Tuesday, 11 June 2019

“Tình cho đi, cho từ lúc quen sơ”


Chuyện Phiếm Lễ Chúa Ba Ngôi năm C 16/6/2019

“Tình cho đi, cho từ lúc quen sơ”
Cho thật nhiều, vẫn ngỡ chưa hề cho
Tình cho đi, nhưng chẳng nói năng chi
Nên ngập ngừng, mãi mãi mối tình câm.”
(Trần Thiện Thanh – Tình Có Như Không)

(Kh 2:  19)

“Cho từ lúc (mới) quen sơ, cho thật nhiều (mà) vẫn ngỡ chưa hề cho”, Ối chà là thơ tình và cũng tình thơ rất nên thơ! Ối chà, là âm nhạc và cũng là âm hưởng của nhạc tình, rất nên thơ và cảm kích.

Thơ và nhạc luôn hàm ngụ ý-tưởng đầy cảm kích rất thơ tình của âm nhạc. Nhạc tình đầy thơ còn đượm nhiều ý-nghĩa như câu hát được người nghệ sĩ cứ hát thêm, như sau:   

“Rồi một ngày tình xa ôi tình nhớ
Tình gặp rồi, mà cứ nói vu vơ
Nhưng mà lòng thì vẫn cứ như thơ
Mà cuộc đời thì vẫn cứ như mơ.

“Này em ơi có phải lúc ta yêu
Ta vụng về chới với trong biển khơi
Này em ơi, em đẹp quá đi thôi
Áo học trò trắng xoá trong hồn tôi.

“Ô kìa tình nào chờ em nơi đường vắng
Ô kìa tình nào là những ngón tay đan
Thôi thì mình đành đứng mãi xa trông
Lại một lần tình có cũng như không.”
(Trần Thiện Thanh – bđd)

Còn gì ý-nghĩa cho bằng câu “Có phải lúc ta yêu ta vụng về chới với trong biển khơi”? Ôi, một câu nói đượm nhiều triết lý và thần học của mọi thời. Và, cũng là câu hát đượm nhiều “tình thơ” đến không ngờ.

Đó là ý-tưởng về triết lý và thần học ở ngoài đời. Thế còn tư tưởng thần học và triết lý ở đạo Chúa, lại sẽ ra sao? Trả lời cho vấn nạn ngàn đời này, thật không phải dễ. Dễ hay khó, ta cứ lần mò theo dõi chuyện thần-học trên báo Đạo ở Sydney có những tư tưởng, khá tương tự khi nói về thứ tình đầy thơ và nhạc, nơi Đức Mẹ. Và, đấng bậc ở Sydney từng quảng diễn trong bài hỏi/đáp về công cuộc “Đồng công cứu chuộc” của Mẹ, cũng mang dáng dấp một thứ tình cho không biếu không, sau đây:

“Kính thưa cha,
Con nghe nói là Giáo hội ta từng phấn đấu đưa ra một thứ tín-lý/thần-học mới quyết định-vị Đức Maria là Đấng “Đồng Công Cứu Chuộc loài người”, câu hỏi của con hôm nay là: có bí ẩn gì nằm sau câu nói ấy hay không? Và, Cha có nghĩ danh-xưng này thích-hợp với con người của Mẹ hay không nhỉ?”

Một lần nữa, độc giả của giới truyền-thông/báo chí đã có lời hỏi thì đấng bậc nhà Đạo lại cũng có đôi điều hồi đáp như sau:

“Trước nhất, tôi nghĩ anh/chị cũng như tôi, ta nên qui-chiếu một chút về quá-trình lịch-sử của vấn đề này, mới được. Quả là, Công Đồng Vatican 2 kéo dài từ năm 1962 đến 1965 đã thấy có đến 50 nghị-phụ yêu cầu đưa vấn-đề này vào nghị-trình bàn luận, cho dù Công Đồng không chấp-nhận làm thế, lúc đó.
    
Mãi đến năm sau, thoạt vào lúc Công Đồng bãi-khóa, tức: trong thời-gian có hội-nghị thượng đỉnh được tổ-chức ở Tiệp Khắc, Ba Lan lúc ấy Giáo hội mới thiết-lập một hội-nghị bàn về chức-năng cũng như vai-trò của Đức Mẹ cốt đáp-ứng vấn-nạn này.

