Wednesday, 15 August 2018

“Nhìn về tương lai, thấy con đường dài”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần 20 Thường niên năm B 19-8-2018

“Nhìn về tương lai, thấy con đường dài”
Ta đi và đi mãi, tâm tư miệt mài.
Trong mây chiều, nắng quái.
Thấy bao nhiêu hình hài.
Đọng, giọt sương mai.”
(Văn Phụng – Ave Maria)

(Gioan 14: 6-7)

Chọn đầu đề bài hát “Ave Maria”, dù không là người đi Đạo Chúa, hẳn tác-giả Văn Phụng vẫn trân-trọng giòng tư-tưởng cứ bảo rằng: hễ “nhìn về tương lai” đều thấy “con đường dài” toàn những tâm tư miệt mài”, hình hài … đọng giọt sương mai”, rất “nắng quái chiều hôm”, thôi.

Tương lai đời người quả là như thế. Huống hồ, tương lai con “Đường nhà Đạo” cũng lai rai, hát và viết dài dài ý-tưởng của lời thơ “Ave” tiếp-tục như sau       

“Lòng còn suy tư.
Với bao tưởng nhớ.
Cuộc đời xa xưa.
Nào còn đâu nữa.
Chỉ còn mưa gió.
Chỉ còn câu ca.
Nghẹn ngào khấn khúc:
"Ave Maria
Ave Maria
Ave Maria
Ave Maria
Ave Maria
Ave Maria"
(Văn Phụng – Ave Maria)

Đã hẳn, khấn khúc “Ave Maria” đâu chỉ bao-hàm mỗi ý-tứ hiền-từ cứ mải-mê/ê a hát hoài và hát mãi mỗi câu rầu đến thế! Chắc chắn, tiếng/giọng “Ave” còn là lời chào Mẹ Hiền đầy “sóng-lộc triều nguyên ơn phước cả”, tức: huệ-lộc to tát rất “Maria” đấy chứ!

“Ave Maria”, lại sẽ là tâm-sự nặng tính dịu-hiền của các bà mẹ ở dưới thế. Bởi thế nên, khi đã cất tiếng hát “Ave Maria” chào mẹ hiền ở chốn trần-gian, người hát sẽ ngụ ý một điều, là: các bà mẹ của ta đều hiền dịu, hiền mẫu với hiền thê, cả đấy thôi.

Còn nhớ có lần ở Úc, bậc hiền-mẫu nọ dám quả quyết: “Bà không là mẹ hiền giáo-dân hoàn hảo” hiểu theo nghĩa đặc-trưng “dịu-dàng” bậc hiền-mẫu, hiền-thê hoặc hiền-muội, nhưng bà vẫn dám trả lời/trả lãi cuộc phỏng-vấn đầy ý-tứ và ý-từ như sau:

Hỏi: Có phải là, chị muốn khuyến-khích các gia-đình đặt niềm tin lên hàng đầu, không? Nếu vậy thì, chị sẽ nói điều gì với những người luôn hỏi xem điều đó mang ý-nghĩa gì? Giống thứ nào đây?

Đáp: Bản thân tôi, là người mẹ có hai đứa con trai nay khôn lớn. Dù tôi không là bà mẹ hoàn-hảo, cũng không là người Công giáo tuyệt-trần; nhưng nội mỗi chuyện trở-thành người mẹ của đàn khôn lớn, điều đó có tạo cho anh/cho tôi lợi điểm nào? Nếu bảo rằng: đây là những điều cho thấy ta đã làm nhiều việc cũng rất đúng, thì đây là những sự việc để anh có thể làm theo cách khác hẳn.

Tôi nghĩ, nếu hỏi rằng thế giới nay ra sao, thì ta hãy xem mình có nên đưa vào danh sách các “việc nên làm” gồm toàn những chuyện xảy ra ở trường lớp hoặc bình diện thể-dục/thể-thao thôi. Nhưng, khi ta sống đích-thực cuộc sống có niềm tin đặt ưu-tiên cho những việc tiến-triển tốt đẹp và tái-tạo môi-trường sống rất yêu thương, từ đó nó giúp cho ta và con cháu ta nhiều thứ như thế.

Hỏi: Vậy, chị sẽ gửi đến giới sinh viên/học sinh ở Úc thông-điệp nào đây?     
Đáp: Tôi luôn nhắn nhủ giới sinh viên/học sinh ở Úc chỉ 2 điều: thứ nhất, chúng ta đều thánh-thiện là do sự kiện ta được kêu gọi trở-thành thánh-nhân, và thế giới ta sống đang cần đến các vị ấy ngay lúc này chứ không phải mai sau, như nguồn lực làm tốt mọi chuyện. Thứ hai nữa, ta đều là những người kể truyện Chúa về việc Ngài tạo-dựng nên ta và dấy lên trong ta món quà độc nhất hiếm quí hầu san sẻ những gì về Ngài cho mọi người sống quanh ta.

Thành thử, dù có là bài viết, tranh vẽ hoặc tạo-hình thành các băng video hoặc những ảnh hình tải lên “Youtube” hoặc bất cứ thứ gì mà ta có cách , đôi khi không phải là đường lối rõ ràng về đạo hầu tác tạo thế giới quanh ta khiến nó trở-thành chốn miền tốt đẹp đề sinh sống.

Hỏi: Chị từng viết sách và biên tập các bài viết nói lên tinh-thần tốt đẹp của tình mẫu-tử, vậy có thể nào xin chị tóm tắt công việc ấy gồm những việc gì?

