Monday, 11 March 2019

“Em gái vườn quê”

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ hai mùa Chay năm C 17/3/2019

“Em gái vườn quê”
Cuộc đời trong trắng”
Dầm mưa dãi nắng
Mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm.
(Hoàng Thi Thơ – Duyên Quê)

(Rm 9: 15-17)

Đã là “Duyên Quê”, thì không chỉ có em mà cả anh nữa. Hết mọi người. Ở thời này. “Duyên Quê” hôm nay, còn là cái duyên của người còn ở quê nhà hay đã xa quê từ lâu lắm, rất nhớ nhung.

            Duyên Quê hôm nay, nhiều nhung nhớ rất quê mình, và quê người, cùng một lối. Rất tương lai, mai ngày và mãi mãi cứ là duyên và quê nhà thương yêu, diễm kiều, đầy chất thơ. Và, chất nhạc nhiều thơ, không ơ hờ và cũng chẳng thẫn thờ, một chiều mơ. Rất tuyệt diệu.

            Duyên Quê hôm nay, còn là tính-chất rất có duyên của những người không còn quê mùa, nhưng vẫn vương vấn tính-chất rất “quê vườn” của mình và của người, khá tuyệt vời. Tuyệt vời với tuyệt chiêu hay tuyệt cú mèo hay tuyệt gì đi nữa, nay mời bạn và mời tôi, ta rong rả thả hồn đi rong vào lòng người để thưởng thức một ý nguyện nào đó trong đời, như ý của vị trưởng thượng, qua câu hỏi/đáp rất như sau:


“Hỏi, là hỏi những câu được bạn đọc nọ từng hỏi như sau:

“Thưa Cha,

“Con có người Chú từng là huấn-luyện-viên môn Yoga và ông là người Công Giáo sùng đạo, không bỏ lễ ngày nào. Theo con, theo cách nào đó: môn Yoga không thích-đáng với niềm tin đi Đạo của ta. Vậy, xin cho con chút ánh sáng soi tỏ vấn-đề này, để bà con đi Đạo có đường mà tin cho đúng cách. Được vậy, con cảm ơn Cha rất nhiều.” (Câu hỏi từ một người mộ đạo nhưng không ghi quí danh)

Và câu trả lời của đấng bậc vị vọng ở Sydney vẫn được coi là chính qui/chính mạch như sau:

“Để đáp trả câu hỏi của anh/chị, tôi xin mượn lời Thày Giảng Max Sculley DLS từng viết cuốn “Yoga, Tai Chi, Reiki: hướng-dẫn người theo chân Chúa giữ Đạo” do nhà xuất bản Modotti Press ở Ý đưa ra. Tác-giả nói rõ ý-tưởng bảo rằng: dù nhiều nhóm hội/đoàn thể Công-giáo lâu nay vẫn giới-thiệu và giải thích nhiều về “Yoga”, nhưng việc thực-thi các lời khuyên bảo ấy đã và đang đem đến mối hiểm-nguy không nhỏ cho niềm tin đi Đạo của chúng ta. Tôi xin tóm kết những điều ngài nói để anh/chị và mọi người hiểu là tôi đề-nghị nên cuốn sách. Tóm gọn như thế này:


Yoga không chỉ là một loạt động-tác luyện tập để gỡ bỏ mọi căng thẳng và đề xuất lối sống làng mạnh cả về thân xác cũng như tinh thần. Dù lâu nay ta có nhiều hình thức luyện tập yoga rất khác biệt, nhưng phần lớn đều gồm tóm một số thế đứng, động-tác làm chậm hơi thở của người thực-thi động tác  trong lúc tập trung cả vào não bộ thần-kinh lẫn xác thể và cứ thế lặp đi lặp lại tư-tưởng hoặc câu nói nào đó. Tất cả chỉ để hấp-thụ hơi thở hoặc năng-lượng thần thiêng, từ không trung và chuyển tải vào cơ thể như thể đi vào trạng-thái ý-thức.