Hoi-nghi. do chính Đức Thánh Cha đưa ra cốt để thảo-luận về lập-trường của các bậc thức-giả từng định-vị tín-điều thứ năm quyết tuyên-bố rằng Đức Mẹ là Đấng Đồng công Cứu-chuộc loài người, là Đấng Trung-gian cầu bàu bênh-vực cho loài người. Ủy-ban trên đã đồng-loạt tuyên-bố là định-nghĩa như thế quả thật không thích-hợp, nên đã bầu phiếu 23 chống 0.   

Vào năm 2000, Đức Giáo Hoàng Biển Đức, khi ấy ngài còn là Hồng y Ratzinger, có nói trong cuốn sách do ngài viết mang tựa đề “God and the world” (tức: Thiên Chúa và thế gian) cũng dùng ý-tưởng viết trong sách để trả lời vấn-nạn trên, vốn bảo rằng: ‘Đồng Công Cứu Chuộc’ nói đây là lời diễn-giảng ngôn-từ được dùng ở Kinh Thánh và tư-tưởng của các Giáo-phụ nên từ đó tạo dịp cho người đọc hiểu lầm.

Bởi, tất cả những gì xuất tự Đức Kitô, như thánh Phaolô từng viết trong thư gửi giáo-đoàn Êphêsô và thư Côlôsê cách riêng, dạy cho ta biết: cả Đức Maria nữa cũng thế, những gì nói về Mẹ đều xuất tự và ngang qua Đức Kitô. Danh-hiệu “Đồng Công Cứu Chuộc loài người” có lẽ đã làm lu-mờ đi tính-chất này. Nói cách khác, chủ đích thì đúng nhưng lại diễn-tả theo cách sai chậy.

Như vậy thì, từ đó có lập-luận nào nghiêng về với tuyên-xưng “Đồng Công Cứu Chuộc” ở đây không? Điểm khởi đầu nằm ở việc cho thấy: ngay từ lúc được thiên thần Chúa báo tin, Đức Maria đã chấp-nhận Đức Giêsu Đấng Cứu Chuộc trong cung lòng của Mẹ và với thế-gian; nên ít ra, cũng đã hợp-tác với công-trình cứu-chuộc theo cách trực-tiếp hoặc gián-tiếp vào việc cứu vớt con người.

Ở đây nữa, khi Đức Maria và thánh Giuse dâng hiến Đức Giêsu vào đền thánh, các ngài đã dâng toàn-bộ con người Ngài để Ngài chu-toàn sứ-vụ Cha Ngài giao-phó, đặc biệt nhằm hoàn-tất công trình cứu chuộc loài người. Cuối cùng thì, trên thập-giá ở đồi Calvariô, Mẹ đã cùng với Đức Kitô chịu khổ đau với Ngài, kết-hợp với Ngài vào việc hy sinh cứu độ ấy.    

Thế nhưng, cùng với mọi người, Mẹ đã được mời gọi hợp-tác vào việc cứu độ chủ-động, cùng thừa hưởng hoa-quả của thập giá ban cho mỗi linh hồn, điều này ngang qua việc nguyện cầu cho mọi người để rồi đưa họ về gần Chúa hơn ngõ hầu họ được thanh tẩy và cứu độ.

Theo cách này, không chỉ mỗi Mẹ bằng vào việc cầu bàu cho các linh hồn trên thiên-quốc, nhưng tất cả mọi linh hồn ở dưới đất này đều được gọi mời trở-thành kẻ đồng công cứu chuộc với Đức Kitô. Cùng một nghĩa như thế, thánh Phaolô đã từng viết: Chúng tôi là cộng sự viên của Thiên Chúa. Anh em là cánh đồng của Thiên Chúa, là ngôi nhà do Thiên Chúa xây lên.” (1Cor 3: 9)

Thành ra, cả vào lúc Giáo hội không định-vị việc ấy như tín-điều đi nữa, thì Mẹ vẫn hợp-lực với Chúa trong công-trình cứu độ khiến Mẹ trở-thành Đấng Cùng cứu-độ với Ngài.

