Saturday, 7 August 2010

“Ngày em thắp sao trời”

Chờ trăng gió lên khơi

(Lê Uyên và Phương – Dạ Khúc Cho Tình Nhân)

(Cv 23: 1)

Rất nhiều lần, người anh em rất trẻ trong hàng ngũ linh mục, ở nhà Đạo, từng nhắn nhủ với bần đạo, rằng: lần sau anh có viết và có lách, có trích dẫn các nhạc tình làm bình phong, xin hãy trích cho em bài gì đó của Lê Uyên Phương. Bài, có ca từ như “thắp sao trời”, “mưa gió tơi bời”. Lên khơi. Hay gì đó. Rất trữ tình.

Nghe bạn nhủ, bần đạo nghĩ mãi không ra, ba đầu đề nhạc bản, làm dẫn nhập. Bần đạo tuy thích nhạc của đôi uyên ương, rất Uyên Phương này, nhưng vẫn không tài nào nhớ nổi bài có câu hát, ở trên. May thay. Trong một lần nghe biết ưu tư da diết của bần đạo, bạn trẻ nọ bèn mách nước bảo: đó là “Dạ Khúc Cho Tình Nhân”, đấy anh ơi. Thế là, như bắt được vàng, bần đạo bèn chui ngay vào Google.com, tìm ra ngay lời ca vũ bão. Mưa sa. Của nhạc bản, có ý/từ đầy hứng thú, như sau:

“Mà mưa bão tơi bời

Một ngày mưa bão không rời.

Trên đôi vai thanh xuân

Ướp hôn nồng bên gối đắm say

Ánh sao trời theo gió rụng rơi... đầy.”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Lại mới đây, cũng có người bạn trên đời, lại cũng gởi cho bần đạo, những lời ca ý nhạc khác về cặp uyên ương nói ở trên, như sau:

“…Những năm đầu thập kỷ 1970, từ Đà Lạt vào Sài Gòn, Lê Uyên và Phương đã đem một luồng gió mới đến với âm nhạc. Trong những năm khốc liệt nhất của cuộc chiến Việt Nam, Lê Uyên và Phương, với những ca khúc nồng nàn, khắc khoải đôi khi bàng bạc, triết lý đã được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt…

So với nhạc tình của các bậc trưởng lão khác như Trịnh, Văn Cao, Phạm Duy, nhạc tình của Lê Uyên Phương không chỉ còn là tình si mà là tình điên, âm nhạc của Lê Uyên Phương không những gợi cảm từ ca từ mà cả cách biểu diễn với giọng hát của hai người cứ quyện lấy nhau. Chỉ có trong nhạc của Lê Uyên Phương mới có cái cảnh đôi tình nhân rã rời sau khi xoắn xít vào nhau…” (Phạm Duy: Hồi Ký )

Thế đó, là lời bình. Bình nhạc. Bình thơ. Hay, bình văn. Vẫn cứ là lời bình rất an. Hay, lời an vui cũng rất bình. Về người mình. Tức, người yêu nhạc. Yêu thơ. Một đời người. Đời người, còn những người đời cũng biết yêu thơ, yêu nhạc, lại yêu văn. Như, lời văn rất bình và rất luận của một bạn trẻ ở nhà, đã có lời bình văn, băn khoăn nhiều suy nghĩ, như sau:

“Trong dịp tuyển sinh đại học năm 2004, giám khảo nọ bắt chộp được đoạn bình luận văn thơ nộp thi vào Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Thành Phố, như sau:

1. Bác Hồ là một hột giống tốt cần được bảo quản.

2. Bài thơ “Chiều Tối” của Bác Hồ làm ta nhớ đến câu thơ của Nguyễn Du “Chim hôm thoi thóp về rừng”, hay câu: “Ngàn năm gió cuốn chim bay mỏi” của Bà Huyện Thanh Quan. Nhưng so sánh ta thấy rõ chim Bác Hồ khác hẳn chim Nguyễn Du, và còn khác hơn chim Bà Huyện Thanh Quan. Chim Bà Huyện tự nhiên mỏi. Còn chim Bác Hồ là con chim phi thường, nó mỏi có mục đích: “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ”.