Người thực-hiện các động-tác như thế vốn học cách cảm-nhận hơi thở và đưa nó đi thẳng vào bẩy trung-khu tập-trung năng lượng khác nhau hoặc các trung-tâm chứ năng lượng bắt đầu đi sâu vào vòm nhọn và đỉnh đầu.


Đỉnh cao đạt được khi đầu não trở nên trống rỗng kéo dài thời-gian và người thực-hiện đi vào trạng-huống tự nhận thức chính mình và soi sáng con người mình, biết rõ rằng mình hiện đang thăng-hóa và nhập-cuộc với vũ trụ.


Muốn nên một với cõi trời thăng-hóa, đối với người Ấn-giáo, là trở nên một với Brahma, tức ngã vô cả, tức năng-lương vô-biên vốn là tạo-hóa dựng nên tất cả mọi sự trong vũ trụ. Vũ-trụ đây, đến lượt mình, lại cũng kéo dài cái ngã của Brahma, đó là theo niềm tin thần thánh của người Ấn-giáo vẫn cho rằng mọi sự trong thiên-nhiên đều là thần thiêng thánh hóa cách nào đó, thôi. Cũng là chuyện dễ hiểu khi bảo rằng Yoga trở-thành phổ-cập với những người sủng ái ở Thời Đại Mới.


Theo lý-thuyết của Yoga, thì khi năng-lượng thần thiêng bốc lên ngang qua mọi giai-tầng của “chakra” tức trung-khu năng-lượng mà con người nhận được quyền-uy tâm-linh thích-ứng với từng cấp-độ. Việc này bao gồm cả khả-năng đọc được ý-nghĩ của người khác, biết được cuộc sống trong quá-khứ hầu giao-tiếp với thế-giới tinh-thần, gồm cả các hồn thiêng của người đã chết, có mãnh-lực thấu suốt, tự nâng bổng chính mình và có nặng-lực chữa lành mọi sự.


Việc nâng bổng hơi thở ngang qua thể xác được nữ thần Ấn-giáo là Kundalini tượng-trưng-hóa thành con rắn cuộc cong nằm ngủ dưới bệ cột sống đã trỗi dậy và cuối cùng lợp-lực vào với trung-khu năng-lượng thần thiêng cùng với thần Shiava của tín-đồ Ấn-giáo.


Thành thử, hỏi rằng tại sao Yoga là nguy-hiểm đối với niềm tin của người đi Đạo Chúa, thì cũng rõ như ta từng thấy nãy giờ, toàn-bộ niềm tin vào “năng-lượng thánh thiêng” trong vũ trụ mà con người có được con đường dẫn vào cơ thể khiến mình có khả năng biến con người mình trở thành thần thiêng theo cách nào đó. Và trở nên Một với Chúa , tức: đi ngược lại niềm tin của người Đạo Chúa. Đó chính là sự tin tưởng theo phái phiếm thần vẫn cho rằng Thiên Chúa đồng-hóa với thiên-nhiên.


Cả vào khi con người hình-dung “năng-lượng” này như ân-huệ của Thiên Chúa hoặc của Chúa Thánh Thần đi nữa, và Ngài đã làm thế trong thời kỳ nào đó hoặc theo cách nào đó đi nữa. Ta cũng không thể tạo đường luồng nối kết với ân-huệ hoặc với Thần Linh Thánh Ái vào chính con người mình duy nhất chỉ bằng cách có được lòng muốn như thế.


Thêm điều nữa, là: tình-trạng ý-thức được thay thế vốn dĩ là mục-tiêu của phái Yoga trong đó trí-tuệ vẫn còn đó và coi như trở nên một với vũ-trụ lại có thể khiến con người cởi mở chính mình ra với loài ma mãnh. Quả thật rất nhiều trường-hợp con người đã vô tình theo học các môn-phái của Yoga để rồi cuối cùng cũng bị đám ma mãnh tạo ảnh-hưởng lên người mình. Và, nhiều người cuối cùng lại cũng bị thứ bệnh tâm-thần nào đó vật ngã. …


Nói cho cùng, thì khi thần-linh của Yoga là năng-lượng vô-hồn, thì Thiên-Chúa của tín-hữu đi Đạo Chúa lại là Đức Giêsu nhập-thể làm người phàm đã thương yêu ta quá độ đến nỗi Ngài chấp-nhận chết trên thập-giá cho ta và ở lại với ta mọi người trong Mầu-nhiệm Thánh Thể.


