Saturday, 10 March 2012

“Gió gây hương nhớ, nâng tiếng đàn xa xưa,”


Chuyện phiếm đọc vào tuần thứ Tư Mùa Chay năm B 18.03.2012

“Gió gây hương nhớ, nâng tiếng đàn xa xưa,”
“Sầu vương vấn gây mơ, khóc trên giây tơ.”
(Nguyễn Mỹ Ca/Hoàng Mai Lưu – Dạ Khúc)
(Titô 3:1-3 )
            Ngôn ngữ thời đương đại, có người từng nói: “Cái này nghe hay đấy, nhưng thiếu lửa.”  Hoặc, thay vì lửa, có vị lại phán: “Cái này hay đấy, nhưng chẳng có tí gió nào hết!” Gió là gió gì? Gió lạ thổi theo luồng, hay gió nồm Nam thổi vào miệt dướ, xứ Kangaroo?

            Về gió luồng nồm Nam dù có lạ, thì người nghệ sĩ trích dẫn ở trên vẫn coi đó như ngọn gió “gây hương nhớ”, rất “sầu vương vấn”. Cũng vì sầu vương vấn gây nhung nhớ, nên có bạn Đạo nọ lại cứ bảo: “đâu thấy tình xưa mơ màng.” Nói hay bảo, vẫn cứ thì thào: “Này! Gió ngọn nào đưa anh đến đây thế?”

            Vâng. Với nhà Đạo, có là lửa rực hay gió nồm Nam vẫn là niềm hưng phấn tạo nguồn hứng, để bạn đạo có chút tươi vui, mà viết lách. Niềm riêng ấy, có thể là ý từ người nghệ sĩ xưa vẫn cứ hát:

                                    “Đàn ai lên cung oán (tang tình) gieo hờn,
                                    Đàn ai ngân theo gió (xê xang) gieo buồn.
                                    Bồn chồn trong đêm tối, Lần dò chân theo lối mấp mô.”                              
(Nguyễn Mỹ Ca/Hoàng Mai Lưu – bđd)

            Niềm hưng phấn ấy, phần đông bạn đạo thuộc giáo phái khác vẫn dựa vào đó để khích lệ dân con mình sống Đạo trong phụng sự và phụng tự. Phụng tự và phụng sự nơi tôn giáo, nhiều bạn thấy lòng mình phấn kích nên đến xem hoặc tham dự, để thưởng lãm. Thưởng lãm rồi lại đam mê đến độ sẽ thực hiện ý đồ phục vụ nhiều hơn phụng tự.

            Cũng phấn kích như thế, nhiều vị lại đã chuyển hướng/chuyển hệ, để rồi sau đó dễ bề phục vụ Chúa trong mọi người, nhiều hăng hái. Chính vì thế, mới gây quan ngại cho một số bạn đạo của bần đệ ở Sydney rất lâu nay. Vừa qua, một số vị còn tỏ ý thắc mắc với đấng bậc nhà Đạo rằng: dạo này thấy nhiều anh chị trong Đạo mình cứ chuyển hướng rồi cập bến mê, thiên về nhóm Thánh Kinh chuyên hát hò và nhún nhảy ngay ở nguyện đường, thay vì đọc kinh “xem” lễ rất Công giáo mình, là thế.

            Quả như nghệ sĩ trên, cũng từng reo: “Ôi cung đàn réo!”, “Dây tơ gào gió đê mê lòng”, khiến người khác cứ “lệ trào vì đâu?”, “Bao tình tê tái”, “Bay tìm ánh trăng sao!”. Và nghệ sĩ ta lại hát thêm:

                                    “Đàn ai lên cung oán (tang tình) gieo hờn,
                                    Đàn ai ngân theo gió (xê xang) gieo buồn.
                                    Bồn chồn trong đêm tối,
                                    Lần dò chân theo lối mấp mô.”
                                    (Nguyễn Mỹ Ca/Hoàng Mai Lưu – bđd)

            “Lối mấp mô” nhà Đạo nay là lập trường rất “nguyễn y vân” (tức vẫn y nguyên) hồi nào của đấng bậc, rất như sau:

“Quả là, ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, hiện tượng “chuyển hướng” theo nhóm Thánh Kinh của Giáo hội bạn, đã đạt mức độ rất lớn; đặc biệt hơn cả, là: Nam Mỹ, Châu Phi và PhiLípPin là nước có số giáo dân Công giáo rất đại trà.

Hỏi rằng: sao những vị xưa nay được thanh tẩy và giáo huấn theo Hội thánh Cộng giáo, có sự thật dồi dào cùng sự cứu rối sung mãn của Đức Kitô, lại đã rời Hội thánh để theo giáo hội Kitô giáo rất khác biệt? Dĩ nhiên mỗi người có lý lẽ và quá trình khiến mình có quyết định như thế. Thành thử, hay nhất là hỏi những người ấy là biết ngay tại sao cớ sự lại như thế. Nhưng, theo tôi, giữa Đạo Công giáo và các nhóm Thánh Kinh vẫn có những yếu tố, những điểm khá giống nhau.

Thứ nhất là: người Công giáo và các nhóm đạo hữu khác đều thấy rằng sinh hoạt đạo đức ngày Chúa nhật rất sống động; bởi qua đó, họ có những giờ phút thoải mái hát hò vui vẻ, nghe giảng Lời Chúa rất thuyết phục.    

Thêm lý do nữa, là: các nhóm Thánh Kinh thường có tinh thần huynh đệ rất cao cả lúc nào cũng hoan nghênh chào mừng mọi người đến với họ. Có nhóm hội còn ra đi thành đoàn hai người một đến từng nhà gõ cửa kêu mời người trong nhà gia nhập nhóm của họ bằng động thái thân thiện, sảng khoái khá chu đáo.