3. Qua bài thơ “Chiều tối”, ta thấy Bác Hồ đã dùng chim để mô tả nội tâm. Làm sao Bác biết chim mỏi? Nó nói với Bác chăng? Không. Nó không nói với Bac. Mà chỉ cần nhìn Bác cũng biết nó mỏi…” (điện thư của một nhà giáo viết từ Sàigòn ngày 19/01/2010 với đầu đề “Chuyện vui đầu năm”)

Đúng là chuyện vui ngàn năm, chứ không chỉ đầu năm, hay năm đầu, mà thôi. Mạn phiếm, hay tản mạn những phiếm Đạo vào đời và trong đời, không nhất thiết phải tìm đến những đề tài có liên quan đến niềm ngày đầu năm hay nỗi buồn buổi tất niên. Vẫn có thể liên tu, bất tận. Miễn, có tình có tiết, rất bình an. Bình và an, cả vào tháng ngày hoang. Mộng tàn. Như câu ca, ở bên dưới:

“Cùng rót bao nhiêu ngày hoang

Cùng đếm bao nhiêu mộng tàn

Ru người yêu dấu trong vùng trời đêm.”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Trong quá trình tìm kiếm nỗi niềm bình an, trong tâm hồn, chừng như nhiều người vẫn gặp sự việc rất bình thường. Cũng, u uẩn. Lẩn khuất. Như câu hát:

“Vừa hoa nở tươi môi

Tình nhân đã xa xôi

Ðời ngăn cách nhau hoài

Một lần thôi đã không thôi

Yêu nhau trong lo âu

Biết bao lần tha thiết nhớ mong.”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Đúng thế. Khi đã “yêu nhau trong lo âu” rồi, chắc hẳn bạn và tôi, ta sẽ rất “tha thiết nhớ mong”. Nhớ và mong, những gì đã nói và đã làm trong yêu thương. Mong và nhớ, cách thế mình xử sự, cả khi xa xôi. Ngăn cách. Nhớ mong/mong nhớ, để rồi mình cũng sẽ không hề e thên với lương tâm. Của chính mình. Như các thánh nhân từng quả quyết:

“Phaolô nhìn thẳng vào Công nghi mà nói:

Thưa quí vị đồng bào,

với một lương tâm hết sức ngay lành,

tôi đã đi đứng trước mặt Thiên Chúa

cho đến ngày nay.”

(Cv 23: 1)

Thì ra. Có nói năng, đi đứng. Có, bình văn/thơ hay bình luận gì gì đi nữa, cũng phải như thánh nhân ở trên, dám “đi đứng trước mặt Thiên Chúa”, “với một lương tâm hết sức ngay lành”. Đâu ai dám bảo: các nhà bình luận văn thơ/âm nhạc: không ngay lành, với chữ nghĩa. Đúng lương tâm? Thế nhưng, giữ đúng lương tâm, có lẽ cũng nên tin nên theo nhận định của Hội thánh, rất như sau:

“Lương tâm là phê phán có thực chất lý lẽ ngang qua đó, người phê phán nhận thức được phẩm chất giá trị về luân lý của hành động cụ thể mà người nào đó sắp thực thi, đang thực hiện, hoặc đã hoàn tất trong quá khứ.” (X. Giaó Lý Hội Thánh Công Giáo #1778)

Xem như thế, lương tâm con người không chỉ là tiếng nói ở bên trong. Để rồi, theo cung cách nào đó, âm thầm chỉ dẫn cho ta biết cách thức mà hành xử. Hoặc, tránh né, những việc không nên làm. Chính đó, đích thực là một phê phán có lý lẽ hẳn hòi. Một phê phán cúa ý thức. Có trí tuệ. Rất không sai.

Để có thể phê phán không sai lạc, lương tâm sẽ giúp con người cân nhắc nhiều yếu tố, rất khách quan. Ngõ hầu dẫn dắt người phán và phê đi đến kết luận, rất thực tiến. thực tiễn, là: thúc giục người phê và phán là chính mình phải có quyết định đúng đắn. KHông sai chậy. Hầu cho phép hoặc cấm đoán làm điều gì.

Lương tâm là quà tặng Cha ban, ngang qua Thần Linh Thánh Ái của Ngài. Quà Ngài ban, cho riêng mỗi con người. Để, các người con của Ngài biết đường mà xử sự sao cho phù hợp với thiên nhân, vạn vật. Để, con của Người đóng góp vào việc biến thiên nhiên vạn vật được “trăm hoa đua nở”, thật rực rỡ. Tốt đẹp.