Tắt một lời, giả như con người muốn có được sự bình yên trong tâm não, tốt hơn cả hãy bước chân vào nguyện đường, ở lại nơi đó một thơi gian mà nghiền ngẫm về tình thương yêu của Chúa đang hiện-diện trong Nhà Tạm, thì ta chẳng còn cần gì đến Yoga, hết.” (X. Lm John Flader “Yoga is out for Christians, The Catholic Weekly 03/3/2019 tr. 21)


Với bần đạo bầy tôi đây, ngẫm nghĩ và ngẫm thầm những điều như thế, khác nào người nghệ sĩ ngoài đời cứ là hát lên những lời đầy ý-nghĩa như sau:


“Em biết mặt anh
Một chiều bên thềm
Giọng hò êm đềm
Và đôi mắt em long lanh sau rèm.

Ai hát ngoài ao
Chừng ngồi giặt áo
Giọng hò êm quá
Mà em ngỡ ai rót mật vào lòng.

Anh cuốc vườn sau
Mặt trời trên đầu
Ruộng vườn lên màu
Vì em ước mong đây đó chung lòng.
Gió xao ao bèo
Em thương anh không kể là giàu nghèo
Miễn rằng tình đặng sơn keo
Núi cao em cũng trèo
Sông sâu em cũng lội
Vạn đèo em cũng qua.

Gió lay cành đa
Anh thương Anh thương em thật thà
Mưa lay hoa cà Da em quá mặn mà
Và thương bao giọt mồ hôi
Đẹp má mặn môi.
Đây miếng trầu cay
Một buồng cau trắng
Một buồng cau trắng
Mà duyên đôi ta nên
Vợ thành chồng.
Một túp lều tranh
Một vầng trăng tròn
Một vầng trăng tròn
Mà tha thiết yêu cho hết tơ lòng.

Cho đến ngày mai
Dù mưa hay nắng
Lòng ta vẫn thắng
Mà đôi chúng ta xây dựng
Đời này ta có bàn tay
Một tình yêu này
Một đời sum vầy
Thì đâu khó chi lấp biển vá trời...”
(Hoàng Thi Thơ – bđd)


Là nghệ sĩ với những vần thơ đơn giản của thi ca/âm nhạc nổi lên nói thay cho mình, thì thiết tưởng tâm tình của người nghệ-sĩ nói đây, cũng đã và đang đề-nghị ta và người hãy hiên-ngang mà ca hát những lời “còn đó nỗi buồn”, qua bài “Duyên Quê” hoặc Duyên (tỉnh thành) có những ý-từ như sau:


“Em gái vườn quê”
Cuộc đời trong trắng”
Dầm mưa dãi nắng
Mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm.
(Hoàng Thi Thơ – bđd)


Duyên quê hay duyên gì đi nữa, vẫn là cơ duyên của người ở quê miền nhà mình rất dễ yêu và dễ mến, rất nhiều thời, mà thôi. Nghĩ thế rồi, nay mời bạn và mời ta, ta cứ thế hiên ngang hát lời lời ca, cùng ý-tứ vẫn tuân trào mà rằng:


“Cho đến ngày mai
Dù mưa hay nắng
Lòng ta vẫn thắng
Mà đôi chúng ta xây dựng
Đời này ta có bàn tay
Một tình yêu này
Một đời sum vầy
Thì đâu khó chi lấp biển vá trời...”
(Hoàng Thi Thơ – bđd)


Duyên gì thì duyên, cũng không bằng “duyên tình” mà Đấng Ở Trên vẫn hằng ban cho ta, và cho người như đấng thánh hiền nhà Đạo từng minh định, như sau:


Thiên Chúa đã phán với ông Môsê:
Ta muốn thương xót ai thì thương xót,
muốn cảm thương ai thì cảm thương.
Vậy người ta được chọn không phải vì muốn hay chạy vạy,
nhưng vì được Thiên Chúa thương xót.
Quả thế, trong Kinh Thánh,
Thiên Chúa cũng nói với Pharaô:
Ta đã cất nhắc ngươi lên,
chính là để dùng ngươi làm cớ cho mọi người thấy sức mạnh của Ta,
và để cho danh Ta lẫy lừng trên khắp hoàn cầu.
Vậy Thiên Chúa thương xót ai là tuỳ ý Ngài,
và làm cho ai ra cứng cổ cũng tuỳ ý Ngài.”
(Thư Rôma 9: 15-17)


Để minh-họa những điều nêu trên, tưởng cũng nên đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta đi vào vùng trời truyện kể có những tình-tiết khiến ta nhớ hoài nhớ mãi một tình-tự làm đoạn kết cho bài phiếm lai rai nhưng không dài, của ngày mai như sau:


“Tại bệnh viện tâm thần nọ, để kiểm tra lần cuối cùng trước khi cho bệnh nhân xuất viện các bác sĩ bèn bàn nhau cho vẽ một cái cửa giả lên tường rồi bảo:
-Các anh hãy mở cánh cửa đó ra là có thể về nhà được rồi!
Các bệnh nhân vui vẻ xông vào cánh cửa vừa mới vẽ để đi ra, duy có một người đứng từ xa không làm gì chỉ cười ngặt nghẽo. Thấy vậy, các bác sĩ vui mừng vì nghĩ anh này đã hết bệnh liền đến gần rồi hỏi:
-Tại sao anh cười?
Bệnh nhân kia bèn đáp:
-Tại vì tôi thấy bọn họ ngu quá.
Các bác sĩ mừng thầm, nhưng để chắc ăn hơn, bèn hỏi tiếp:
-Thế tại sao anh lại bảo bọn họ ngu?
Anh này giơ cái xẻng đang cầm trong tay bèn trả lời:
-Tại vì tui đang giữ chìa khóa cửa ấy đây thì lại sao bọn chúng có thể mớ cái cửa đó ra được!” (Truyện cười đọc trên báo)  


Truyện đọc rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cứ thế hiên ngang mà tiến bước về phía trước mang theo niềm tin tưởng mình đã tạo cho chính mình và mọi người. Ở đời.


Trần Ngọc Mười Hai
Và những tình-tự còn đó
Vẫn không buồn thuở nào đây.

Tuesday, 5 March 2019

“Em ơi! Phương xa nào em có biết”


Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ nhất mùa chay năm C 10/3/2019

“Em ơi! Phương xa nào em có biết”
Có hay tình ta nhớ thương vơi đầy.
Em ơ! Em ơi! ở nơi xa đó có khi nào em tiếc thương ngày cũ
Đắm đuối xa xưa khi sống gần nhau
Hay em quên mau như cơn mơ trở về bến cũ
Khiến ai chờ mong héo hon đêm ngày.
(Nhạc ngoại: Oh Mon Amour – Lời Việt Phạm Duy: Tình yêu, ôi tình yêu)

(1Cor 11: 24)

Vâng. Dù có “nhớ thương vơi đầy”/đầy vơi cho lắm, cũng đâu “khiến ai chờ mong héo hon đếm ngày”, được đâu! Chí ít, là mong chờ ở nhà Đạo là chốn miền vẫn đợi và vẫn cứ chờ con dân khắp nơi “tiếc thương ngày tháng” cũ, thế mới chết!

Hôm nay đây, bần đạo cũng như bạn bè gần xa chắc vẫn nhớ/vẫn thương những “ngày tháng cũ” ấy cả trong cuộc tình lẫn trong đời mình sống đạo theo kiểu mới. Đó, là đôi điều nay được thánh hội Nước Trời khẳng định ở nhiều nơi, tận đất miền rôm rả của chốn ấy rất quận lỵ.