Đáp: Lời kêu gọi Đức Maria nói lời “xin vâng” với Đức Chúa nổi bật rtong cuộc sống mỗi người chúng ta là lời mời gọi tinh-thần mà các bà mẹ đến với quà tặng làm mẹ. Giả như chúng ta là các bà mẹ thì ta không làm như Đức Maria nhưng mỗi người có riêng một sứ vụ gồm địa hạt duy-nhất khả dĩ có thể chúc phúc cho toàn thế giới nhờ vào công việc và lời cầu của ta.

Cũng là điều hay đẹp để nhận ra rằng sứ vụ của chúng ta đôi khi chỉ là ngồi ghế phía trước trên chiếc xe hàng đi xa hoặc chỉ mỗi việc chuẩn bị cơm áo gạo tiền hoặc giặt giũ hoặc sắp đặt phòng họp, hoặc phụ trách công-tác nào khác ở nơi làm việc.

Cả khi ta làm những việc nhỏ nhặt nhưng làm vì tình thương yêu cao cả như gieo hạt trồng cây là vì bọn trẻ đã nhìn thấy và ta dạy dỗ chúng cũng nhiều như khi nói về niềm tin mà không cần nói hơn cả những công việc ta làm với quá nhiều lời nói.

Một trong những khó khăn lớn, đặc biệt đối với phụ nữ, là ta hay có khuynh hướng nhìn quanh quất xem thiên hạ làm gì và nghĩ gì, như thường bảo “Ôi chao, sao gia đình họ tốt đẹp là dường bao, nhìn lại gia đình mình thì đúng là một thất bại thật thảm hại, vv… Tôi vẫn nghĩ đây là chuyện bình thường ở huyện.

Và tôi nghĩ, một trong những việc tiên quyết cần làm là nhìn lại gia đình mình, xứ đạo mình thật đặc biệt, có một không hai, như thế cũng đủ, không  ần phải so sánh với ai hết.

Hỏi: Còn chuyện cầu nguyện, chị làm ra sao và làm những gì thế?
Đáp: Cứ sáng sáng, tôi dâng cả ngày cho Chúa và tâm niệm Lời của Chúa mỗi ngày, đọc Kinh Truyền Tin vào giữa trưa và kết thúc một ngày của mình bằng việc xét mình buổi tối trước khi đi nghỉ. Tôi cũng lần chuỗi Mân Côi theo truyền thống, đôi lúc cũng chỉ cầm xâu chuỗi rôi mân mê nói chuyện với Đức Mẹ xem có ai mong mỏi lời cầu của mình hay không, hôm ấy.

Nhiều lúc tôi cũng cầu nguyện theo kiểu-cách mà tôi gọi là cầu nguyện trong phòng giặt, tức là khi giũ áo quần cùng bí-tất dơ bẩn, tôi lại cầu nguyện cho những người mắc nó; hoặc khi rửa chén bát, tôi cầu cho những người đói kém, không có gì để ăn ngày càng nhiều trên thế-giới. Đây là cách-thức mà tôi gọi là cầu nguyện di-động vào lúc bận rộn khiến tôi thấy mình dễ chịu như đang ở nhà vậy.

Hỏi: Chị có đồng ý khi nhiều người gọi chị là thừa-sai báo chí vào thời thông-số không?                   
Đáp: Chúng tôi khởi đầu việc phát song theo kiểu này từ năm 2007. Lúc đầu tôi tự biên tự diễn chương trình YouTube và Google ở Đại học. Khi tôi bắt đầu mở trang mang có tên là Catholicmom.com, khi ấy tôi bắt đầu gửi điện thư email và chế ra các thiệp chúc mừng ngay trên máy vi-tính, Mỗi thế thôi. Nhưng lúc ấy, tôi cảm thấy không sợ sệt gì hết, bởi tôi tự thuyết phục mình mà nghĩ rằng chúng tôi đang gợi hứng cho nhiều người mỗi khi gặp họ ngay trên đó.

Hỏi: Giờ thì chị có dự tính làm gì khác nữa không?
Đáp: Hiện giờ tôi đang tìm cách cung cấp cho giới trẻ một diễn-đàn lãnh-đạo. Giáo hội cần để tai ra mà nghe ý kiến của người trẻ, họ có nhiều chuyện để dạy ta biết lắm đấy. Tôi cũng bỏ nhiều thì giờ ở trường, đặc biệt là tiểu học, khuyến khích và lắng nghe bọn trẻ nói. Tính sáng-tạo của bọn trẻ nhỏ đã thúc đẩy thổi tôi đi khá xa.

Hỏi: Chị có lời khuyên nào gửi mọi người về việc sử dụng truyền-thông/báo chí để rao giảng không?
Đáp: Hãy cứ ngụp lặn vào với thế giới hiện tại và để cho họ thử thời-vận xem sao. Có thể nói, không phải những gì ta làm thử đều dẫn đến thành quả mỹ mãn hết đâu; nhưng, dù sao cũng đừng sợ, bởi như thánh Gioan Phaolô Đệ Nhị có nói với chúng ta như thế, bởi thế giới đang cần đến tiếng/giọng và nhãn-giới của ta, cũng rất nhiều.          