Nhiều nhóm lại có kỹ năng lôi cuốn người nghe rất mạnh mẽ. Bởi thế nên, nhiều vị còn thấy mình như bị thu hút lúc nào không biết qua lời nguyện cầu hăng say, năng nổ hoặc bằng dịch vụ chữa lành và hình thức khác rất hấp dẫn để thấy rằng Chúa Thánh Thần đang hiện diện ở với họ.

Thêm vào đó, nhiều nhóm Thánh kinh lại có tài hiểu biết Kinh thánh rõ hơn đa số các người Công giáo bình thường bậc trung. Thế nên, nhiều lúc người Công giáo cứ trợn tròn đôi mắt khi thấy mấy người trong họ tuy chỉ là giáo dân thôi mà sao hiểu biết Kinh thánh rành rọt đến là thế. Thậm chí, họ còn dùng các phương pháp khác nhau để minh chứng rằng người Công giáo mình có sai sót trong giáo huấn, nói chung. Đôi khi, họ cũng mời người ngoài nhóm đến tham dự các buổi học hỏi Thánh Kinh cùng với họ nữa. Thành thử, nội bấy nhiêu thôi, cũng làm cho người Công giáo yếu bóng vía hoặc thiếu tìm tòi/học hỏi, cảm thấy mình dễ bị thu hút, dễ thuyết phục.” (x. Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 12/02/2012 tr. 10)

            Nhận định thì như thế. Nhưng vấn đề là: đề nghị của đấng bậc thân quen ở nhà Đạo vẫn muốn giữ chân người Cộng giáo ở lại với Giáo hội mình. Bằng nào những lời nghe quen quen, đấng bậc nhà mình lại cứ phán, rất lý sự như sau:

“Làm cách nào để đem người Công giáo đã rời ràn chiên trở về cùng Hội thánh mình, có lẽ cũng phải làm vài ba việc: thứ nhất, phải làm công tác đào tạo người Công giáo trong niềm tin cho thật tốt, cách riêng đám trẻ nhỏ. Rõ ràng thì, người Công giáo nào thực sự hiểu rõ và yêu thích nét đẹp của chân lý và của đời sống người Công giáo chắc chắn sẽ không bao giờ rời bỏ Giáo hội mình để tham gia nhóm khác. Đây là một trong các lý do chính yếu khiến người Công giáo ở nhiều nước rời bỏ Giáo hội mình.

Thêm vào đó, cũng nên coi lại việc giáo dục niềm tin của Công giáo, quan trọng là giúp mọi người mình lớn mạnh trong đời sống thực sự đạo đức sốt sắng trong việc kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu Kitô. Có nghĩa là: ta không chỉ ngồi đó đọc đủ mọi kinh là xong, nhưng nếu ta có quan hệ mật thiết với Chúa, sẽ thấy mình ít bị lôi cuốn về với nhóm khác.

Ngoài ra, mỗi người phải tự thấy có nhu cầu học hỏi Kinh thánh tại nhà thờ. Cảm ơn Chúa, mọi người nay đều thấy càng ngày càng có nhiều tín hữu Công giáo chịu học hỏi Kinh thánh vào những năm gần đây. Tuy nhiên, ta vẫn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa.

Riêng các giáo xứ  hoặc cộng đoàn Công giáo mình, có lẽ cũng nên tỏ ra có động thái chào mừng và tạo tinh thần huynh đệ, nhiều hơn nữa. Ngày nay, đã thấy nhiều giáo xứ và giáo đoàn đang làm như thế để lôi cuốn người không Công giáo và thôi thúc người Công giáo mình tham gia vào công tác tích cực như thế. Có vậy, mới không lấy làm lạ khi được hỏi rằng: tại sao các Kitô hữu thuộc giáo hội bạn làm tốt hơn ta, trong việc này.

Trên thực tế, cũng nên để ý nhiều hơn nữa về sinh hoạt phụng vụ để có thể làm tốt. Chẳng hạn như: ca đoàn thuộc giáo xứ cố gắng hát cho thật tâm tình hoặc vị giảng thuyết cố dọn bài chia sẻ cho hấp dẫn có như thế mới gia tăng lực hút khích lệ người người đến tham dự Tiệc Thánh nhiều hơn thêm. Cũng may là, Giáo hội ta vẫn còn có thánh lễ như một Giao Ước mới vẫn được cử hành liên tục từ các thế kỷ đầu, và có đủ các bài Sách Thánh, lời nguyện Thánh Thể và nhất là có rước Mình Máu Chúa. Trong khi đó, nhóm Thánh Kinh không có những sinh hoạt như thế. Dù họ có hát hò sinh động, hấp dẫn mấy đi nữa nhưng vẫn không diễn tả trọn vẹn sự hy sinh cao cả mà Đức Kitô đã trối trăn cho Hội thánh. Về chuyện này, ai cũng thấy là các nhóm như thế vẫn thấy thiếu thiếu.

Cuối cùng, cũng nên khuyến khích giới trẻ tham gia vào các nhóm hoặc tổ chức trẻ trung để giúp các em lớn mạnh trong niềm tin và có như thế, họ mới thực sự trở thành người Công giáo thực sự có quyết tâm hơn.