Thế đó, là tình-tự của Giáo hội lâu nay vẫn thế. Không tin ư? Thế thì, mời bạn/mời tôi, ta đi vào sự thể có những tình-huống rất đề-huề, để rồi rút tỉa kinh nghiệm sống cho bản thân. Nhưng trước khi đi vào chi-tiết, mời bạn/mời tôi, ta nghe thêm mấy câu nữa, như sau:

Cuộc tình ngày đó đã ghi trong ta
ôi bao nhiêu ngọt bùi, bao kỷ niệm
Rồi một thời tiếc nuối ôi xanh xao,
nghe tiếc nuối xót xa vô vàng
Giờ chỉ còn nước mắt rưng rưng thôi
Bao nhiêu đêm rồi thức trắng canh trường
mình ta chua xót

Anh nơi phương xa nào anh có biết
có hay tình ta nhớ thương vơi đầy
Anh ơi anh ơi ở nơi xa đó có bao giờ anh tiếc thương ngày cũ?
Đắm đuối xa xưa, khi sống gần nhau
Hay anh quên mau như cơn mơ

Kỷ niệm làm tiếng hát lên chơi vơi
Ôi lung linh tuyệt vời, nghe rã rời
Kỷ niệm làm nước mắt hoen đôi mi sao vấn vương theo bên ta hoài
Này người tình hỡi có nghe không anh?
Bao nhiêu trông chờ, bao nhiêu gọi mời
Tình ta tha thiết
Em nơi phương đây, đường xưa vẫn đó,
dấu chân còn đây, ngóng trông đêm ngày

Anh ơi, anh ơi, vòng tay còn ấm,
môi còn say, cớ sao còn mãi,
cứ mãi lênh đênh như chiếc thuyền trôi,
Trôi đi mênh mang chẳng biết khi nao, trở về bến cũ
khiến ai chờ mong, héo hon đêm ngày.

Anh ơi, anh ơi ở phương xa đó,
nếu mây mù giăng, nếu mưa ngập lối
Hãy nhớ nhé anh, em vẫn chờ mong,
Dang đôi tay yêu trong cơn mơ đường tình yêu
đắm say triền miên khiến ta tình ái
Cất bước lên cao, em vẫn chờ mong ...
Dang đôi tay yêu trong cơn mơ đường tình yêu
đắm say triền miên khiến ta tình ái.”
(Nhạc ngoại: Oh Mon Amour – Lời Việt: Như đã dẫn)  

“Anh nơi phương xa nào anh có biết!” À thì ra là như thế. Phương xa hay trời gần, chỉ là ý-niệm về một không-gian và thời-gian, ít người biết. Chí ít, đó lại là những “phương” và những “trời” rất thời thượng nhưng không thừa. À thì ra, đó lại là và vẫn là những thứ hoặc những sự mà dân con trong Đạo/ngoài đời còn ghi nhận, như Đức Giáo Tông nhà ta hôm nay vừa cho biết, như sau:

Trong ngày họp thứ 3 của Hội Nghị về lạm dụng tình dục tại Vatican, Đức Thánh Cha Phanxicô, các Đức Hồng Y, Giám Mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân đã có cơ hội tự vấn lương tâm và thú tội trong một nghi thức Sám Hối. “Chúng con thú nhận là các giám mục, linh mục, phó tế và tu sĩ trong Giáo Hội đã bạo hành đối với trẻ em và giới trẻ … chúng con đã bao che kẻ có tội … chúng con đã không nhận ra sự đau khổ của các nạn nhân … các giám mục chúng con đã không chu toàn bổn phận”.

“Lời thú tội tập thể của Đức Thánh Cha và của gần 200 hồng y, giám mục và lãnh đạo Giáo Hội được coi là giây phút đánh động nhất trong nghi thức Sám Hối đánh dấu ngày làm việc cuối cùng trong Hôi Nghị về lạm dụng tình dục trẻ em. “Chúng con xin Chúa tha thứ cho chúng con là những người tội lỗi. Xin Chúa thương xót chúng con - Kyrie eleison”.