Lương tâm, còn là toà án cá nhân. Bên trong. Giúp con người nhận ra điều phải/trái mà suy xét. Đắn đo. Lo toan, sống phải lẽ. Sống xứng hợp với tư cách người con của Chúa. Do Chúa tạo dựng, giống như Người.

Với nhà Đạo, thì như thế. Với người đời, thì chỉ như ca từ của nghệ nhân, xưa từng viết:

“Lá hoa rừng mau xóa đường quay về

Làm ánh sao đêm lẻ loi

Màu tối gương bên đèn soi

Ân tình sâu vẫn trong đời thủy chung.”

(Lê Uyên và Phương - bđd)

Và, bởi nhiểu người thời nay quên mất sự hiện diện của lương tâm, bên trong mình, nên mới có những cảnh tệ hại xảy đến cho kình. Cho người. Tệ hại nhất, là: quên rằng những điều tốt đẹp Chúa dạy mình nơi giới răn. Ở Tin Mừng. Nay, ra hư luống. Công cốc. Phản thùng.

Bởi có hư luống, phản thùng, nên các thánh Giáo phụ như Bônaventura, đã từng lên tiếng, với mọi người về chức năng và uy lực của lương tâm như sau:

“Lương tâm là như sứ giả của Thiên Chúa. Lương tâm không quan chức có quyền sai bảo con người làm theo thẩm quyền của mình, nhưng lương tâm có chức năng khyên nhủ con người làm những điều từ quyền năng của Thiên Chúa phán dạy. Tương tợ như, vị sứ giả chỉ chuyên chở mỗi bài sai hoặc chiếu chỉ của vua quan, thôi. Chính vì thế, nên lương tâm cũng có cái uy lực buộc người nghe phải thi hành.” (X. II Librium Sent., dist. 39, a.1, q.3)

Nghệ sĩ ngoài đời, diễn tả những tê hại đến từ hành động sai trái lương tâm, một cách khác:

“Ðời mãi mãi mãi cách xa

Dòng nước mắt nóng tiễn đưa

Xin cho lần cuối

Tình ấy đắm đuối thiết tha

Vì qua bao nhiêu điêu linh

Xót xa

đắng cay

trong đời...”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Xót xa. Đắng cay, trong đời. Là, tệ hại kéo đến từ một đổ vỡ, kết quả của những thực hành trái với lương tâm. Trái lương tâm, còn dẫn theo những thực tại tai hại khác, mà mọi người vẫn thường thấy, ở nhà Đạo. Ngoài đời.

Với nhà Đạo, xót xa/cay đắng có thể tựa như những tệ hại không chỉ cho riêng mình. Mà còn đem đến với người khác. Những nạn nhân của một lạm dụng, về tình. Vẫn thường thấy, rất đầy dẫy. Vào hôm nay. Xót xa/cay đắng, còn có thể là giận dữ. Cách chia. Xảy đến cả với đấng bậc vị vọng, trong Đạo. Cụ thể, như chuyện xảy đến với Giáo hội, ở địa phương. Phương Tây. Đây đó.

Và vì thế, nhà văn/nhà thơ, nay không còn bình và luận nữa. Nhưng đã hát. Hát những mộng ước, rất như sau:

”Màn đêm mở huyệt sâu

Mộng đầu xin dài lâu

Một vì sao lạ rơi,

nghe hồn tê tái

trên dòng hương khói bay.”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

Hát rồi, nhà thơ/nhà văn nay lại nhắn:

”Ái ân ơi đừng phụ lòng ta

Nhớ thương sâu xin gởi người xa

Khóc nhau trong cuộc đời.

Giấc mơ xưa khăn phủ vành sô

Có yêu nhau ngọt ngào tìm nhau

Chết bên nhau thật là hồn nhiên!

Nhưng, anh không chết đâu em. Em cũng chẳng chết đâu anh, dù anh dù em cứ hồn nhiên, hành xử trái với lương tâm. Của chính mình. Có làm trái với lương tâm, người-làm-trái chỉ chết trong lòng một ít, rồi thôi. Vấn đề là, người ấy nếu biết hồi hướng. Trở về. Về, với lương tâm. Về với Đấng tạo dựng ra lương tâm, thì mọi việc sẽ lại tốt đẹp, như trước.