Đức Giáo Hoàng Biển Đức 15 đã diễn-bày chân- lý này trong Tông thư “Inter solalicia” năm 1918, khi bảo rằng:

“Cùng một cách, Mẹ cũng đã khấng chịu sự đau khổ đến nỗi chết với Con của Mẹ cho việc cứu độ loài người, Mẹ hy sinh từ bỏ các quyền bính của các người mẹ đối với Con của Mẹ đến mức độ việc ấy tùy thuộc nơi Mẹ ngõ hầu làm mãn-nguyện sự công-chính của Thiên Chúa đến mức độ ta có thể gọi sự việc ấy một cách đúng đắn là Mẹ cũng cứu-độ loài người cùng với Đức Kitô, nữa.” (X. Lm John Flader, Called to be co-redeemers The Catholic Weekly 17/3/2019 tr. 22)
          
“Đồng công cứu chuộc” theo kiểu và ngang qua “tình cho không biếu không” của Đức Maria xem ra không là điều khó hiểu, hoặc khó bàn như đấng bậc ở trên từng dẫn giải. Để minh họa cho thứ Tình ngoại thường này, có vị đề nghị bạn và tôi, ta thả bộ vào vườn hoa truyện kể để thưởng thức những sự lạ như sau:

Câu chuyện xảy ra tại Hoa kỳ, cụ thể là Thành phố cảng New York – New Jersey. Thời gian của câu chuyện xảy ra vào ngày 31/3/2018 và cuốn băng video được camera hành trình trên xe cảnh sát ghi lại đầy đủ cả phần hình ảnh lẫn âm thanh.

Cuốn băng này do hai sĩ quan cảnh sát có liên quan công bố trên mạng và kết quả bất ngờ sau đó là sự từ chức của một Ủy viên Hội đồng thành phố, bà Caren Turner. Dư luận tại Mỹ đã bị khuấy động, có người bênh vực bà Turner nhưng đa số có những phản ứng bất lợi cho bà.

Chuyện bắt đầu vào ngày cuối tuần của lễ Phục sinh khi cảnh sát phát hiện một chiếc xe mang biển số không rõ ràng, kính xe được dán bằng loại giấy dán màu đen không thể nhìn rõ những người bên trong. Kiểm soát giấy tờ lại phát hiện chiếc xe đã quá hạn đăng ký 2 năm và dĩ nhiên cũng không có giấy tờ bảo hiểm.

Anh cảnh sát (người đeo kính đen trong băng video) giải thích, chiếc xe sẽ bị giữ lại và cẩu đi cho đến khi nào chủ xe hoàn tất mọi thủ tục hiện hành. Mọi chuyện diễn ra một cách hòa nhã, cảnh sát còn đề nghị giúp những người trên xe bằng cách đưa họ đến một câu lạc bộ gần đó hoặc về đồn cảnh sát để chờ người nhà đến đón.

Điều rắc rối, là một trong những người ngồi trên xe là một nữ sinh viên có mẹ là bà Ủy viên Caren Turner. Cô gái điện thoại cho mẹ đến đón và người mẹ thương con vội vã đến ngay.

Băng video cho thấy bà Turner, 60 tuổi, có phần nóng nẩy, bồn chồn. Bà đòi cảnh sát giải thích lý do giữ xe và cảnh sát lạnh lùng trả lời là anh không có nhiệm vụ giải thích với bà. Trong trường hợp bà muốn biết thì cứ hỏi tài xế lái chiếc xe, chứ đối với anh, bà không liên quan đến vụ này!

Anh giải thích: “Con gái bà cũng không liên quan. Cô ấy không phải là tài xế. Chiếc xe này cũng không phải của bà như vậy làm sao bà có liên quan đến vụ này?”.

Bà Turner phản ứng bằng cách đưa danh thiếp, giấy tờ chứng minh bà là Ủy viên Thành phố và còn nói thêm bà là chỗ thân thích với ông Thị trưởng. Thế cho nên, bà có quyền tìm hiểu vụ việc nhưng anh cảnh sát từ chối việc xem giấy tờ của bà một cách lịch sự.