Chắc một điều là, tôi hy vọng rằng chẳng có ai lại nhìn vào thể-loại truyền-thông của tôi rồi bảo: “Ấy, bà này lại cứ nghĩ rằng bà ấy là người hoàn hảo”, bởi lẽ tôi không là người như thế. Tôi đang rong ruổi trên hành-trình tìm kiếm Đức Kitô và tôi đang chập chững tiến bước với mọi người trong hành-trình này.” (X. Lisa Hendey, “I’m not a perfect Catholic mum”, The Catholic Weekly 2018, News)  

Nói và viết hay như thế, mà sao tác giả vẫn cứ khiêm-tốn bảo rằng mình không là người hoàn hảo. Đã là người, thì làm sao hoàn-hảo được. Cũng hệt như người nghệ-sĩ được nhắc tên ở trên, vẫn hát lên những lời ca như:

“Chỉ còn mưa gió.
Chỉ còn câu ca.
Nghẹn ngào khấn khúc:
"Ave Maria
Ave Maria
Ave Maria
Ave Maria
Ave Maria
Ave Maria"
(Văn Phụng – Ave Maria)

Mưa gió vẫn còn đó. Vẫn có những câu ca đầy “khấn khúc”, rất Ave Maria như thưở nào. Ave Maria, vẫn là khúc ca dành trọn cho mọi người, chứ đâu chỉ bậc hiền mẫu, mà thôi đâu! Điều này, được chứng minh qua truyện kể nhẹ ở đây đó, khiến cả bạn lẫn tôi, ta cũng không nên bỏ qua.

Hát bài ca “Ave Maria”, là hát lời ca/tiếng hát dẫn về với lời của Đấng Thánh Hiền khi xưa từng nhắn nhủ mọi người, bảo rằng:

“Đường và sự Thật và sự Sống chính là Ta.
Không ai đến với Cha mà không nhờ Ta.
Nếu các ngươi biết Ta,
tất các ngươi cũng biết Cha Ta,
Ngay từ bây giờ, các ngươi Ngài
và đã thấy Ngài."
(Gioan 14: 6-7)

Vậy nên, trước khi về với đoạn kết câu chuyện Phiếm hôm nay, tưởng cũng nên mời nhau nghe lại đôi giòng truyện kể khá dễ nể, để rồi bạn và tôi, ta suy tư sự đời như bên dưới:

“Truyện rằng:
Trong một chương trình radio mang tên “Nẻo về của trái tim”, một cô gái mù đã gửi cho những người làm chương trình câu chuyện của mình. 