Và, để đem những người Công giáo đã bỏ rời Đạo trở về với cộng đoàn, cũng nên liên lỉ nguyện cầu cho họ. Đồng thời, tham gia trò chuyện để thông cảm và nhẹ nhàng lắng nghe ý kiến của họ ngõ hầu lẳng lặng giúp họ thấy được là họ đã bỏ lỡ nhiều sự. Đồng thời, trấn an họ rằng ta vẫn thương yêu và kính trọng họ, luôn mãi.” (x. John Flader, bđd)

            Nghe đấng bậc tỏ bày bí kíp rất đẹp để đem chiên lạc trở về ràn chiên cũ, bần đạo thấy quen quen và nhớ lại lần nào đó cũng thấy có lời nhắn và nhủ của thánh nhân hiền lành, thời xưa cũ, cứ dặn rằng:

                                    “Anh hãy nhắn nhủ ai nấy phải phục tùng tuân lệnh người cai quản,
sẵn sàng tra tay vào mọi việc tốt lành,
đừng thoá mạ, hiếu chiến,
nhưng hãy khoan dung hiền từ với mọi người
Vì cả ta nữa xưa cũng ngu xuẩn, bất phục, lầm lạc,
lệ thuộc đủ thứ đam mê và khoái lạc,
sống trong gian ác, ghen tương, khả ố,
đố kỵ lẫn nhau.”
                                    (Titô 3: 1-3)    
             
            Nghe theo lời nhắn nhủ của thánh nhân tông đồ rất Phaolô, các đấng bậc nhà mình cũng từng có các nhận định rất tích cực, như lời xác nhận của Lm Chân Tín cách nay hơn năm thập niên:

“Hơn bao giờ hết, Giáo hội khao khát sự hiệp nhất của các Kitô hữu cũng như của tất cả mọi người trên thế giới, để ơn cứu độ của Chúa Kitô đến với toàn thể nhân loại, cách dồi dào hơn. Nhưng muốn hiệp nhất, điều kiện tiên quyết là Giáo hội phải đối thoại với mọi người không trừ một ai. Đó là điểm mà Đức Phaolô VI nhấn mạnh trong thông điệp đầu tay của ngài: “Giáo hội phải sẵn sàng giao lưu đối thoại với hết mọi người thiện chí, không phân biệt là người ở trong hay ở ngoài Giáo hội. Không người nào là xa lạ với tâm can của Giáo hội. Không người nào lại bị Giáo hội lãnh đạm. Đối với Giáo hội, không có ai là kẻ thù, trừ phi chính họ muốn như vậy. Không phải vô cớ mà Giáo hội xưng mình là Công giáo, không phải vô cớ mà Giáo hội được trao trọng trách cổ võ sự hoà hiệp nhất, tình thương yêu và hoà bình, trên thế giới…” (x. Lm Chân Tín, Luồng Gíó Mới, Tin Paris 2000, tr. 111)

            Xem như thế, thì cũng nên đối thoại chứ không nên phân biệt dù nhóm hội nào đó có chủ trương phổ biến Tin Mừng/Kinh Thánh qua mọi hình thức, từ  những thức những dạng như hát hò, nhún nhảy hoặc chuyên chăm học hỏi Thánh Kinh, cho đến gặp gỡ, đỡ đần nhau trong mọi lúc như bất cứ nhóm hội này khác, ngoài Công Giáo. Nói cho cùng, Công giáo là nhóm từ chỉ rõ tính chất Đạo rất chung cùng, hiệp nhất, vẫn thân quen như bao giờ.

            Cũng trong cùng một chiều hướng rất tư tưởng như thế, một đấng bậc khác xưa kia là đấng bậc, rất thày dạy trổi trang, từng có lập trường cũng lớp lang, như sau:

“Kitô hữu là Kitô-hữu không phải để buồn sầu nhưng để vui lên. Đức Kitô là Chúa trên thập giá nhưng lại là Chúa Niềm Vui. Ngài không xuất hiện như chim báo bão. Ngài không hề là chuyên viên nói gở. Trái lại, tất cả những gì Ngài đem lại cho đời, tất cả những gì Ngài nói với đời đều được tóm cả trong hai chữ: Tin Mừng. Ngài đã chỉ sống để Niềm Vui được công bố, loan báo. Từ lời truyền tin của Thiên sứ Gabriel, từ tiếng ca của thiên thần, thiên binh trong đêm Bêlem cho đến tiếng nói của người thanh niên áo trắng ngồi đợi trong mồ đá. Ngài công bố Niềm Vui của Thiên Chúa: “Trên trời sẽ có vui mừng vì một người tội lỗi hối cải, hơn là vì chính mươi chín người công chính…” Lc 15: 6 và Mt 18: 3)

Và Niềm Vui cho con người: Phúc cho kẻ có tinh thần khó nghèo. Phúc cho kẻ hiền lành, Phúc cho kẻ ưu phiền, Phúc cho kẻ đói khát công chính, Phúc cho kẻ biết thương xót, Phúc cho kẻ tinh sạch trong lòng, Phúc cho kẻ tác tạo hoà bình, Phúc cho kẻ bị bắt bớ. Những Phúc và Phúc, không biết bao nhiêu là Niềm Vui. Cũng cứ là những Niềm-Vui-Tuy-Vậy. Vẫn cứ tuy vậy “hãy vui sướng và hân hoan” (Mt 5: 1-12). (x. Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, Cơ sở Hy vọng 2002, tr. 175)

            Thế mới biết, Kitô giáo vốn là Đạo của Niềm Vui Chúa-xuống-trần-làm-người để người người được vui chung. Dù, người đó có là Công giáo hoặc nhóm Thánh Kinh, Nhân Chứng Đức Giê-hô-va hoặc Đạo Hồ, Anh giáo, rất Kitô. 