Với điều kiện, là anh là em. Là chúng ta, sẽ lại nghe theo tiếng lương tâm, mà hành xử. Và, khi đã nghe và thực hiện theo tiếng ấy, em và anh, cũng như tôi. Như bạn. Ta sẽ ngâm nga câu thơ nhạc bản của ai đó, ở đoản văn mang tên “Chẳng còn Boléro nữa”, như sau:

“Nói thế nào nhỉ

Khi không còn chốn ấy để tình anh chất đầy?

Chất cả đời người.

Một phần đời em vẫn là cả đời tôi.

Cái đêm hè nóng cháy hôm ấy

đã sụp đổ trên tôi

khi ánh mắt dịu hiền

không còn nhìn lên tôi

Cả bầu trời sụp đổ

trên tôi.

Ôi thôi, chẳng còn Boléro nữa.

Chỉ một mình tôi

Rất đơn côi

Lạnh lùng.

Vì khi em đi rồi

Tôi sẽ chẳng còn điệu Boléro nào nữa

Chẳng còn đêm hè đoàn tụ

có em và tôi, ta cùng nhảy.

Vẫn chỉ là đêm dài hiu hắt

Vắng bóng người em yêu.

Vắng cả nhịp tiếng Boléro

Người em tôi yêu…”

Quả đúng thế. Một khi Boléro Lương Tâm không còn ở với anh/với tôi nữa. thì, đời anh và đời sẽ chỉ là quãng ngày dài vô vị. Quãng ngày, có anh và tôi mải nhìn ngắm sao trời, chờ em thắp. Chờ trăng gió lên khơi. Ngày đẹp sẽ lại tới. Với em. Và với tôi.

Trần Ngọc Mười Hai

Mong ngày còn lại

sẽ không là ngày mải ngắm sao trời,

mà nuối tiếc.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com )

Wednesday, 4 August 2010

“Em ra đi mùa Thu”

mùa Thu không trở lại.

Em ra đi mùa Thu,

Sương mờ giăng âm u…”

(Phạm Trọng – Mùa Thu Không Trở Lại)

(Lc 22: 16)

À thì ra, thi ca/âm nhạc, là như thế. Sự thật, thì Thu mùa vẫn cứ trở lại. Vào mọi năm. Phi trừ, Thu của em và của tôi, là một người. Người bạn đời. Bạn Đạo. Cứ ra đi, vào mùa Thu. Ra đi, không trở lại. Những 5 năm. Như nhạc bản “Năm Năm Rồi Không Gặp..” Vì không gặp, nên kể như người em tên Thu của ai đó, nói lời “adios amigo” , đến thiên thu. Như, người xưa từng bảo: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”. Ở đây, không gặp mặt những 5 năm, có nghĩa là bất kến đến 5,475 cái mùa Thu. Chẳng thấy mặt.

Thấy hay không, đời người còn có chuyện: thấy đó, rồi lại chẳng thấy gì hết. Hoặc, thấy rồi nhưng ngồi mãi chẳng buồn đi. Chẳng buồn thay. Và chẳng cần đổi. Đổi ngôi. Đổi chủ. Đổi sự đời, việc Đạo. Rất nhiều thứ.

Này bạn ạ. Cách nay chừng sáu chục niên. Vào cái ngày, mà thắng bé-tí-tẹo-tẻo-teo là bần đạo, chào đời rõ ràng được vài niên. Vài tuổi đầu, nhưng đã nhận và thấy những đổi thay, rất nhiều lần. Có những lần, thằng-bé-tí-tẹo này cứ phải nghe hoài/nghe mãi vẫn một giọng. Chẳng thay đổi. Cứ một kinh. Rất cầu.

Kinh thế ấy, có là lời kinh hôm ban sớm hay lời khấn, lời nguyện, như: “Lạy Đức Chúa Giêsu xưa bởi Lời mà xuống thế gian 33 năm, chịu những sự thương khó cho … các linh hồn được rỗi..” Hoặc, lời kinh lời khấn vái với cầu hồn/cầu chữ, nghe rất dữ. Dữ, như ngôn từ thời đức thày Đắc Lộ dòng rất Tên, xưa sáng tác, đến phát kinh, như: “Chúa Giêsu, quân Giudêu ghét hơn thằng dữ là Baraba…” Ôi thôi, những là một điều Chúa Giêsu, hai điều quân Giudêu, cứ rước và cứ ghét, đến phát khiếp.

