sẻ mọi công tác phụng vụ và công việc của ngôn sứ nữa.” (xem Kevin O’Shea CSsR, Critical Studies of Women Linked With Jesus, tài liệu giảng huấn tại          
Đại Học Công giáo Sydney tháng 5/2011, xem thêm James Martin, Who was Mary of Magdala? America Magazine July 22/2011 và các bài viết của Jane Schaberg, The Resurrection of Mary Magdalene, Elizabeth Schussler Fiorenza, In Memory of Her.)

            Nói gì thì nói, có nói theo hoặc đúng như truyền thống của Giáo hội hoặc theo các bậc thày giảng dạy về lịch sự Hội thánh, vẫn là tuỳ động thái của mỗi người. Chí ít, là những vị nay rất khá về sử học, ngữ học hoặc Thánh Kinh học thời bây giờ. Đọc gì thì đọc, cũng vẫn là đọc để tìm hiểu về tính rất thực theo nhận thức của người thời đại vẫn tin vào Chúa cách hăng say, nhưng vẫn theo khuôn thước khoa học và sử học và đồng đều về giới tính, mới có giá trị. 

Ngoài ra, tất cả còn có vấn đề của niềm tin. Nói và đọc, chỉ để tìm hiểu rõ hơn rồi còn tin. Tin, Chúa Thánh Thần vẫn soi sáng để người người hiểu Đức Giêsu Kitô luôn là Thần Tượng của niềm tin chính đáng. Ngài là Thần Thiêng rất Chúa mà ta không cần phải đúc tượng. Bởi, có là tượng hoặc ảnh hình về Ngài chắc hẳn có giới hạn trong khi Thiên Chúa là vô hạn, và đồng thời vẫn có các thánh đồng hành với Ngài vẫn rao truyền niềm tin Thiên Chúa là Cha, qua nhiều cách thức. Và Chúa vẫn dùng mọi người, mọi đấng thánh cũng như kẻ phàm đầy lỗi tội để Danh Ngài được rạng sáng. Chói ngời. Vấn đề là: ta làm được gì để Danh Ngài cứ thế mà rạng sáng. Có làm được như thừa-tác-viên nữ bị coi là người tội lỗi nay cải hối hay không, thế thôi.     
  
Để Danh Cha rạng sáng, cũng nên dùng lời ca của người ở ngoài vẫn hát lên lời chúc tụng:

“Tình yêu đến, đến, đến đến trong lònh đôi mình.
Người yêu hỡi, nhớ nhớ đến tình yêu chủ nhật.
Ôi! Ô Ồ, ta đến cùng
vui tình yêu trong nắng đẹp.”
(Daniel Boone – Beautiful Sunday)

            Đúng thế. Một khi tình yêu đã đến trong bạn và trong tôi, hoặc trong chúng ta rồi thì tất cả sẽ là thánh nhân tuyên dương Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu sẽ cứ rạng sáng khắp muôn nơi. Rạng vào ngày Đức Kitô trỗi dậy khỏi mộ phần. Rạng, cả vào ngày Ngài hiển hiện vào dịp Ngài về với Chúa Cha để rồi gửi Thần Khí Ngài đến với mọi người vào Lễ Ngũ Tuần, ở mọi nơi. Mọi thời.

            Để minh hoạ sự rạng sáng của Thiên_Chúa-Là-Tình-Yêu với mọi người, cả người trong Đạo/ngoài đời, tưởng cũng nên về với truyện kể để minh hoạ, ở bên dưới:

“Bố câm điếc ngay từ khi sinh ra và bố xin lỗi con vì điều đó. Bố không thể nói được như những ông bố khác. Nhưng bố muốn con biết rằng, bố yêu con bằng cả trái tim mình”, lời người cha muốn nhắn nhủ tới cô con gái nhưng đã quá muộn…Vì có người bố bị câm điếc bẩm sinh nên cô gái thường xuyên trở thành mục tiêu trêu chọc của bạn bè ở trường.
Từ việc phản kháng đến gây lộn với các bạn, cô gái dần trở nên ác cảm với chính người bố của mình.
Trong khi đó, dù không thể nghe, nói như một người bình thường được, ông cũng phần nào hiểu được nỗi buồn của cô con gái mình cho dù ông luôn quan tâm, động viên, cố gắng làm con vui hơn trong mỗi bữa ăn của hai người.
Với tất cả tình yêu thương của một người cha, ông đã âm thầm chuẩn bị chiếc bánh mừng sinh nhật con gái và cùng với đó là những tâm sự ông muốn nhắn nhủ.
“Bố câm điếc ngay từ khi sinh ra và bố xin lỗi con vì điều đó.
Bố không thể nói được như những ông bố khác.
Nhưng bố muốn con biết rằng, bố yêu con bằng cả trái tim mình”.
Đáng tiếc, lời nhắn nhủ đó của ông mãi mãi không được cô con gái biết đến vì sự muộn phiền và áp lực không thể vượt qua, cô đã tự tử đúng ngày sinh nhật của mình.
Trong cơn tuyệt vọng, người bố bế thốc con tới bệnh viện, cầu xin các bác sỹ cứu sống cô con gái bé bỏng của mình dù có hết sạch tiền hay phải bán nhà với một hy vọng: “Con gái tôi, nó không thể chết”. Và cô con gái đã được cứu sống bằng những giọt máu và chính tính mạng của chính ông. Đến lúc này, cô con gái chỉ còn biết nắm tay cha và khóc…”

            Truyện kể ở trên nay đã rõ: Tình Yêu đôi lúc không được diễn tả đúng mức, nên dễ lầm. Dễ hiểu lầm, có khi chỉ một thoáng chốc. Cũng có khi, kéo dài cả ngàn năm. Tuy nhiên, có lầm lạc trong hiểu biết hoặc nhận định thế nào đi nữa, cũng chẳng nên quên lời dặn dò của chính Chúa, trước ngày Ngài ra đi tìm về với Cha, trong yêu thương. Đó chính là lệnh truyền của Chúa, như thánh Gioan từng ghi lại:

                        “Thầy ban cho anh em một điều răn mới
là anh em hãy yêu thương nhau;
anh em hãy yêu thương nhau
như Thầy đã yêu thương anh em.
Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này:
là anh em có lòng yêu thương nhau."
(Ga 13: 34-35)

            Lời cuối hôm nay, chỉ thế này: có là thừa tác viên tông đồ nam/nữ hay chỉ là người phàm đầy tội lỗi, một khi người người vẫn quyết tâm làm rạng Danh Cha, Danh Chúa, hẳn cũng là đã thực thi lệnh truyền của Ngài, trong yêu đương. Đúng lẽ thường, của trời đất.

            Trần Ngọc Mười Hai
được chỉ bảo rất nhiều điều,                 
            nhưng điều quan trọng hơn cả
lại cứ quên như nhiều người ở cõi thế.