“Nghi thức Sám Hối bắt đầu bằng một bài thánh ca và một bài thánh vịnh có nội dụng ăn năn đền tội, tiếp theo là bài tin mừng của Thánh Luca về Người Con Hoang Đàng. Sau đó, Đức Tổng Giám Mục Philip Naameh, Tổng Giáo Phận Tamale ở Ghana, đã có bài chia sẻ. Ngài nói: “Rất nhiều lần chúng ta đã im hơi lặng tiếng, nhìn đi chỗ khác, tránh những xung đột. Chúng ta đã quá tự mãn để đối đầu với khía cạnh đen tối của Giáo hội. Chúng ta đã phí phạm niềm tin đặt để nơi chúng ta”.

“Đức Tổng Giám Mục Naameh nhấn mạnh: “Người con hoang đàng đã mất tất cả, kể cả chỗ đứng trong xã hội và danh thơm tiếng tốt. Thế nhưng chúng ta đừng ngạc nhiên nếu chúng ta chịu chung cùng một số phận. Chúng ta không nên than phiền, nhưng trái lại phải tự hỏi chúng ta cần phải làm gì?”

“Theo Đức Tổng Giám Mục Naameh thì các giám mục có thể và nhất quyết phải đi theo bước chân của đứa con hoang đàng là nhìn nhận tội lỗi của mình, công khai thú tội và sẵn sàng gánh nhận mọi hậu quả. Ngài nhìn nhận Hội Nghị mới chỉ là bước đầu. Ngài nói: “Cũng như đứa con hoang đàng trong Phúc Âm khi về nhà, vẫn phải thu phục con tim của người anh”. Đức Tổng Giám Mục kết luận là chúng ta cần phải thu phục con tim của các anh chị em trong các Dòng Tu, trong các Cộng Đoàn, lấy lại niềm tin của họ, và tái lập sự quyết tâm của họ trong việc hợp tác với chúng ta để đóng góp trong việc xây dựng Nước Chúa”.

“Sau bài chia sẻ của Đức Tổng Giám Mục Naameh, các tham dự viên một lần nữa được nghe một nạn nhân kể về trường hợp thương tâm của mình. Đương sự cho biết: “Điều nhức nhối hơn cả là không ai thông cảm và tâm tư này sẽ ở mãi với mình”. Thế nhưng ông đã kết thúc lời chứng bằng một tia hy vọng rằng: “Lúc này tôi đã có thể thích nghi và tìm cách chú tâm vào cái quyền mà Chúa đã ban cho tôi là được sống. Chính điều đó đã cho tôi can đảm để có mặt ở đây”.
(Vaticannews 23/2/2019, Vũ Nhuận chuyển ngữ)
 
“Chú tâm vào cái quyền mà Chúa ban cho tôi được sống”, đó mới là vấn đề. Vấn-đề của sự thực rất thật, trong đời. Sống trong đời, chỉ mỗi thế. Mỗi thế và cứ thế mà sống hoài sống mãi, sống thoải mái suốt đời. Cùng mọi người.

 “Cái quyền mà Chúa ban cho tôi được sống” cho ra người, nay lại bị “đấng bậc vị vọng ở La Mã biến cải thành thứ tình và/hoặc “tội” khiến trở thành vấn-đề thời thượng, như còn được tường-trình như sau:   

Một hồng y có nhiều uy thế tại Hoa Kỳ bị tố cáo xâm phạm tình dục một thiếu nhi cung thánh trong nhiều năm. 

Đức Hồng Y Theodore E. McCarrick là một chức sắc có nhiều uy tín và thế lực tại Hoa Kỳ hồi tháng qua đã bị Toà Thánh giải nhiệm công tác mục vụ sau một lời tố cáo có cơ sở liên quan đến việc xâm phạm tình dục một chú giúp lễ 16 tuổi vào năm 1971.