Chẳng thế mà, người nghệ sĩ viết nhạc khi xưa, cứ viết tiếp:

“Em ra đi mùa thu

Mùa thu không còn nữa

Đếm lá úa mùa thu

Đo sầu ngập tim tôi.”

(Phạm Trọng – bđd)

Quả là, người thời nay vẫn cứ đếm là đếm. Đếm lá úa. Lời kinh. Linh tinh. Hết đếm rồi lại hát: “Đo sầu, ngập tim tôi.” Cũng thế thôi. Quả thật, tim tôi hay tim bạn, có ngập tràn những “lá úa, khóc người đi” cả vào giờ kinh phụng vụ. Một qui cách, cứ mang tên Vũ Như Cẫn/Vẫn Như Cũ, là thế đấy.

Mới đây, dân con nhà Đạo vừa nhận được tin cho biết: sắp có đổi thay, trong phục vụ. Các lời kinh. Thay và đổi, để phù hợp với nghi thức khác, trong Đạo. Đổi và thay, cho rập ràng một khi cộng đoàn bà con bên Anh Giáo hoặc Đông Phương Chính Thống, đang ào ào gia nhập Hội thánh Công giáo, nhiều hơn nữa. Rập ràng, để khi ấy ta cử hành phụng vụ theo qui cách không còn ngồi đó mà ê a, ba lời bềnh bồng. Như sắp chết. Giống đoạn nhạc, nức nở, ở bên dưới:

“Ngày em đi

Nghe chơi vơi não nề

qua vườn Luxembourg

Sương rơi che phố mờ

Buồn này ai có mua?”

(Phạm Trọng – bđd)

Đúng thế. Buồn này, hay buồn kia, nào ai những mua mua bán bán, mà đọng lắng. Bán/mua chăng, chỉ là “mua vui cũng được một vài trống canh” , lanh lảnh. Rất thôi thúc. Mua, chỉ là để vui. Vui, chỉ là để Hội thánh nghĩ chuyện đổi thay, cho hợp thời. Hợp lẽ. Về mọi mặt. Thay hay đổi, mua hay bán, cũng chỉ nhằm vào văn minh, văn hoá. Rất phụng vụ.

Về đổi thay văn minh/văn hoá, còn nhớ có lần vào thập niên ’60, có linh mục Hoàng Sỹ Quý, SJ từng minh định, qua bài viết rất khúc chiết, như sau:

“Văn hoá, cũng là một thể sống. Nó sống với con người. Mà, để sống được, thì nó phải biến hoá luôn luôn, khiến cùng một vùng mà có cái khác nhau, cùng một thời mà cái mất cái còn…

Không phải tất cả mọi cách đều là Việt Nam, nhưng một nét gì đó của cách ấy. Cố nhiên là phải chọn cái gì sâu sâu một tí, bởi lẽ càng sâu, càng chìm thì nó càng tổng quát và đổi thay chậm chạp hơn. Như tâm thức (mentality) chả hạn. Vâng. Dù tây hoá đến đâu, người Việt và Á đông nói chung, vẫn có những ‘phản’ những ‘không’, giống Âu Mỹ. Người Tây thì, sau khi tranh cãi nảy lửa trong hội nghị, rồi vẫn rủ nhau đi uống cà phê tỉnh bơ, chứ người Việt thì sức mấy.

Theo tôi, Việt Nam chúng ta nằm ở chỗ giao lưu của ba vùng văn hoá gốc: văn hoá Đông Nam Á phía dưới, văn hoá Ấn Độ mà ta chịu ảnh hưởng qua Phật giáo , qua tiếp cận với các quốc gia Ấn hoá xưa, như: Phù Nam, Chân Lạp và Chàm; và cuối cùng, là văn hoá Trung quốc. Các văn hoá của các nước như Pháp đến sau, cũng tác động không ít đến bề nổi của chúng ta.” (x. Hoàng Sỹ Quý sj, Một Gợi Ý Về Văn Hoá Việt Và Sống Đạo, www.dunglac.org/index.php?m=module&v=detailarticle )

Văn hoá/văn minh, khác thế nào? Đạo Tây/Đạo mình đặc biệt là thế, sao lại đổi? Đổi thay rồi, liệu có còn phù hợp với nền văn hoá/văn minh của mình không? Đổi rồi, sẽ cứ vững mạnh trong Hội thánh, chứ? Trong chiều hướng có thay và có đổi, Hội thánh có còn sống thích hợp với văn hoá, của Đạo mình? Và, Đạo mình có quen dần với nền phụng vụ mới, nữa chứ?