            Thế mới rõ, cụm từ “Kitô” dù đính kèm chữ “hữu” hay chữ “giáo” đi nữa, vẫn cứ là Niềm-Vui –Tuy-Vậy. Niềm Vui đến với mọi người, để mọi người sẽ mãi vui. Bần đạo biết một số bạn đạo vẫn rất vui khi đặt các vấn đề tương tự trong các buổi hội thảo ở đây đó, đã tỏ bày một ý kiến rất khác biệt với kiến ý ở trên, nên đã mượn lời củ đấng bậc để hỗ trợ lập trường của mình mà nói:

“Kitô giáo nhất thiết là con đường dẫn tới sự trọn lành, bằng cách học hỏi cung cách diễn bày tình thương yêu của Chúa đối với mọi người qua phong cách ta hành xử với người khác. Đối với các bậc hiển thánh như thánh nữ Mary MacKillop, thì sự trọn lành là như thói quen bén rễ sâu được gieo cấy để xảy đến một cách rất tự nhiên ngang qua lời nói và hành động. Muốn dấn bước theo chân các thánh hiển vinh, có lẽ ta cũng nên học đòi bắt chước mà hành xử hoặc có được những quyết định đúng đắn trong việc ăn ở rất trọn lành.” (x. Lm Andrew Hamilton sj, The Importance of being good, Aaustralian Catholics Summer edition 2012, tr. 17)

            Nói như đấng bậc vừa trích dẫn, thì khi nói đến Kitô giáo, đâu chỉ mỗi Công giáo mình là “trọn lành” trong mọi chuyện, cả chuyện hành xử, phụng tự cũng như sống thánh thiện như các thánh. Mà là, các giáo phái nói chung cùng Đạo Chúa. Nói về Hội thánh rất Công giáo, có lẽ cũng nên trích dẫn thêm ý kiến của một đấng bậc khác cũng ở Úc, cho quân bình một xác định:

“Khi nhấn mạnh cụm từ “sống trọn lành”, Hội thánh của ta thường hay tỏ ra quá tốt lành để tin rằng mình vẫn tin tưởng vào chuyện ấy. Và, khi nhấn mạnh đến những sự việc không mấy tốt lành, ta lại ra khỏi sự quân bình theo tỷ lệ bằng những sự thể rất khó tin. Nói nôm na là nói thế này: Hội thánh Công giáo của ta dễ có khuynh hướng bị lối cuốn vào động thái cứ coi mình và sứ điệp mình chuyển tải luôn “ở bên trên”. Trên mọi sự. Trên mọi giáo phái khác và nhất là ở trên mọi người. Theo thiển nghĩ, đây cũng là một trong các lý do cho biết tại sao có nhiều người vẫn thấy khó lòng tin Hội thánh Công giáo!
                                   
Nếu đôi lúc bạn có những thắc mắc tựa như thế, đừng cho rằng mình đang để mất đức tin, mà chỉ là sống rất thực tình, và thực tế. Vào thời gian gần đây, chúng ta từng tạo nên tình huống mà một số người gọi là sự khác biệt rất thất thường của Kitô giáo… Ta thường đề cao quá mức những chuyện tích cực và lại nhấn mạnh cũng quá mức những điều tiêu cực. Nói cách khác, ta thường hay quá lời vì mục đích gọi là bán vé đại hạ giá với nhiều lợi nhuận để đưa mọi người vào với giáo hội hơn là đưa vào với chính mình, với thế giới thực tiễn mình đang sống…

Thật tội nghiệp. Kitô giáo thật ra cũng giản đơn. Vào thời buổi con người tôn kính phụng thờ hoàng đế và nền hoà-bình-ngang-qua-chiến-thắng (hoặc chiến thắng đặt lên trên những đáp trả của cử toạ), thì Kitô giáo là sự sống có nền công lý bất bạo động cho những người đau khổ vì một xã hội rất hệ thống như hôm nay… Kitô giáo đích thực chỉ có ý nghĩa nếu Đạo Chúa thực tình giúp đỡ những người con bé nhỏ biết yêu thương bất chấp mọi cuộc chơi quyền lực đem đến cho họ.” (x. Lm Kevin O’Shea CSsR, Overpowering people, an interesting temptation, Sunday meditation for 1st Sunday of Lent 2009)

            Trích dẫn, là trích và dẫn lập trường cũ/mới, rất như thế. Trích và dẫn, không có nghĩa biện luận xem ai đúng ai sai, mà chỉ để xem hiện thời mình chọn lập trường nào để sống cho đúng cách, sống thích hợp với con người của chính mình. Chỉ thế thôi. Trích và dẫn lập trường về triết cũng như thần, là như thế. Còn lại, vẫn là thái độ của mỗi người và mọi người. Bần đạo tuy trích dẫn nhưng vẫn có thói quen rất xấu xí là cứ hay trở về với thơ văn/truyện kể để thư giãn tâm hồn trước khi chọn lựa thái độ sống rất Kitô. 

            Và hôm nay, bần đạo lại bắt gặp một truyện rất nhẹ, vẫn cứ kể:

                                    “Rằng:
Ngày xưa, vị đại sư nọ muốn chọn một đệ tử làm người kế nghiệp của ông, bèn gọi hai đệ tử mình lại và bảo:
-Các con hãy ra ngoài và chọn về đây cho thày chiếc lá nào đẹp nhất, hoàn hảo nhất, chưa từng thấy…
Hai đệ tử bèn vâng lời thày đi tìm chiếc là hoàn mỹ nhất trên thế gian. Thoáng chốc, người đệ tử lớn quay về trình cho đại sư một chiếc lá không được đẹp cho lắm nên bèn thưa: 
-Thưa thày, chiếc lá này tuy không phải là hoàn mỹ nhất trên thế gian, nhưng nó là chiếc lá đẹp nhất con chưa từng thấy.
Người đệ tử kia đi cả ngày trời quay về với hai bàn tay trắng, nhưng vẫn bình tĩnh thưa với đại sư:
-Thưa thày con đây cũng tìm thấy nhiều lá rất đẹp, nhưng con lại không chắc được chiếc nào là chiếc lá hoàn mỹ nhất trên thế gian.
Nghe vậy, vị đại sư bèn chọn đệ tử đầu rồi nói:
-Khi chọn chiếc lá hoàn mỹ nhất, ta vẫn cứ nghĩ đến cái-gọi-là hoàn mỹ nhất, nhưng nếu các con cứ nhất quyết đi tìm mà không nhìn vào thực tế, không so sánh với thực tại trần gian để rồi mải mê vất vả mà chẳng được gì. Đến ngày nào đó phát hiện ra rằng: vì mải mê tìm chiếc lá hoàn mỹ hoặc bất cứ thứ gì hoàn hảo trên thế gian rồi bỏ qua bao nhiêu là cơ hội để làm những việc có lợi cho thế gian, thì cũng là điều đáng tiếc. Nói cho cùng, tìm cho kỹ cũng sẽ thấy các thứ hoàn mỹ trên thế gian này cũng chẳng có được là bao nhiêu đâu… Bởi thế nên, hãy đi vào cuộc đời mà tìm kiếm những gì thực tế một chút, sẽ thấy ngay…”

            Truyện kể về vị đại sư và hai đệ tử tìm kiếm chiếc lá hoặc những gì hoàn mỹ trên thế gian, làm bần đạo nghĩ rằng: trong cuộc sống, người người cũng chẳng nên đeo đuổi những thứ mà mình cho là hoàn mỹ, hoàn thiện hơn thứ khác, kể cả lập trường/đường lối sống của ai đó, nhóm hội nào dù rất thánh, cũng chẳng nên. Chi bằng, cứ bình tâm trầm lặng mà vui hưởng những gì mình tìm được hoặc đang có, thế mới đúng. 

Nghĩ thế rồi, bần đạo bèn tiến lên đề nghị anh em mình hát đôi câu nhè nhẹ, để chấm hết, rằng:

                                                “Ôi! cung đàn réo vang đêm trường,
Dây tơ gào gió đê mê lòng,
Lệ trào vì đâu? Bao tình tế tái,
Nương đàn gió bay tìm ánh trăng sao.”
(Nguyễn Mỹ Ca/Hoàng Mai Lưu)         

            Vẫn cứ “Nương đàn gió” để “tìm ánh trăng sao” thế nào rồi cũng thấy và cũng gặp. Gặp người, gặp mình, trong thanh vắng có “gió gây hương nhớ” . Nhớ tiếng đàn xa xưa của một “Dạ Khúc”, rất nên thơ. Ý nhị. Nhiều vương vấn.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Cứ vương vấn mãi
            với lời khuyên:
Hãy cứ sống khoan dung hiền từ
với mọi người, trong đời.  
          
        
   
           

                                                
   
   
  
  


Saturday, 3 March 2012

“Em ơi, mỗi chiều cuộc đời mỗi xiêu,”


Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 3 Mùa Chay năm B 11.03.2012

“Em ơi, mỗi chiều cuộc đời mỗi xiêu,”
“Nhưng em mỹ miều, lòng ta cứ yêu.
Này ta dệt chiếu, chờ em yêu kiều,
Này ta dệt gấm, mời em sang nằm .”
(Quốc Bảo – Bài Tình Cho Giai Nhân)
(1 Ga 3: 11, 14-15)
 
Chỉ nghe lời này thôi, hẳn người người đều nghĩ: người “em mỹ miều” hát ở đây: là giai nhân cho anh thân mật. Nhưng nếu nghe lời dặn ở dưới, chắc bạn và tôi hẳn sẽ không còn hỏi: người em mình là ai? Người anh mình ở mãi đâu? Nơi nào? Như thánh nhân nhà Đạo lại đã bảo:

                        “Quả thế,
đây là lời loan báo:
anh em nghe từ lúc khởi đầu:
chúng ta hãy yêu thương nhau.”
                                    (1Ga 3: 11b)

            Và thêm nữa, một lời hứa cùng nhận định:

                                    “Chúng ta biết rằng:
chúng ta đã từ cõi chết bước vào sự sống,
vì chúng ta yêu thương anh em!
Kẻ không yêu thương, sẽ ở lại trong sự chết.
Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân.
Và anh em biết: không một sát nhân nào
có được sự sống đời đời ở trong nó. “
(1 Ga 3: 14-16)

            Nhận định hoặc hứa hẹn về cuộc đời của con người, không là chuyện chém giết như anh em nhà Abel & Cain nói ở trên. Cũng chẳng là lời ca hôm nào gồm những giết và giết: “giết người đi! giết người trong mộng đã bội thề..” Nhưng lại là lời khuyên rất tận tình khiến bọn mình, dù có Đạo hay không, vẫn cứ yêu thương nhau như anh em, một nhà. Lời nhắn hôm ấy, còn như lời tự nhủ khi xưa nghệ sĩ hát:

                                    “Em rất buồn mà tình cứ ươm,
                                    Thân ta đã buồn, mà lòng vẫn son.
                                    Con trăng rất tròn, dù lòng héo hon,
                                    Thương vẫn trọn, chẳng oán không hờn.”
                                    (Quốc Bảo – bđd)

            Nhạc tình ở ngoài đời, thời vẫn thế. Cuộc tình người ở với đời, vẫn cứ gồm những nhạc bản, không phải vậy nên vẫn buồn! Buồn một nỗi, cuộc đời mình nay không chỉ thấy mỗi lời ca diễn tả chuyện “Thương vẫn trọn, chẳng oán không hờn”, mà là: “Thân ta đã buồn, mà lòng vẫn son..” Và: “Con trăng rất tròn, dù lòng héo hon…”

            Trăng hôm nay, không chỉ ở tròn tròn và gọn lỏn ở trên trời cứ đeo đuổi loài người để chiếu ánh sáng vui. Nhưng, “con trăng” còn là ánh sáng lung linh/héo hắt, vẫn chiếu dọi cung lòng người con người em, cùng cháu chắt nay có vấn đề thê lương, nghê thường, buồn bã. 