Bà còn nói, “Tôi là Ủy viên Thành phố, tôi đứng đầu 4.000 cảnh sát ở đây, anh rõ chưa?". Anh cảnh sát kia (người không đeo kính) cũng không nao núng và đáp lại, “Thưa cô, chúng không cần xem giấy tờ của cô!”. Như bị đổ dầu và lửa, bà “sửa lưng” anh cảnh sát, không được gọi bà bằng “cô”.

Khi anh cảnh sát đeo kính nói với bà Turner rằng bà “có thể” rời hiện trường với những người khác, bà Turner sừng sộ lại rằng không thể nói bà “có thể” đưa con đến chỗ nào. Bà giáng thêm một câu chửi thề: “You May Shut the F--- Up!”. 

Câu chửi thề có vẻ “chợ búa” đó là mấu chốt của vấn đề. Một khi tức giận, người Mỹ thường hay chêm vào chữ “fuck”, tương đương với tiếng đệm “đếch, đéo…” mà ngày nay người Việt có khuynh hướng thường sử dụng hàng ngày trong bất kỳ trường hợp nào!

Đối với bà Ủy viên Thành phố, câu chửi thề đó quả là đáng giá… cả một sự nghiệp chính trị. Ngoài ra, hành vi của bà Turner còn có thể bị ra tòa hình sự hoặc bị phạt, mức tối đa là 10.000 đô la.

Cảnh sát trưởng Tenafly, Robert Chamberlain, nói với New Jersey.com: “Băng video tự nó nói lên tất cả…”. Ông cũng đã gửi một bản sao cuốn băng đến chính quyền thành phố. Trong một bản thông báo, ông cũng cho biết “rất hãnh diện về thái độ kềm chế của hai viên sĩ quan cảnh sát” và đồng thời kêu gọi chính quyền thành phố “có những biện pháp hợp tình, hợp lý”.

Dán kính xe bằng giấy màu và biển số xe không rõ ràng là vi phạm luật giao thông tại New Jersey. Chủ chiếc xe đã 2 năm không đăng ký lại là cha của tài xế và ông cũng có mặt trong xe và người tài xế tỏ ra rất hợp tác với cảnh sát.

Về phần mình, Ủy viên Thành phố Turner đã lên tiếng xin lỗi hai viên sĩ quan cảnh sát vì những lời lẽ không đẹp trong cơn nóng giận. Bà cho rằng đó không phải là sự vi phạm tiêu chuẩn đạo đức cũng như không đòi hỏi sự đối xử đặc biệt nào. Bà đã xin từ chức! Đó là đoạn kết buồn cho câu chuyện ở xứ người.

Trước khi chấm dứt bài viết này, tôi xin kể một câu chuyện có thật, cũng ở xứ người. Tại phi trường ở Los Angeles có một vị khách chen lên trước hàng dài người xếp hàng làm thủ tục check-in. Ông ta nói lớn với cô nhân viên là ông có việc gấp nên muốn được giải quyết chuyến bay sớm nhất.

Cô nhân viên ôn tồn giải thích là cô phải giải quyết cho những khách đến trước và hứa sẽ giúp ông khi đến lượt. Ông không bằng lòng, ông nói như hét vào mặt cô: “Do you know who I am?”

Cô nhân viên vẫn tươi cười và cầm micro nói vào loa phóng thanh: “Ở quầy 112, có một vị hành khách không biết mình là ai, quí hành khách ai có thể giúp ông ta biết được căn cước hay thân thế của ông, xin tới quầy 112.”

Hành khách có mặt trong hàng đều phá lên cười. Ngượng quá, ông điên tiết chỉ mặt cô nhân viên và bật ra một câu chửi thề tục tĩu: “Đ.M. mày”( F…k you) . Cô gái không một chút giận dữ, bằng giọng bình thản, trả lời ông nguyên văn như thế này:

“I’m sorry, sir, but you’ll have to stand in line for that, too”. (Thưa ông, chuyện ông đòi giao thoa với tôi, ông cũng phải xếp hàng chờ đến lượt, mới được.)

Dù có là bà Ủy viên Thành phố Caren Turner hoặc ông hành khách khi đặt câu hỏi “Biết tôi là ai không?” đều hàm ẩn ý muốn cậy chức, cậy quyền cốt đe dọa người đối diện. Tuy nhiên, nếu người đối diện lại là người thẳng thắn, hành xử theo luật pháp thì chắc chắn câu hỏi ấy sẽ không có tác dụng gì hết.