Tóm lại, một khi phụng vị nhà Đạo mình đổi thay, hẳn vẫn còn thực thi Lời Ngài từng dạy bảo?

“Vì Ta bảo các ngưoi:

Ta không còn ăn lễ ấy

bao giờ nữa,

cho đến khi nào nên trọn

trong Nước Chúa.”

(Lc 22: 16)

“Lễ ấy”, Hội thánh xưa rày, đà hiểu rõ: chính đó là Phụng vụ. Là, Tiệc Thánh. Như được dặn:

“Các con hãy làm sự này,

mà nhớ đến Ta.”

(Lc 22: 19)

“Lễ ấy”, theo các nhà chú giải như Lm Nguyễn Thế Thuấn, CSsR, là như:

“Lễ ấy, hoàn tất trước tiên trong Tiệc Thánh Thể, nhưng một cách đầy đủ, hết hình bóng: trong thời cánh chung, sau tận thế.” (x. Lm Nguyễn Thế thuấn, Kinh thánh, bản dịch 1976, tr. 178)

“Lễ ấy”, thời hậu Công Đồng Vatican II cũng biến khá nhiều. Biến từ La ngữ. Hoá, cả hình thức hiến tế. Rất Thánh thể. Biến hoá, từ qui cách đứng ngồi. Lạy quỳ. Cho chí, phẩm phục. Đờn hát. Nói năng. Biến như thế, vẫn chưa đủ. Vẫn cần đổi thay, cả cung cách. Quan niệm. Lẫn, nơi chốn. Biến hoá, nơi quan niệm là có lập trường đổi khác, rất Tiệc Thánh. Chứ, không còn như hiến tế ở lễ đàn. Ở bàn thánh. Như thuở xưa. Biến hoá/đổi thay, sao cho hợp tình hợp lý với não trạng của dân con nhà Đạo, thời bây giờ. Có lý, có tình người ở ngoài, vẫn thường ca:

“Từ chia ly

Nghe rơi bao lá vàng

Ngập giòng nước sông Seine

Mưa rơi trên phím đàn

Chừng nào cho tôi quên.”

(Phạm Trọng – bđd)

Nhớ lời Thầy dặn, ta không chỉ nhớ và thực thi những gì Hội thánh luôn có thói quen làm, nhiều thế kỷ. Từng cử chỉ. Nhớ Lời Thầy, là còn nhớ cả cung cách đứng ngồi, cử chỉ, lẫn lời kinh vị chủ tế cứ đọc. Cứ khấn cầu. Bái gối. Hoặc, rửa tay.

Nhớ Lời Thầy, là nhớ cả những điều Hội thánh vẫn thực thi với cộng đoàn địa phương. Nhớ cả những cãi vã tranh đua nhau về thần học, ai đúng ai sai. Cả, chốn trang nghiêm, đời tận hiến. Cả, vào dấu ấn ta ghi tạc nằm lòng, ở phụng vụ. Dấu ấn có đổi thay, nay thấy rõ. Dấu ấn, là dấu ấn cho nhà Đạo. Dấu ấn, cả vào lúc nước Nga quay về với Đạo lý, thời loạn ly.

Nhớ Lời Thầy, là cắt bỏ những chi tiết dài dòng. Lê thê. Cho thực tế. Cắt bỏ, để phụng vụ Nhà Chúa trở thành nghi thức giản đơn. Sâu sắc. Hầu, quân bằng với cuộc sống, người giáo dân. Nhớ Lời Thầy, là nhớ chi tiết nay đà cải biến. Biến rồi cải, cả vào thời Giáo hoàng Grêgôriô Cả, thế kỷ 16. Cải và biến thời hậu Công đồng Triđentinô. Cải và biến, cả vào thập niên ’50, với quyết định của Đức Piô XII, vào Tuần Thánh. Mỗi năm.