Mong muốn của cô là được chia sẻ niềm hạnh phúc mà mình đang có và gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới một người.
Tôi là một kiến trúc sư vui vẻ, hoạt bát. Cách đây một năm, tôi là người vợ hạnh phúc nhất. Khi thức dậy cùng người mình yêu vào mỗi sáng, chúng tôi thường cùng nhau thưởng thức một tách trà trong không gian yên tĩnh đầu ngày. Chúng tôi xây dựng cho mình một thói quen: sẽ luôn cố gắng chia sẻ với nhau những suy tư và cảm nhận chân thật nhất của mỗi người để gìn giữ hạnh phúc.
Cuộc sống của chúng tôi êm đềm trôi qua cho tới một ngày. Trên đường từ bến xe buýt vào tới công ty, tôi thấy mọi thứ như nhòa đi trước mắt, chỉ còn lại những tiếng còi xe inh ỏi. Rồi tôi lập tức được đưa vào bệnh viện. Ngày hôm đó, tôi vẫn còn nhớ rất rõ ràng cảm giác khi nghe câu kết luận của bác sĩ:
“Đây là một căn bệnh thoái hóa nên chúng tôi cũng không thể giúp được gì”. 
Bác sĩ còn giải thích rất nhiều điều nữa, nhưng trong đầu tôi chỉ còn đọng lại duy nhất câu nói: “Cô sẽ sớm bị mù”.
Tôi không biết các bạn sẽ cảm thấy ra sao khi đối diện với sự thật này. Còn tôi, tôi đã đầu hàng một cách hèn nhát. Tôi khóc, tôi cáu bẳn thậm chí nhiều lần gắt gỏng, đặc biệt khi chỉ có tôi và anh, trong căn nhà hạnh phúc của chúng tôi. Tôi đã rất sợ, sợ bị rơi vào bóng tối, sợ phải làm một người mù và sợ nhất rằng tình yêu của anh dành cho tôi cũng sẽ không còn.
Tôi không còn dùng trà vào mỗi buổi sáng với chồng nữa. Bởi tôi muốn tất cả phải chịu trách nhiệm về căn bệnh của mình, đặc biệt là chồng tôi. Trước sự thay đổi chóng mặt của vợ, chồng tôi không nói gì, anh chỉ lẳng lặng quan sát và chịu đựng những cơn nóng giận vô cớ. Hơn thế anh giúp tôi làm mọi công việc nhà bất chấp sự phản đổi đầy ngang bướng của tôi. 
Thời gian đó, ông chủ vẫn sắp xếp cho tôi một công việc nhỏ trong văn phòng. Nhờ đó, tôi có thể được ra ngoài vào mỗi sáng. Được đi làm đã trở thành niềm hạnh phúc nhất của tôi khi ấy. Công việc cho tôi cảm giác tôi không phải là người thừa, tôi được chứng minh sự mạnh mẽ của mình và thỏa mãn cái tôi đang bị tổn thương ghê gớm. Tôi quyết định vẫn đi xe buýt tới công ty như tôi luôn làm trước đây.
Tôi biết mình đã rất quen với con đường và tôi cũng đã dần thành thục việc sử dụng cây gậy cho người mù.  Chồng tôi đề nghị, hãy để anh đưa tôi đi làm mỗi sáng và trở về đón tôi mỗi buổi chiều. Nhưng tôi từ chối, tôi không muốn anh phải vất vả như vậy, bởi nơi chúng tôi làm việc cách nhau rất xa. Chồng tôi không phản đối, anh chỉ nói: “Hãy cẩn thận khi qua đường nhé, ngã ba đó khiến anh lo lắng hơn cả”. Tôi giữ im lặng trước lời dặn dò của anh.
Mọi chuyện sau đó diễn ra suông sẻ ngoài mong đợi của tôi. Có lẽ sư lo lắng của tôi và chồng đều là thái quá. Khi dừng đèn đỏ ở ngã ba đầu tiên, tôi nhớ lại lời của chồng và bắt đầu cảm thấy sợ. Ngay lúc ấy có một giọng nói nhỏ nhẹ vang lên:
-Cô ơi, cô có thể dẫn cháu qua đường không? 
Tôi quá đỗi ngạc nhiên với câu hỏi của cậu bé, hình như cậu bé không biết tôi bị mù.
-Cháu à, cô xin lỗi, nhưng cô sẽ không bảo đảm an toàn được cho cháu vì cô không nhìn thấy… Tôi chưa kịp nói hết câu thì cậu bé chen vào.
-Cháu biết cô bị mù, cháu xin lỗi ý cháu là cô không nhìn thấy, nhưng không sao. Cô là người cao lớn, những người lái xe sẽ nhìn thấy cô, họ sẽ tránh chúng ta. Còn cháu sẽ dắt cô qua đường, cháu sẽ làm đôi mắt cho cô ở ngã ba này nhé.
Trước lời nói ngây thơ của cậu bé, tôi thấy mũi mình cay cay. Chuyển gậy dò đường sang tay phải, tôi chìa bàn tay còn lại để nắm lấy bàn tay nhỏ bé đó. Cậu bé nắm tay tôi thật chặt. Cái siết tay của cậu khiến tôi có thêm rất nhiều tự tin. 
Hóa ra tôi vẫn còn có ích, vẫn có thể giúp đỡ một ai đó chứ không hoàn toàn là “đồ vô dụng” như tôi luôn nghĩ về mình sau khi không còn nhìn thấy. Bên trong tôi bất giác thấy lại được niềm vui. Cậu bé quả là một người dẫn đường tài tình, chúng tôi đã qua đường an toàn và dường như không làm một người lái xe nào nổi giận. Khi chia tay ở ngã ba, cậu bé nói:
-Cháu hy vọng mai cô sẽ lại ở đây nữa, vì sáng nào cháu cũng phải đi qua ngã ba này để đến trường. Cảm ơn cô nhiều nhé. Giờ cháu đi học đây.
Cậu bé chào tôi và chạy đi nhanh như một cơn gió. Trước khi đi, cậu bé quay lại, nói thật to:
-Hẹn cô ngày mai nhé, cháu sẽ chờ cô đấy”. Cậu bé khiến nụ cười trở về trên môi tôi, đôi má tôi cũng ửng hồng. 
Một cảm giác ấm áp khiến những căng thẳng bao ngày qua tan mất. Có lẽ ai đó nhìn thấy tôi lúc ấy sẽ phải thắc mắc: Cô gái mù ấy sao lại cười rạng rỡ thế?
Không để tôi thất vọng, ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa, cậu bé vẫn xuất hiện và chúng tôi đã trở thành đôi bạn “chinh phục ngã ba” từ đó. Đôi lúc chúng tôi còn nán lại nói chuyện với nhau. Tôi đã biết cậu bé thiên thần ấy (chí ít là với tôi) tên là Jimmy. Jimmy nhỏ người, mặt nhiều tàn nhang, tóc màu hung và có một cái mũi hơi kì lạ. Đó là dáng vẻ mà cậu bé tả về mình cho tôi nghe.
Nhờ Jimmy bé nhỏ, tôi dần lấy lại niềm vui trong cuộc sống của mình. Tôi cũng đã có thể đối đãi dịu dàng trở lại với chồng, không còn nặng nề với anh nữa. Nhưng cảm giác muốn mở lòng để chia sẻ với chồng vẫn chưa trở về.
Niềm vui của tôi chỉ kéo dài được một tháng. Sáng hôm đó, khi ở ngã ba tôi không thấy Jimmy, cậu bé đến muộn chăng? Tôi chợt hiểu ra rằng hình như những đứa trẻ đã kết thúc năm học và Jimmy sẽ không đến trường ngày hôm nay. Tôi chưa biết làm thế nào để qua đường khi không có người hoa tiêu nhỏ bé, tiếng lanh lảnh quen thuộc vang lên: “Cô James chờ cháu.”
-Cháu đấy à, cô mừng quá, cô cứ nghĩ là cháu sẽ không đến.
-Cháu không thể để cô một mình qua đường được. Đó là lời hứa danh dự. Nhưng cháu sắp theo bố mẹ về quê với ông bà rồi. Cô biết mà, trường học đã nghỉ hè và hôm nay là ngày cuối cùng cháu ở đây.

Tôi cảm thấy lo lắng và hơi buồn, nhưng cố trấn tĩnh. Tôi hỏi Jimmy về “lời hứa danh dự” của cậu bé, điều khiến tôi cảm thấy rất tò mò.
-Cháu đã hứa với một người. Nhưng chú ấy không cho cháu nói điều này với cô.

Chúng tôi cùng nhau băng qua đường trong im lặng. Nhưng khi tới nơi, cậu bé níu tay tôi lại, hỏi rằng tôi có thể đi với cậu bé một chút không? Tôi đồng ý và chúng tôi thả bộ cùng nhau trong một công viên gần đó. Hóa ra cậu bé muốn kể cho tôi nghe về lời hứa danh dự của mình.

Ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau, đã có một người đàn ông nhờ cậu bé dắt một phụ nữ xinh đẹp nhưng bị mù qua đường. Người đàn ông ấy giải thích với cậu bé rằng, đó là vợ chú. Cô ấy vừa bị mất đi đôi mắt và chú không thể yên tâm để cô ấy một mình đi qua con phố đông đúc này. Nhưng chú cũng không thể tự tay dắt cô sang đường, vì cô đang đóng cửa tâm hồn mình với chú.

Nước mắt tôi bắt đầu rơi. Cậu bé tiếp tục kể. Cậu bé đã đồng ý giúp người đàn ông lạ mặt đó:
-Không chỉ một lần, cháu không biết tại sao nhưng khi nghe chú ấy kể về cô, cháu nhớ đến cách bố cháu nói về mẹ, đầy yêu thương. Vì thế, cháu đã hỏi chú ấy có cần cháu giúp những ngày tiếp theo không. Đôi mắt của chú ấy lúc đấy rạng rỡ như mắt cháu lúc được đi chơi hay ăn kem vậy.
-Đó là lý do vì sao sáng nào cháu cũng ở đây chờ cô?”“Vâng, nhưng không chỉ chờ cô, cháu chờ cả chú ấy nữa. Chú ấy ngày nào cũng đi qua đường với chúng ta mà. Chú chỉ lặng lẽ đi cạnh cô, cách cô một đoạn để cô không cảm thấy sự có mặt của chú ấy. Chỉ khi cô cháu mình sang đường an toàn chú ấy mới đi làm.
-Thật vậy sao? Tôi không còn biết nói gì hơn.
-Cháu không định nói chuyện này cho cô nghe. Nhưng ngày mai cháu đi rồi. Cháu sợ cô sẽ thấy hoang mang vì không có cháu. Thêm nữa cháu sợ cô vẫn giận chú”. “Vậy hôm nay chú ấy có đi cùng chúng ta không, Jimmy? 

Chồng tôi đã đứng đó từ bao giờ. Anh đã lắng nghe câu chuyện của cô cháu tôi. Tôi không biết khuôn mặt anh lúc ấy như thế nào. Chỉ biết có một bàn tay to lớn, ấm áp và rất quen thuộc nắm lấy bàn tay tôi, nhẹ nhàng dắt tôi đi hết quãng đường từ công viên tới văn phòng.

Sau ngày hôm ấy, tôi đồng ý để chồng chở đi làm, và buổi chiều tôi đi xe buýt về, anh đã nhờ được một người bạn trong công ty đưa tôi ra bến xe. Tôi còn được biết, công việc mà ông chủ sắp xếp cho tôi chính là nhờ anh đã tới gặp và thuyết phục ông.

Đó là câu chuyện tình yêu mà tôi muốn chia sẻ với các bạn. Những ngày tháng vừa qua đã khiến tôi nhận ra rằng: Trong cuộc sống nhiều đau khổ này, tình yêu thực sự hiện hữu, và nó mang một sức mạnh chữa lành thật to lớn. Khi nghĩ về sự nhẫn nại của anh suốt thời gian cùng tôi và Jimmy sang đường, khi cảm nhận được rằng trái tim chan chứa thiện niệm của anh luôn nghĩ cho cảm giác của tôi, nghĩ đến việc làm thế nào để tôi an toàn và hạnh phúc nhất, tôi mới hiểu ra thế nào là thực sự yêu một ai đó.

Chia sẻ câu chuyện này cũng là cách tôi muốn anh biết: Từ tận đáy lòng, tôi biết ơn tình thương và những điều anh đã dành cho tôi. Và hơn thế, anh và Jimmy bé nhỏ đã cho tôi hiểu và học được rằng yêu thương một người là dành cho người đó sự bao dung, nhẫn nại và những điều thiện lành nhất mỗi ngày. 

Bị mù hay không, đó vẫn là tình-trạng rất thường tình, trong đời. Nhưng đối xử với người mùa hoặc mắt vẫn là vấn-đề thường thình của mọi người. Bởi, đã là người ở đời, ai cũng trông vào tương lai mai ngày mà hy vọng.
Đó là lý-lẽ của cuộc sống, và cũng là ý-tưởng được đưa vào Chuyện Phiếm hôm nay, để mọi người có cơ hội mà tư duy, nghĩ ngợi cho mình và cho đời
Trần Ngọc Mười Hai
Và những tư duy
hằng ngày trong đời.

Tuesday, 7 August 2018

“Tình đẹp tựa mùa thu vàng”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần 19 Thường niên năm B 12-8-2018

“Tình đẹp tựa mùa thu vàng”
Tình mình nhiều mộng ước mênh mang
Tình là một chuyện huy hoàng
Tình là mình thành nhớ hoang mang.”
 (Văn Phụng – Tình)
(Mt 25: 40)

Quả thật, rất như thế. Truyện muôn màu ở đời người, vẫn được gọi là “Tình”. Tình đó “đẹp như mùa Thu vàng”, “nhiều mộng ước mênh mang”, rồi lại là “bài thơ sầu”, nỗi “nhớ hoang mang”, cũng đều thế.