Và họ, những người đặt câu hỏi ấy, sẽ phải trả giá rất đắt về sự lạm-dụng chức-năng/nhiệm vụ của họ, thôi.” (Truyện kể bắt gặp ở vi tính cũng ê hề)

“Tôi là ai”? có dấu “chấm hỏi” ở phía sau, là câu nói gặp đầy trong ngôn ngữ, cả ngoài đời lẫn trong đạo. Ngoài đời, thì nó lộ ra bên ngoài chẳng cần che hay đậy. Còn trong Đạo, nó lại kín đáo và tế nhị hơn mọi thứ gì khác. Kín đáo đến độ người bàng quan ngoài Đạo có muốn tìm hiểu cho nhiều cũng chẳng thành công.

“Tôi là ai”! với dấu “chấm than” (!) nhưng không vãn, lại có nghĩa như một nhắn nhủ hướng về mọi người và/hoặc chính mình, chí ít là đấng bậc ở chốn chóp bu vị vọng chốn Công giáo, lại là chuyện khác; tức: những chuyện rất khác thường và cũng ngoại thường ở đời, có thế thôi.

“Tôi là ai” không có dấu chấm phết đính kèm, lại sẽ là và luôn là khẳng định của người đi Đạo, rất miên man. Liên miên và lan man như bao thắc mắc, vấn nạn thật khó giải quyết.

Tắt một lời, có những sự việc trong Đạo được đấng thánh hiền tuyên bố, rất công khai như sau:

Ta biết các việc ngươi làm,
biết đức ái, đức tin, công việc phục vụ
và lòng kiên nhẫn của ngươi.”
(Khải huyền 2: 19)

Thế đó, lại là nhận-định khá tóm gọn của bầy tôi luôn muốn khuất lặn trong bóng tối dày đặc của đêm đen nhiều lúc thấy cũng chán, như cuộc đời. Của mọi người.


Trần Ngọc Mười Hai
Và những giây phút khá chán 
nhưng không choáng váng
trong đời mình.            

       

Thursday, 6 June 2019

“Em! hồn anh đang sầu đau”


Chuyện Phiếm đọc sau Lễ Hiện Xuống năm C 09/6/2019

                              “Em! hồn anh đang sầu đau”
           “Hồn anh đang thổn thức
           Ai se tình duyên thắm đẹp
              Kề mái tóc đầy hương
            Tình như áng mây hồng
       (Lâm Tuyền – Trở Về Dĩ Vãng)

(Rom 5: 2-4)

Thôi thì, về đâu mà chả được. Huống chi là về “với dĩ vãng”, tức: một thời những quên lãng, với biết bao nhiêu là kỷ niệm đẹp, dù sầu đau có tan mau hay chậm chạp cũng muốn về.

Về với dĩ vãng, còn đẹp biết bao nhiêu khi người nghệ sĩ lại cứ viết những câu như sau:
           
“Anh lặng lẽ trong chiều vắng
Lòng nhớ nhung triền miên
Trăng xưa về khuya bẻ bàng
Dường như nhắn người yêu
Tình mây nước còn đâu
Bao nhiêu ngày xuân đau thương
sầu mộng chờ giai nhân
Bao nhiêu xuân qua,
bóng em mờ đắm
Bao nhiêu thu qua
nỗi đau còn mãi không phai

Biệt ly tình đôi ta vời vợi
Thuở ấy hồn anh đắm chơi vơi ngoài khơi
Người em sầu mộng của muôn đời
Thề ước guồng tơ thắm không bao giờ phai
Tình em như tuyết giăng đầu núi
Tình anh nhu ánh trăng trầm suối
Tình ta như áng mây chiều trôi
Về tràn trên gối chăn mờ phai
           
Biệt ly! ôi biệt ly
Ngậm ngùi - thâu âm thầm đôi câu
Biệt ly, anh theo cánh gió chơi vơi
Phiêu du khắp bốn phương trời
Xa xôi tiếc nhớ khôn nguôi
Men say lấp kín môi cười
Biệt ly - sầu bi
(Lâm Tuyền – bđd)