            Chuyện thê lương, nghê thường chốn ngày buồn, là chuyện xảy đến với đàn em “mỹ miều”, “lòng ta cứ yêu” không kịp cản ngăn ở phố chợ.  Nơi phố chợ đường đời hôm nay, có những điều xem ra rất đáng sợ. Sợ đến độ, các đấng bậc có trọng trách những cương thường và đạo đức đều chắc phải lên tiếng để người người cảnh tỉnh và bận tâm.

            Nói “bận tâm”, chẳng qua là để nhấn mạnh về sự thể đang xảy đến với dân con ở huyện bên nước bạn, hoặc đâu đó. Chuyện cần bận tâm bàn luận, vẫn là chuyện mang tính khẩn thiết/gấp rút, rất như sau:
                       
“Qua điều tra/tìm hiểu, Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ vừa cho biết: hiện thời nạn buôn nô lệ tình dục đã trở thành kỹ nghệ tăng nhanh vào hạng nhì, chỉ sau có mỗi kỹ nghệ buôn bán ma tuý mà thôi. Tuy nhiên, tính cách nghiêm trọng và nguy cập của sự việc, là: nội kỹ nghệ này thôi, nếu tính bình quân đã thấy phân nửa số nạn nhân đành “chịu trận” là con trẻ. Cụ thể thì, trong tổng số 2,215 vụ việc phát hiện năm 2010 ở Mỹ, đã thấy hơn 1,000 con trẻ là nạn nhân.                   

Cơ quan Liên Hiệp Quốc có chức năng, ước tính rằng kỹ nghệ buôn bán con trẻ làm nô lệ tình dục hoặc lao động trên thế giới nay đem lại cho các tay buôn số lợi nhuận lên đến 32 tỷ Mỹ kim. Phân nửa số tiền này, hầu hết đến từ nước kỹ nghệ hoá, thấy rất rõ.” (xem Carolyn Monihan, Enslavement of children, right under our noses, MercatorNet.com 03/02/2012)

            Ở các trường hợp tương tự, chừng như truyền thông/báo chí chẳng thiết tha gì chuyện “khẩn báo” để quần chúng biết mà thay đổi, như trường hợp ấu dâm/xâm phạm tiết hạnh trẻ nhỏ do một số linh mục Công giáo từng mắc phải. Thi thoảng, mới thấy đôi vị tìm cách tiếp cận báo đài như tác giả Nicholas Kristoff từng có bài viết trên Nữu Ước Thời Báo luận bàn về tệ trạng buôn trẻ nhỏ ở tuổi vị thành niên để bán sang các nước quanh vùng Đông Nam Châu Á, như Thái Lan để bắt trẻ phục vụ tình dục cho kẻ mua dâm.  

            Đáng sợ hơn, chuyện thấy rất rõ là: chiều hướng này ngày một gia tăng không thua gì nạn buôn bán ma tuý ở nhiều nơi trên thế giới. Buôn trẻ nhỏ, một phần là do nhu cầu của những kẻ no cơm ấm cật rậm rật mọi nơi được phim ảnh/quảng cáo kích bốc lên mà dỗ dụ. Một yếu tố khác không kém phần quan trọng từng dung túng tệ trạng này, là: một số quốc gia ở trời Tây nay vẫn nhẹ tay với kỹ nghệ này. Người dân ở các nước có nền luật pháp nới lỏng mọi chuyện, vẫn nhẹ tay coi đó là chuyện hợp pháp hầu giải quyết tình trạng thất nghiệp hoặc nhân dụng. Nên, gọi đó trò bịp bợm/lừa đảo kẻ lành/người ngay, cũng không sai.

            Bởi vậy, nghệ sĩ nhà mình chừng như rất chán ngán nên mới có câu ca tiếng hát rất như sau:

                                    “Chân em rất dài, thị thành ngất ngây,
                                    Vai em rất đầy, ngủ vùi tóc mây.
                                    À ơi ngọt tiếng gọi Xuân trăm miền,
                                    À ơi đời úa, cần em sang mùa.
                                    Ai lên đường thả tình bốn phương,
                                    Ới ai vô thường lòng ai khó lường,
                                    Lòng ai trễ muộn…”
                                    (Quốc Bảo – bđd)

            Thật ra, được mấy ai “vô thường” “lòng ai khó lường” mà ới gọi? Thật sự, dù có ới và có gọi rất nhiều lần, đã chắc gì có người mạnh dạn ra tay cứu vớt? Có chăng, lại thấy những người cứ bảo: việc này vẫn tràn lan ở đâu đó, nền văn minh/văn hoá cứ coi nhẹ đàn bà và con trẻ. Lại nhiều nước, vẫn cứ vì lợi ích chính trị, đảng phái nên đã gạt sang một bên, chuyện nhân quyền hay dân quyền để rồi dồn mọi người vào chỗ bế tắc, rất khó chữa. 