Tình, còn hơn thế, rất đáng nể nhất thứ là khi ta yêu nhau, sẽ lại thấy những điều như:

“Tình đẹp tựa mùa thu vàng
Tình mình nhiều mộng ước mênh mang
Tình là một chuyện huy hoàng
Tình là mình thành nhớ hoang mang
Yêu nhau khi xuân tươi thắm
Yêu nhau trong tiếng ca tiếng đàn
Yêu nhau trong muôn tia nắng
Yêu nhau trong ánh trăng mơ màng
Yêu nhau khi sương thu rơi
Yêu nhau khi hoa lá xanh tươi
Yêu nhau khi mưa đông rơi
Yêu nhau Yêu nhau mãi suốt đời.
(Văn Phụng – bđd)

Quả có thế, nên tác giả mới lại cất thêm những âm-thanh “ú ù u” … những là “u sầu”, như sau:  

Ú . . . ù u
Ú . . . ú ù u
Ú . . . ù u
U . . . ú u ù

Và rồi, tình còn là “chuyện âu sầu”, “nỗi thương đau” và gì gì nữa rất như sau:

Tình là một chuyện âu sầu “
Tình là mình nhiều nỗi thương đau
Tình là một chuyện chia lìa
Tình là mình thổn thức đêm khuya
Tình đẹp tựa mùa thu vàng
Tình là mình lệ ướt rơi tuôn
Tình là một chuyện đau lòng
Tình là mình mỏi mắt chờ mong
Yêu nhau chi cho thương nhớ
Yêu nhau chi khiến đôi mắt mờ
Yêu nhau sao không đi tới
Yêu nhau sao đã quên nhau rồi
Yêu nhau chi cho tan mơ
Yêu nhau chi cho mắt hoen mờ
Yêu nhau chi cho thương đau
Yêu nhau chi cho mãi âu sầu
(Văn Phụng – bđd)

Hát thế xong, người hát lại cứ bảo:
“Đành rằng tình là âu sầu
Đành rằng tình là nhớ là đau
Đành rằng tình là chia lìa
Đành rằng tình là khóc dêm khuya
Đành rằng tình là ..đau buồn
Đành rằng lệ mình ướt rơi tuôn
Đành rằng tình là ..đau lòng
Đành rằng tình là mãi chờ mong
Nhưng sao ta mơ yêu mãi
Nhưng sao ta vẫn thương nhớ hoài
Mơ yêu đương trong tia nắng
Say sưa trong ánh trăng mơ màng
Bâng khuâng khi sương thu rơi
Cô đơn khi hoa lá tơi bời
Lang thang khi mưa rơi rơi
Mơ yêu đương mơ mãi suốt đời......
(Văn Phụng – bđd)

Thế đó, là đời người gồm đủ mọi thứ chuyện, rất muôn màu. Thế đó, còn là con người, có đủ bảy thứ tình-tự không thiếu thứ nào, vẫn trào dâng miên man, suốt muôn kiếp.

Thề còn, tình người đi Đạo thì sao? Vâng. Cũng hơi giống thế. Người đi Đạo, cũng không né tránh vấn đề lỉnh kỉnh mà người viết ở dưới từng phân-trần, như sau:

“Giám mục Terry Brady, Giám mục Phó Địa-phận Sydney có thói quen vẫn giảng rằng: Đức Giêsu đến ở giữa chúng ta qua hình-dạng của người bình thường sống ở huyện, nhưng ta lại không nhìn thấy. Những lời như thế đã khiến tôi mang hy vọng rằng một ngày nào đó tôi lại cũng bước ra khỏi tình-huống gặp gỡ ai đó rồi tự bảo mình rằng: cũng có thể là người tôi vừa giáp mặt, chính là Đức Giêsu mà tôi không rõ.

Và, chuyện ấy xảy ra vào buổi tối Thứ Sáu tuần vừa qua. Số là, tối hôm ấy, tôi đáp tàu lửa tại trạm Town Hall ở Sydney hôm ấy khá trễ để về nhà, nên không phải leo lên leo xuống các bậc tam cấp cũng khá nhiều rồi lại phải chạm mặt người đồng hành trên toa xe chật ních những người là người.

Tàu vừa đỗ, ở trạm tiếp, đã thấy hai người đàn ông nọ cùng bước lên toa một lượt. Một người ăn mặc khá chỉnh cũng nguyên bộ “côm-lê” lại cũng không thiếu chiếc cà-vạt thắt gọn gàng quanh cổ. Còn, người kia thì không, chỉ loàng xoàng mang giày bố vẽ vời đôi ba nét áo quần nhăn nheo, lếch thếch râu tóc bờm xờm ít khi cạo da dẻ nhem nhuốc khiến tôi có cảm giác anh ta là người ngủ đường ngủ chợ, bất cần đời.

Xem ra, cả hai người đàn ông này không quen biết nhau bao giời, chỉ tình cờ bước lên xe cùng một lúc mà thôi. Thế nhưng, sự việc đập vào mắt tôi nhiều nhất là chuyện: ngay lúc ấy, người đàn ông ăn mặc bảnh bao tự dưng cất tiếng nói với chàng trai cẩu thả trong lối ăn mặc bằng những câu buông thõng chửi đổng vào giữa tối những câu như:
-Đúng là lũ chim chóc như đồ chết bẹp, chẳng được tích sự gì, chỉ dùng làm thức ăn cho loài khác, mỗi thế thôi!

Người ăn mặc bê bối nghe thế bèn nhìn bâng quơ lên trần rồi lên tiếng trả lời:
-Chúng đâu chỉ là thức ăn cho loài khác đâu, xin lỗi bạn. Thật sự thì, chim chóc cũng là thọ tạo do Đức Chúa Trời tạo dựng, nên đáng lẽ ra ai cũng nên kính trọng chúng mới phải. Hệt như hôm trước, Đức Giáo Hoàng từng khuyên răn mọi người hãy chăm sóc mọi tạo vật, chứ không phải mỗi mình mình, đây thôi!

Quan sát lúc ấy, tôi đây bèn nghĩ ngay đến tông thư của Đức Phanxicô khi ngài nói về việc ta phải biết quan-tâm đến môi-trường sống mới được. Và nay, thì chính một người xuề xoa, lạ hoắc lại dám nói lên điều đó với người đàn ông ăn mặc chỉnh-tề, thế mới lạ.