Nói về dĩ vãng xa xôi, vời vợi còn là nói về những chuyện khó quên cả trong nhà Đạo lẫn ngoài đời. Tức, những chuyện được kể lể ở xứ đạo rất như sau:


“Trên một chuyến tàu, có bốn bố con đang ngồi chăm chú vào những cuốn sách. Cảnh tượng thật mẫu mực trái với hiện nay vì bây giờ bố mẹ và trẻ thường hay chúi mắt vào chiếc điện thoại thông minh để xem tin tức hay chơi giải trí. Ấy vậy mà gia đình nhỏ này thì không, nhiều người không khỏi thầm thì vì trông bọn trẻ thật đáng yêu và ngoan ngoãn.

Có người cất tiếng hỏi:
- Anh đã khuyến khích lũ trẻ đọc sách thay vì chơi các thiết bị thông minh như thế nào mà hay vậy?

Ông bố cười tươi trả lời: 
-Bọn trẻ không nghe chúng ta nói đâu, nhưng chúng thường hay bắt chước chúng ta đấy!

Chỉ một câu trả lời đơn giản vậy thôi mới thấy sức ảnh hưởng của bố mẹ đến con cái là vô cùng to lớn. Ngay từ bây giờ bố mẹ nên vì lối sống, cách cư xử của con cái sau này mà hãy xem lại và thay đổi những hành vi, lời nói chưa phù hợp của mình trước khi quá muộn nhé. Khi cha mẹ biết kiểm soát và điều khiển bản thân thì sẽ dễ dàng cho bé tấm gương noi theo mẫu mực để con cũng học được những điều tích cực nhé!


Kể chuyện Đạo với con nhà có đạo, còn phải kể đến những chuyện được cha đạo nói năng bằng từ-vựng thần học như sau:


“Nhiều năm qua, chúng ta nói không hết về các thắc mắc liên quan không chỉ các linh mục đã hoàn-tục mà thôi, nhưng cả các vị đã rời bỏ Giáo hội cùng với những đấng bậc đã phạm lỗi nặng và các đấng đã và đang ngồi tù vì nhiều tội-phạm khác nhau, nữa.


Có suy nghĩ cho rằng: giả như các linh mục nói ở đây đã vi-phạm một số sai lầm nghiêm trọng vào lúc các ngài có quyền cử-hành bí-tích quan-trọng, thì thử hỏi hành-xử mà các ngài làm vào lúc đó có còn giá-trị gì nữa hay không, đó chính là vấn-đề.


Câu trả lời đơn giản nhất cho các câu hỏi tương-tự, hẳn sẽ bảo rằng: các bí-tích do các đấng bậc thực-thi trước khi các ngài hồi-tục; hoặc không còn hoạt-động theo tư-cách linh-mục nữa, thật ra vẫn có giá-trị như thường và không cần lặp đi lặp lại chuyện này làm gì, nhưng hãy tìm đến lời giải-thích rõ như sau:       
    

Câu hỏi này, từng được Hội thánh đề cập từ thế kỷ thứ tư. Đó, là lúc xảy ra sự việc Giáo hội miền Bắc châu Phi bị bách hại đủ điều, tức là lúc nhiều vị giáo sĩ cũng như giáo-dân muốn chạy thoát để không bị bắt ngồi tù hoặc có khi còn dẫn đến chỗ chết nữa. Nên, có vị buộc phải giao nộp sách thánh cho đám cầm quyền người La Mã coi như dấu hiệu chứng tỏ họ rẫy bỏ niềm tin của mình. 


Tiếng La-tinh mô tả những người làm như thế là “Traditor” xuất-xứ từ động từ “tradere” từ đó tiếng Anh dịch ra thành “Traitor” (tức: kẻ phản bội). Có giáo-phái ở Carthage được gọi là “Donatists”, tức đặt theo tên gọi của vị Giám mục cầm đầu Donatus Magnus từng dạy rằng: Giáo hội là nhóm hội gồm các đấng bậc lành thánh, chứ không phải hối-nhân.