Laị nữa, nhiều bế tắc ở địa hạt di dân bất hợp pháp, lại cũng tiếp tay cho tệ nạn này bằng các dịch vụ xuất khẩu lao động để trả nợ, hoặc kiếm sống. Thôi thì, đủ mọi tệ nạn đang nở rộ khắp dân gian, bất kể nạn nhân trong cuộc có ra sao, hoặc thế nào cũng “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”, thôi.

            Nhiều trường hợp, người bàng quan không những chẳng bận tâm đến những chuyện không liên quan đến riêng mình, lại còn đổ vạ cho hậu quả do sự việc cha mẹ ly thân/ly dị, rất khó xử. Một điều tra/nghiên cứu mới đây còn cho biết: ly dị, là thủ phạm gây ra những tai hại khó lường cho toàn thể gia đình, đặc biệt hơn cả là trẻ em. 

Theo Patrick F. Fagan và Aaron Churchill thuộc Ban Khảo Sát Nghiên Cứu Gia Đình thuộc Viện Nghiên Cứu về Tôn Giáo và Gia Đình ở Mỹ, còn chủ trương cho rằng: Chính ly dị đã vùi sâu đám trẻ nhỏ xuống bùn đen mà chúng không tài nào ngóc đầu lên được. Theo họ, chuyện ly thân/ly dị vô hình chung đã làm giảm thiểu khả năng có được tương lai trong sáng nơi con trẻ. Đặc biệt hơn cả, là ở năm địa hạt chức năng quan trọng trong xã hội, như: gia đình, trường học, đạo giáo, thị trường và chính quyền.

Bằng ngôn từ đầy đổ vấy, bản tường trình của nhóm nghiên cứu còn nói rõ:
           
“Chuyện ly dị thường kéo theo những vỡ đổ trong cung cách giải quyết mọi xung đột, giảm thiểu chức năng xã hội của con cái và với con trẻ, nó còn làm cho bé gái mất đi rất sớm trinh tiết quý báu, cũng như làm suy sụp tính nam nhi đầy chí khí hoặc tính dịu dàng của phụ nữ nơi đám trẻ mới trưởng thành. Việc ấy còn kéo theo hậu quả rắc rối trong việc hẹn hò nam nữ, cùng nhau chung sống hoặc làm việc; con trẻ lớn lên càng có khuynh hướng lại cũng ly thân/ly dị như cha mẹ, trong cuộc đời về sau.” (xem thêm William West, How Divorce ruins children’s lives, MercatorNet.com 31/01/2012)

            Cũng có thể, sự thể ở đời không hẳn là như thế. Không như thế, tức: chưa đã bi quan, bi đát và bi thảm đến độ ấy. Không như thế, còn có thể là khác thế, hoặc không đến nỗi tệ, như vừa kể. Cũng có thể, có vị còn đi xa hơn với quan niệm rất bi thiết đối với phần đông các vị thức giả, ở ngoài đời.
            Cũng có khi, vì một lý do nào đó rất khó biết, nhiều vị còn tỏ bày lý do tuy đơn giản nhưng khó chấp nhận, như quan niệm của Kirsty Young người Tô Cách Lan dám tuyên bố rằng cô chẳng muốn con cái mình được hạnh phúc, lý do là bởi, theo ý cô, “Cuộc đời con người quá ư là phức tạp ngày càng phức tạp hơn khi nào hết.”  Để mọi người hiểu rõ điều cô muốn nói, cô còn biểu tỏ:

“Tôi chẳng hề muốn con cháu mình được hạnh phúc. Đơn giản chỉ vì, chúng đã quá may trong mọi chuyện rồi, nay lại còn muốn có thêm hạnh phúc nữa, thì làm sao mà toại nguyện được! Thật tình, tôi chỉ muốn cho chúng lúc nào cũng hài lòng với hiện tại, với những gì chúng đang có và có được những gì mình xứng đáng để có, thôi.” (x. Carolyn Monihan, Should we desire happiness for our Children, MercatorNet.com 01/02/2012)

            Nếu chỉ nói có thế, thì hiển nhiên chẳng có gì liên quan đến tình trạng thống khổ của con trẻ trên thế giới, rất hiện thời. Thế nhưng, theo nhận xét của tác giả bài báo nói trên, thì: sở dĩ Kirsty Young nói thế, là để phản ứng lại nỗi ám ảnh của hầu hết người dân Anh sau quyết định của chính quyền David Cameron sẽ để ra 1.5 triệu Sterling để nghiên cứu khảo sát xem người dân Anh hiện có hài lòng với đời sống của họ hiện thời không. 

            Thế đó, là chuyện ngoài đời. Thế thì, chuyện trong Đạo sẽ ra sao? 

            Nhắc chuyện Đạo, thường là nhắc dân con đi Đạo nhờ về với  Lời Vàng Chúa vẫn dạy, ở Tin Mừng. Còn nhớ, bàng bạc trong trong Tin Mừng Nhất Lãm, các tác giả vẫn diễn tả cuộc sống của Hội thánh thời ban sơ thế kỷ đầu, có những câu, những lời khiến người người để giờ ra mà suy tư với suy nghĩ. Suy và nghĩ, những khuyên răn hoặc lập trường rất để đời như sau:

“Kẻ nào nên cớ vấp phạm cho trẻ nhỏ đã tin vào Ta
thì thà nó bị khoanh cối lừa kéo treo cổ
và nhận chìm đáy biển còn hơn.”
(Mt 18: 6)

            Như thế, hiện thời trên thế giới, người ta không chỉ nên cớ vấp phạm cho trẻ nhỏ, mà thôi; nhưng đã và đang giết chết các trẻ nhỏ -tức con em hoặc cháu chắt trong nhà Chúa, tức Nước Trời-  chỉ vì tiền hoặc do dục vọng đang kích bốc. 