Mẩu đối-thoại giữa hai người lạ mặt kia về môi-trường sống, lại cứ thế tiếp tục. Qua câu chuyện, tôi biết được là người đàn ông xuề xòa kia là người chuyên lục thùng rác quanh trạm trung-ương mong tìm được mấy gói khoai tây của nhà hàng Mac Donald’s hoặc các ly côca cạn nước chỉ còn mỗi đã cục cũng nâng lên miệng uống ừng ực, cho đỡ khát. Đến lúc ấy, người ăn vận chỉnh-tề quyết đối đầu với anh chàng bê tha kia chê trách anh ta chỉ là đám vô công rỗi nghề, lục thùng rác kiếm thức ăn mà thôi.

Xem ra thì, người bê tha nọ cũng thu thập đồ thừa thiên hạ bỏ đem cho chim trời ăn, việc này khiến người ăn mặc lịch-sự thấy ghê tởm khi thấy có kẻ lại tự hạ mình xuống hàng rác rưởi để lục tìm thức ăn cho chim muông, loài thú vô bổ. Câu chuyện đốp chát giữa hai người lạ mặt cứ thế tiếp tục. Người, thì lo lắng chăm sóc môi-trường, nuôi nấng loài vật bé nhỏ, nhưng vẫn tôn-trọng hết mọi loài, kể cả người lạ mặt ăn mặc bảnh bao, nhưng vô tích sự…

Câu chuyện giữa hai người chỉ có thế. Đến trạm phải xuống, tôi bèn đến bắt tay người lạ mặt thật chặt như để biết ơn những cử-chỉ đẹp của anh ta. Trên đường về, tôi cứ tự nhủ lòng mình mà bảo: Đức Giêsu chỉ đến với ta như một người lạ, như tôi vừa gặp Ngài qua cách xử sự của người lạ mặt tôi chẳng hề quen, trên chuyến tàu đêm hôm ấy… Hành-xử của anh còn cho tôi thêm một ý-tưởng nữa là: Đức Giêsu đã chứng tỏ cho mọi người chúng ta thấy bí mật bên dưới câu chuyện đối-đáp giữa hai người lạ, để ta hiểu là: đừng bao giờ lên án/xét đoán bất cứ một ai qua hình thù bên ngoài của mỗi người.

Ngài còn dạy ta rằng mỗi người và mọi người –cả những kẻ vô gia cư, ăn không ngồi rồi, hoặc những người chỉ biết đến thể thao, hoặc kẻ ăn sung mặc sướng ngoài phố chợ, vẫn có được thứ phẩm-giá con người khiến ta phải trân trọng họ, vào mọi lúc.”  (X. Monica Doumit, “How I met Jesus on the train on a Friday night”, The Catholic Weekly 28/6/2015, tr.29)

Trong đời người, lại có rất nhiều truyện kể để ta có thể minh-họa và nhớ mãi như câu chuyện để đời, hầu suy-tư. Truyện kể ấy, hôm nay nôm na mỗi thế này:

“Trời sập tối đã lâu. Đồng hồ chỉ 9 rưỡi đêm khi tôi bước xuống xe buýt.

Một tài xế xích lô còn nhớ mặt tôi hỏi có muốn đợi ghép thêm một khách nữa hay không. Nếu đi một mình, tôi sẽ phải trả 8 kyat, còn nếu ghép chỗ thì tôi chỉ phải trả 5 kyat. Tiền vé xe buýt và xích lô một ngày cũng chẳng phải là rẻ. Vì vậy, chẳng có lý gì để từ chối.
“Lái tiếp theo chuẩn bị nhé”, người tài xế gọi to.
Một cậu thanh niên đẩy xe ra.

“Chú cứ ngồi lên đây mà đợi cũng được”, cậu ta nói rồi quay ra đường rao: “Xích lô đê, cần một khách nữa, thêm một khách nữa!”
Tài xế là một thanh niên còn rất trẻ, dáng người mảnh khảnh, trạc tuổi con trai tôi, có lẽ vẫn còn đi học phổ thông. Trông cậu ta không được khỏe như con trai tôi. Chiếc áo sơ mi trên người đã sờn; vài đường chỉ ở ống tay đã hơi bai. Nhưng trông cậu ta không có vẻ gì là con nhà nghèo, không giống những người từng trải cuộc sống khó khăn.

Tôi băn khoăn vậy thì tại sao bây giờ cậu ta lại phải đi đạp xích lô? Nhà cậu ta vừa mới gặp vận đen? Bố cậu ta vừa mất việc? Hay có lẽ vừa mới mất? Còn mẹ cậu ta thì sao? Gia đình cậu ta có bao nhiêu người, cậu ta có phải là con cả hay không? Tội nghiệp, liệu cậu ta có phải nuôi cả gia đình không nhỉ?