Thế nên, bất cứ bí-tích nào do linh-mục cử-hành dù đấng ấy là “kẻ phản bội” hoặc người bội-giáo cử-hành từng chối bỏ niềm tin trong đạo, cũng đều vô hiệu-lực hết. Nhóm “Donatist”, cho đến nay, được bảo là: ngay cả khi vị linh-mục ấy sau này hồi hướng trở về với Giáo hội, thì các bí-tích được cử-hành sau đó cũng bị coi là vô-hiệu-lực.


Nhóm bội-giáo là những người có niềm tin dị-biệt từng bị ủy ban do Đức Giáo Hoàng Miltiades thiết-lập đã lên án họ vào năm 313. Sau đó, thánh Âu-Tinh (354-430), Giám mục thành Hippo miền Bắc châu Phi  dạy rằng: các bí-tích nào xuất tự hiệu-năng của họ không do sự lành thánh của vị linh-mục đã từng thực-thi bí-tích ấy mà lại do chính sức mạnh của bí-tích mà tiếng La-tinh gọi là “ex opera operato”, tức: do công việc mà thành. 


Hơn thế nữa, hiệu năng của các phép bí tích đều xuất từ chính Đức Kitô, là Đấng hoạt động ngang qua các bí-tích mà thành. Bởi thế nên, các bí-tích đều là hành-xử của chính Ngài nên có đủ hiệu-lực như đã gọi là “ex opera operato Christ, tức: do công-việc Đức Kitô làm.


Nói theo cách tự nhiên, thì: người lĩnh-nhận phép bí-tích đóng vai-trò quyết-định thành-quả là hoa trái của bí-tích ấy. Người nào nhận lãnh bí-tích với lòng tin, thương yêu, buồn sầu cho tội lỗi, vv… sẽ nhận nhiều ơn lành hơn những ai lĩnh-nhận mà chẳng tin tưởng hoặc lòng sốt sắng, hạnh đạo gì hết. Và, những ai nhận lĩnh bí-tích trong tình-huống mắc tội trọng, sẽ không có được ơn lành Chúa ban, bao giờ.


Tuy nhiên, nhìn vào bản-chất của nó, thì chính các phép bí-tích đếu có năng-quyền ban ơn lành là nhờ vào hành-xử của Đức Kitô hiện-diện trong bí-tích ấy. Với lập-trường này, thì ngay đến vị linh-mục nào đang ở trong tình-huống mắc tội trọng thì khi vị ấy có cử-hành thánh lễ hoặc ban phép rửa tội hoặc giải tội cho ai đó ngang qua bí-tích hóa-giải, vv… thì bí-tích đó vẫn có hiệu-lực.


Giả như vị linh-mục có cơ hội đi xưng tội trước khi cử-hành bi-tích nào đó, nhưng lại không tự mình lướt vượt tình-trạng tội-lỗi, thì vị ấy dù đã hành-xử không đúng luật nhưng bí-tích nói đây vẫn có hiệu-lực như thường.        
                       

Vậy thì, trường-hợp vị linh-mục nào đó đã hồi-tục rồi thì sao? Các phép bí-tích do ông ta cử-hành sau đó có hiệu-lực không? 


Theo Giáo-luật, khi vị linh mục nào để mất đi tính-chất giáo-sĩ của mình, tức: đã hồi-tục rồi, ông bị cấm sử dụng quyền thực-thi các chức thánh được đề ra (x. Giáo luật số 292). Nói thế, có nghĩa là, ông ta không được phép cử-hành thánh-lễ hoặc bất cứ bí-tích nào khác nữa.


Giả như ông coi thường luật pháp do Giáo hội đề ra thì các thánh-lễ do ông cử-hành có thể sẽ bất hợp pháp, nhưng do tính hiệu-lực của năng-quyền ông nhận lãnh khi chịu chức và là chức thánh không bao giờ biến mất, thì ông có thể sẽ đem sự hiện-diện của Chúa trong bánh thánh do mình làm phép trở-thành thân mình của Chúa khi rước lễ.


Ngang qua việc linh-mục để mất đi chức-năng linh-mục của mình hoặc các phép tắc do Giám-mục ban hầu có thể cử-hành các bí-tích, ông cũng không thể hóa-giải mọi tội lỗi hoặc cử-hành lễ cưới nam-nữ một cách có hiệu-lực được.