Trong khi đó một thiếu niên khác tên là James lúc đó 11 tuổi khi cha Theodore E. McCarrick bước vào phòng ngủ của cậu tại Northern New Jersey. Cha McCarrick lúc đó 39 tuổi và là một “ngôi sao đang lên” trong Gíao Hội Công Giáo tại Mỹ. Cha là một người bạn thân của gia đình mà 6 anh chị em - kể cả James - thường gọi cha McCarrick một cách thân tình là “Chú Teddy”. Lúc đó James đang thay quần áo để xuống nhà ăn tối. 

James, năm nay 60 tuổi kể lại trong một cuộc phỏng vấn hồi tuần qua là: “Lúc đó cha McCarrick nói với tôi xoay người lại. Thật sự tôi không muốn bởi vì tôi không thích cho ai thấy khi tôi trần truồng”. James kể tiếp: “Thế nhưng tôi sững sờ khi thấy cha McCarrick cũng tụt quần xuống và nói “Con thấy không chúng ta đều như nhau. Không sao cả”.  

Đó là giây phút khởi đầu cho một mối tương quan “tình dục” kéo dài gần 20 năm. Trong cuộc phỏng vấn, James tiết lộ đây là lần đầu tiên anh công khai nói về chấn  thương này. Anh yêu cầu không tiết lộ tên Họ để bảo vệ sự riêng tư của gia đình. Thời gian qua đi và cha McCarrick trở thành một hồng y, một khuôn mặt có nhiều uy thế trong Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ. Hồi tháng qua, bất ngờ ngài bị giải nhiệm quanh một lời cáo buộc có cơ sở cho rằng ngài đã xâm phạm tình dục một thiếu nhi cung thánh năm 1971. 

James tâm sự tiếp: “Bản tin này đã thay đổi cuộc sống của tôi. Tôi đã quỳ xuống và cám ơn Chúa vì tôi không đơn độc một mình”. Không cầm được nước mắt James nói: “Bây giờ tôi có thể nói cho mọi người và người ta sẽ tin tôi”. 

Các cuộc phỏng vấn và các tư liệu mà tờ báo The New York Times có được sau khi ĐHY McCarrick bị giải nhiệm cho thấy trong hàng giáo phẩm có một số người đã hay biết từ nhiều thập niên những cáo buộc liên quan đến chuyện sách nhiễu tình dục và sờ mó các chủng sinh. 

Hôm thứ hai, Tờ The Times đưa tin là một cựu linh mục tên là Robert Ciolek vào năm 2005 đã nhận được khoản tiền bồi thường 80.000$ để dàn xếp cáo buộc cho rằng khi ĐHY McCarrick còn là giám mục ở New Jersey hồi thập niên 1980 đã sách nhiều tình dục và sờ mó đương sự. Năm 2007, một cựu chủng sinh khác đã nhận được khoản tiền 100.000$ cũng để dàn xếp một cáo buộc tương tự. 

Thế nhưng cáo buộc của James - cho rằng đã bị liên tiếp xâm phạm tình dục khi còn là thiếu niên - được coi là nghiêm trọng nhất đối với vị hồng y mà nay đã 88 tuổi hiện đang sống lặng lẽ tại Washington DC. Hôm thứ hai, James đã báo cáo toàn bộ nội vụ cho đồn cảnh sát Loudoun County Sheriff’s Office ở Virginia là nơi anh đang sinh sống. 

Còn Đức Hồng Y McCarrick vào hôm thứ tư, qua một phát ngôn viên là Susan Gibbs, cho biết ngài không được thông báo về cáo buộc này vì thế ngài sẽ không trả lời. Tuy nhiên bà Susan cho biết là Đức Hồng Y hoàn toàn tuân hành thủ tục mà Giáo Hội đã đặt ra để giải quyết các trường hợp xâm phạm tình dục.

Trong cuộc phỏng vấn, anh James tiết lộ thêm là đã từng thổ lộ với thân phụ của mình về chuyện bị xâm phạm tình dục khi mới 15 tuổi. Thế nhưng cha McCarrick lại được gia đình của anh hết sức yêu mến và kính trọng coi như vị thánh vì thế sự tiết lộ của anh chẳng được ai lắng nghe. 