Cải biến như thế, ta sẽ không còn dựa vào lời thơ người ngoài Đạo, cứ luôn hát:

“Hôm em ra đi mùa thu

Mùa thu không trở lại

Lá úa khóc người đi

Sương mờ dâng lên mi.”

(Phạm Trọng – bđd)

Nhớ Lời Thầy, là nhớ “em ra đi mùa Thu” hôm ấy, Hội thánh của anh và của em, cũng đã cải biến phụng vụ từ ngày Công đồng quyết định. Mãi hôm nay. Cải biến, dựa nhiều trên tương quan giữa Chúa và dân Ngài. Biến cải, để tương quan ta vẫn có với Chúa, với nhau, chỉ đặt nặng trên tình thương yêu. Vui sống. Yêu thương và phục vụ, để rồi những gì là vô hình nay trở thành hữu hình. Nơi cuộc sống, có nỗi chết. Có sống lại.

Tình thương yêu, Chúa trải rộng không chỉ diễn bày “một lần rồi thôi”. Nhưng liên tục. Bằng xác chứng Chúa vẫn hiện diện nơi ta. Trong ta. Ngài hiện diện qua sẻ san Lời. Qua, Bí tích Thánh Thể. Nhờ Bí tích, ta sẽ đồng hoá với Đức Kitô. Đồng hoá, với việc hiến trọn Thân Mình cho Cha. Qua thập tự. Và, sống lại. Quang vinh.

Sống tình yêu qua phụng vụ, là đáp trả tình thương của Ngài. Bằng vào lời cầu. Bằng cách thế đứng ngồi, cầu kinh nơi nghi thức phụng vụ. Bằng vào, thi hành lời Ngài dặn dò, hôm vĩnh biệt: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.

Đó là nội dung ý nghĩa của nguyện cầu, qua phụng vụ. Rất ý thức. năng động. Có làm thế, cộng đoàn Nước trời mới đóng góp tích cực vào Tiệc Thánh. Có làm thế, mọi người già trẻ lớn bé mới tích cực tham gia. Có làm thế, việc cử hành Tiệc mới giản đơn. Sống động. Đúng nghĩa.

Nhờ làm thế, Hội thánh mới trân trọng quà hiếm quý, Chúa tặng ban. Hầu, thực thi điều Chúa dặn dò, cho tích cực. Nhờ làm thế, ta mới thích nghi được với cộng đoàn khác. Văn hoá khác. Cho phải lẽ. Nhờ làm thế, ta sẽ thấy trân quý lời ca tiếng hát của mọi con dân Đức Chúa, trong cũng như ngoài nhà Đạo. Chứ không chỉ ê a lời thơ ý nhạc của nghệ sĩ rất đời, như:

“Em ra đi mùa thu

Mùa lá rơi ngập ngừng

Đếm lá úa sầu lên

Bao giờ cho tôi quên.”

(Phạm Trọng – bđd)

Cuối cùng thì, “Em (có) ra đi mùa Thu” hay chỉ ra đi, mà cải biến. Cải và biến nỗi sầu “đếm lá úa”. Đếm, để không còn “mùa lá rơi ngập ngừng” như thế nữa, ở phụng vụ. Và từ đó, chẳng “bao giờ cho tôi quên” dù quên một lời Thầy dặn, buổi Tạ từ. Trăn trối. Hối thúc. Dù, điều mình quên có là quên theo thói quen trần tục, như câu truyện ở dưới, để minh hoạ:

“Hai bạn Đạo, bạn đời nói với nhau, như sau:

-Sao anh uống nhiều rượu quá vậy?

-Để cho quên.

-Quên? Quên những gì mà ghê thế?

-À, thì chỉ quên những gì làm mình xấu hổ.

-Xấu hổ, là xấu con hổ nào?

-Là mắc cở, rằng mình đã uống quá nhiều đến như thế…

Ở nhà Đạo, cũng có những sinh hoạt rất văn minh. Linh tinh. Nhiều văn hoá. Thế nên, sống ở đời, những mong bạn mình. Tức bạn và và mình, sẽ chẳng bao giờ quên lời dặn dò. Trăn trối. Của Chúa. Như từng quên, rất nhiều thứ.

Trần Ngọc Mười Hai

Thấy vẫn cần đổi.

Cần thay.

Rất nhiều thứ.

Suốt đời.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com ;

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com )