Duy nhất chỉ một luật trừ, là: bất cứ linh-mục nào, kể cả những vị đã hồi-tục, đều có thể thực-thi hóa-giải đúng theo luật các hối-nhân đang trong tình-trạng sắp ra đi, cũng đều được (Giáo luật số 292, 976) (X. Lm John Flader, The effects of laicisation, The Catholic Weekly 26/5/2019 tr. 21)



Hôm nay, cứu xét hiệu-năng/hiệu-lực của các đấng bậc đã hồi tục như trên, cũng là cách để bạn và tôi, ta rà lại chút Giáo-luật, mà có lẽ ngày nay ít người để tâm hoặc để bụng hoặc lo-lắng.   
     

Có để tâm lo-lắng chăng, hẳn cũng nên lo và để những gì được đấng thánh hiền bảo ban như sau:


“Vì chúng ta tin,
nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta
vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa,
như chúng ta đang được hiện nay;
chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng
được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.
Nhưng không phải chỉ có thế;
chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân,
vì biết rằng:
ai gặp gian truân thì quen chịu đựng;
ai quen chịu đựng,
thì được kể là người trung kiên;
ai được công nhận là trung kiên,
thì có quyền trông cậy.”
(Rôma 5: 2-4)
 

Nói khác đi, ưu-tư hoặc để tâm, để bụng về một vài trường hợp trong Đạo, cũng là cách để ta học hỏi những điều, ta quên sót. Suốt một đời.

Để minh họa những điều nêu trên bằng một truyện kể dùng làm kết luận, nay mời bạn/mời tôi, ta đi ngay vào ý chính của câu truyện như sau:


Một hôm, cô gái và bà mẹ cãi nhau. Sau đó, cô bỏ nhà ra đi. Cô ta chạy rất lâu. Thấy phía trước có tiệm mì, lúc đó, cô mới cảm thấy đói bụng. Nhưng khi cô sờ vào túi, thì một xu cũng không có.

Bà chủ tiệm mì là người tốt bụng, tinh tế. Thấy cô gái đứng đó liền hỏi:
-Có phải con muốn ăn mì.

Cô gái trả lời một cách ngại ngùng:
-Nhưng con không mang theo tiền.
-Không sao, bà có thể mời con ăn.

Bà chủ mang đến một tô mì nóng hổi. Cô ta rất cảm kích, mới ăn được một ít, thì nước mắt đã chảy ra, rơi xuống tô mì.

Bà chủ an ủi:
-Con làm sao vậy?.

Cô gái vừa lau nước mắt vừa nói:
-Con không sao cả, con chỉ cảm kích. Con và bà không hề quen biết nhau, vậy mà bà đối xử với con thật tốt, còn nấu mì cho con ăn nữa. Nhưng con đã cãi lời mẹ và bà đã đuổi con ra khỏi nhà. Bà còn bảo con đừng quay trở lại nữa.

Bà chủ nghe xong, rồi bình tĩnh nói:
-Sao con lại nghĩ như vậy? Con nghĩ thử xem, bà chỉ nấu cho con ăn một bữa, mà con lại cảm kích. Vậy mẹ con đã nấu mười mấy năm cơm gạo cho con ăn, sao con không cảm ơn mẹ mà còn cãi nhau với mẹ.

Nghe xong cô gái lặng người. Cô ăn hết tô mì một cách vội vã, rồi lập tức chạy về nhà. Khi về đến nhà, thì thấy mẹ đang đứng trước cửa đợi. Vừa thấy cô người mẹ rất vui mừng:

-Mau vào nhà, cơm mẹ đã nấu xong rồi, thức ăn nguội hết rồi.

Lúc đó, nước mắt của cô gái lại chảy!


Có chảy nước mắt xuống bát cơm hoặc tô mì hay không, điều này vẫn tùy tình-huống trong đó mỗi người đang sống. Có chảy nhiều nước mắt trong suốt cuộc đời, lại cũng tùy mỗi người và mọi người suy và nghĩ thế nào về những gì mình học được trong cuộc đời. Thế đó, là lời cuối của tôi, của bạn và của ai đó làm bằng chứng cho tình thân thương, rất để đời.


Trần Ngọc Mười Hai
Cũng lòng nhủ lòng
Trở về với những gì cứng ngắc
rất đúng luật.