James từng được chính cha McCarrick rửa tội ngày 15 tháng 6 năm 1958, 2 tuần sau khi được phong chức linh mục theo sổ bộ tại giáo xứ Our Lady of Mount Carmel ở Tenafly, N.J. Trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại có sự hiện diện của luật sư của anh là Patrick Noaker, anh James nói: “Cha McCarrick đã chọn tôi là đệ tử ruột của ngài và gia đình tôi coi đó là chuyện tốt cho tôi và khi tôi nói chuyện gì khác thì gia đình tôi coi đó là chuyện không đúng. Vì thế tôi chỉ còn biết rút mình vào trong vỏ sò trong suốt 40 năm qua”.   

Sau khi biết chuyện Đức Hồng Y bị giải nhiệm, James bắt đầu kể lại cho gia đình biết những gì đã xảy ra cho mình. Sự liên hệ giữa cha McCarrick và gia đình của James rất sâu xa và gắn bó. Chính Đức Hồng Y qua những cuộc phỏng vấn kể về một người bạn chí thân thời trung học thuộc một gia đình gốc Thuỵ Sĩ. Người bạn đó chính là chú ruột của James. 
(Nguồn catholicherald - Vũ Nhuận chuyển ngữ) 

Biết và nhớ câu chuyện về Hồng Y, Giám mục này nọ, còn là biết và nhớ những lời mà đấng thánh hiền khi xưa còn nhắc nhớ như sau:

“Anh em cầm lấy mà ăn,
đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em;
anh em hãy làm như Thầy vừa làm
để tưởng nhớ đến Thầy.”
(1Cor 11: 24)

Biết và nhớ, còn là tưởng nhớ đến Bậc Thầy từng làm nhiều điều cho ta và cho mọi người. Điều Ngài làm, không chỉ như thế và mỗi thế. Nhưng còn hơn thế, rất nhiều. Hôm nay đây, khi đọc giòng chảy này, chắc hẳn người đọc lại sẽ liên tưởng đến những điều mà người nghệ sĩ bên ngoài nhà Đạo còn diễn tả bằng ý thơ và tiếng nhạc, vẫn hát rằng:

Anh ơi, anh ơi ở phương xa đó,
nếu mây mù giăng, nếu mưa ngập lối
Hãy nhớ nhé anh, em vẫn chờ mong,
Dang đôi tay yêu trong cơn mơ đường tình yêu
đắm say triền miên khiến ta tình ái
Cất bước lên cao, em vẫn chờ mong ...
Dang đôi tay yêu trong cơn mơ đường tình yêu
đắm say triền miên khiến ta tình ái.”
(Nhạc ngoại: Oh Mon Amour – Lời Việt: Như đã dẫn)

Tóm lại, đi vào phần kết luận cho câu chuyện cũng khá “Phiếm” hôm nay, tưởng cũng nên nhắc lại lời phát biểu đầy ý-nghĩa như vừa rồi, mà rằng:

“Đức Tổng Giám Mục Naameh nhấn mạnh: “Người con hoang đàng đã mất tất cả, kể cả chỗ đứng trong xã hội và danh thơm tiếng tốt. Thế nhưng chúng ta đừng ngạc nhiên nếu chúng ta chịu chung cùng một số phận. Chúng ta không nên than phiền, nhưng trái lại phải tự hỏi chúng ta cần phải làm gì?”

“Đừng ngạc nhiên”, “Không than phiền”, nhưng vẫn cứ “đầu cao/mắt sáng hướng về phía trước mà sống nốt những ngày còn lại của đời mình. Sống nhanh, sống mạnh, sống vững chãi như chưa bao giờ từng sống như thế. Thế mới hay. Thế mới phải. Hay và phải, như mọi người từng cam-quyết.

Trần Ngọc Mười Hai
Và những giây phút
Tự mình vấn nạn chính mình
để sống cho ra người.