            Chừng như con người ngày nay không còn sợ cảnh “khoanh cối lừa kéo treo cổ, mà thả biển” nữa mất rồi. Bởi, luật pháp ngoài đời, làm gì còn cho phép thi hành các biện pháp trừng trị, vì phạm luật dễ sợ đến là thế!

            Thế nhưng, nghệ sĩ xưa là những người vẫn “vơ vẩn cùng mây”, lại cứ ngất ngây những ca từ, như:

                        “Em rất mềm, dậy nghìn sóng lên.
                        Em trông rất hiền, lòng sao chóng quên.
                        Con trăng tiếc em, ngày rằm réo tên.
                        Con trăng đã hẹn, ngàn kiếp cũng đền.”
                        (Quốc Bảo – bđd)

            Thật ra thì, hát là hát thế. Chứ nghệ sĩ nào dám bảo “Con trăng đã hẹn, ngàn kiếp cũng đền!” . Bởi, bé em từng là nạn nhân của những mua bán dục tình, đầy nô lệ rồi thì làm sao còn đền được, chứ. Có đền chăng, chỉ là đền vào kiếp sau, khi đã tu ngàn kiếp với trăng sao thôi.

            Thật ra, đây cũng chẳng là quan niệm/lập trường của riêng ai. Mà, chỉ là những trộm nghĩ của bạn đạo ngồi buồn phiếm cảnh, phiếm tình vẫn lình xình, nhiều luận cứ. Luận gì thì luận. Phiếm gì thì phiếm. Phiềm hoài phiếm mãi cũng thấm mệt. Chi bằng, về với “ao ta” mà thư giãn, với thả lòng bằng những truyện kể, như sau:

                        “Truyện trao đổi giữa Bút Chì và Cục Tẩy, như Mẹ và Con:
Bút chì: Con xin lỗi!
Cục tẩy: Vì cái gì thế, con yêu? Con có làm gì có lỗi đâu.
Bút chì: Con xin lỗi vì mẹ phải chịu đau đớn vì con. Bất cứ khi nào, con phạm phải sai lầm, mẹ lại luôn ở đó sửa sai giúp con. Nhưng khi mẹ làm điều đó, mẹ lại làm hại chính mình. Cứ mỗi lần như thế, mẹ lại ngày càng bé hơn.
Cục tẩy: Điều đó đúng! Nhưng bé ơi, mẹ chẳng phiền đâu. Con nhìn xem, mẹ được sinh ra để làm việc này mà. Mẹ được sinh ra để giúp con bất cứ khi nào con phạm phải sai lầm. Mặc dù mẹ biết ngày nào đó mẹ sẽ mất đi và con sẽ thay thế mẹ bằng người khác nhưng mẹ vẫn rất vui với những gì mẹ đã làm. Vậy nên, đừng lo lắng nữa nha! Mẹ ghét nhìn thấy con buồn lắm.
Tôi đã tìm thấy mẫu đối thoại nhiều xúc cảm này giữa cây Bút chì và Cục tẩy. Cha mẹ cũng giống như Cục tẩy này vậy và ngược lại con cái là những cây Bút chì. Họ luôn có mặt vì bọn trẻ và sửa chữa những sai lầm của chúng. Thỉnh thoảng vì điều đó, họ phải chịu đau đớn, họ trở nên "bé" đi (già đi và thậm chí chết đi). Và dù cho bọn trẻ rồi sẽ tìm thấy một ai đó khác thay thế (vợ/chồng) cha mẹ vẫn rất hạnh phúc vì những gì họ đã làm cho con cái mình, hiển nhiên rất ghét phải nhìn thấy những báu vật quý giá của họ lo lắng hay phiền muộn.
"Suốt cuộc đời mình, tôi đã luôn là cây bút chì. Và điều đó làm tôi đau đớn khi nhìn thấy những cục tẩy - ba mẹ mình - lại bé đi mỗi ngày. Vì tôi biết một ngày nào đó, còn lại với tôi chỉ là những vụn tẩy và những kỷ niệm tôi có với họ."

            Nghe truyện “nhân-cách-hoá” kể ở trên, có thể bạn và tôi, ta thấy rằng truyện kể không liên quan nhiều lắm với vấn đề bàn ở đây. Nhưng, người kể truyện nay thêm một lời bàn, rằng: người người chỉ lo toan chuyện kinh doanh buôn bán trong cuộc đời, dù tốt xấu. Mọi sự xấu trên đời như thể chuyện “buôn con trẻ để chúng làm nô lệ tình dục, hoặc lao động”, cũng là chuyện không nên để nó tiếp tục xảy đến mà không tìm cách ngăn chặn, ngay lúc mình còn sống. 

Kể truyện xong, nay mời bạn và mời tôi, ta hát thêm đôi câu như lời bàn cho bài phiếm, mà rằng:

                        “Ơi em mát rượi, đẹp màu lụa tươi
                        Mong em nói cười, nhẹ nhàng thảnh thơi..”
                        (Quốc Bảo – bđd)

            Nghe được tiếng nói/giọng cười của người em nhỏ, ở đâu đó rồi hẳn bạn và tôi rồi cũng sẽ nhận ra rằng: bao lâu còn có tiếng cười của bọn trẻ nhỏ, lúc đó ta vẫn còn lý do để sống nhanh, sống mạnh, sống xứng hợp với bọn nhỏ. Cho bọn trẻ khắp nơi. Mọi thời. Như bây giờ.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Cứ luôn phiếm và vẫn luận
            để mong tìm thấy giọng cười nơi bọn trẻ         
rất tươi vui. Đầm ấm.