Cứ miên man như vậy, tôi lại nghĩ tới con trai mình. Lòng trắc ẩn nhói lên trong tim. Nếu đó là con trai tôi thì sao… Nếu tôi có làm sao thì chuyện gì sẽ tới với con trai tôi? Nhìn cậu ta mà xem, còn quá trẻ và chẳng mấy khỏe mạnh để đạp xích lô. Mẹ cậu ấy có chịu nổi điều này hay không?
Tôi bắt đầu cảm thấy tội lỗi vì chút nữa sẽ ngồi trên xích lô cậu ta chở. Cậu ta sẽ phải mất nhiều sức để chở cái thân hình tương đối nặng nề của tôi. Thêm sức nặng của vị khách đồng hành sẽ ghép của tôi nữa thì chắc hẳn cậu ta khó có thể chở được, đặc biệt là ở đoạn dốc dưới kia.
Cậu thanh niên vẫn đang mời gọi thêm hành khách đi cùng, nhưng giọng cậu ta nghe đều đều và không đủ lớn.
Tôi bảo: “Đi thôi. Tôi đi một mình cũng được”.
Cậu thanh niên quay nhìn tôi rồi quả quyết đẩy chiếc xích lô xuống đường, chậm rãi đạp. Có vẻ như cậu ta khá quen với công việc này.
Cũng không tồi, tôi nghĩ. Trông cậu thanh niên chín chắn hơn so với tuổi. Tốt. Tôi thích những người sẵn sàng đối mặt với bất cứ điều sẽ xảy ra. Bỗng nhiên tôi muốn tìm hiểu nhiều hơn về cậu thanh niên này.
“Cháu làm việc này lâu chưa?”
“Được khoảng một năm rồi ạ”.
“Ta chưa từng gặp cháu trước đây… À, mà không phải ngày nào ta cũng đi xích lô, chỉ khi nào quá muộn thôi”.
Cậu thanh niên đạp nhanh hơn để lấy đà vượt qua quãng dốc trên đường.
Có vẻ như chiếc xích lô luôn được bảo dưỡng tốt. Cũng có lúc tôi gọi phải chiếc xích lô không còn mới. Cậu thanh niên này chắc hẳn là người tốt. Cậu không chỉ nuôi cả gia đình mà còn giữ xe rất tốt. Tôi tò mò không hiểu chiếc xích lô này là của cậu hay cậu đi thuê.
Tôi hỏi, trong lòng vẫn mong sao nó là của cậu: “Chiếc xích lô này của cháu à?”
Cậu thanh niên nhìn tôi trả lời ngắn gọn: “Vâng”. Có lẽ cậu cho rằng tôi hơi tò mò.
Tôi bỗng thấy càng thương cảm cho cậu thanh niên. Không hiểu cậu còn tiếp tục được đi học hay không và liệu cậu còn có thể học được sau khi phải làm công việc nặng nhọc thế này hay không…
Tôi hỏi: “Cháu còn đi học chứ? Lớp mấy rồi?”
“Năm nay cháu vào đại học”.
“Thật sao! Có được điểm giỏi nào không?”
“Cháu được 4 điểm giỏi”.
“Thật đáng ngạc nhiên! Đạp xích lô mà vẫn có thể có được điểm số như vậy. Nhiều học sinh cùng lứa khác thậm chí thi còn không qua, trong khi chúng có đủ điều kiện để đi học thêm tất cả các môn. Đúng là không ai có thể mua được chất xám, phải không nào? Trông cháu quả thật rất thông minh”.

Cậu thanh niên cười lớn: “Cháu không đi học thêm các môn, chú ạ. Cháu cũng chỉ đạp xích lô khi thiếu người thôi, cũng là để tập thể dục. Cháu không thích thể thao, vì thế đây cũng là cách cháu giữ gìn sức khỏe”.
“Vậy là đây là xích lô của bố mẹ cháu?”
Cậu thanh niên đạp chậm lại. Có lẽ cậu thấy cần phải giải thích một chút.
“Chiếc xích lô này là của cháu, chú ạ. Cháu có 4 chiếc cho mọi người thuê. Lúc có người ốm hay bận việc thì cháu đạp thay. Như vậy, cháu có thể hiểu rõ hơn về người thuê xe của mình. Cháu cũng được gặp nhiều người khi đi đạp xích lô; đó cũng là điều tốt.
Giờ thì tôi lại thấy mình có chút xuẩn ngốc vì đã dành chút thương cảm ban nãy cho cậu thanh niên. Tôi ngẩng lên nhìn cậu thanh niên; trông cậu ta có vẻ quen quen. Không hiểu tôi đã gặp ở đâu đó rồi.
Tôi hỏi: “Mà này, cháu đang ở đâu nhỉ?”
Cậu ta mỉm cười: “Cháu ở Cửa hàng Goodwill (Thiện chí), gần chợ lớn đó”.
Ngay lập tức tôi hiểu ra tình huống của mình. Cửa hàng Goodwill bao gồm một dãy cửa hàng sở hữu bởi một gia đình, bao gồm một nhà hàng, một siêu thị mi-ni, một cửa hàng bán salad lá trà và đồ ăn vặt, một cửa hàng cho thuê băng đĩa hình và một quán photocopy. Tôi đã mắc một sai lầm lớn khi nhận định về cậu thanh niên, nhưng tôi tiếp tục điềm tĩnh hỏi cậu thanh niên.

“Cháu có bao nhiêu anh chị em?”
“Năm người tất cả. Cháu là con út. Anh cả cháu quản lý nhà hàng cùng bố mẹ. Đó là công việc kinh doanh chính và đầu tiên của gia đình. Các cửa hàng khác sau đó được gây dựng sau khi chúng cháu đã lớn. Siêu thị mi-ni hiện do chị gái lớn quản lý; anh giữa quản lý cửa hàng cho thuê băng, đĩa hình; cửa hàng salad lá trà thì do chị gái còn lại của cháu điều hành; còn cháu thì đang quản lý của hàng photocopy. Nhưng cháu có mấy chiếc xích lô này từ lúc cháu còn nhỏ”.

“Từ lúc còn nhỏ? Giờ thì không nhỏ sao?”
Cậu thanh niên cười: “Đúng thế chú ạ. Lên mười tuổi cháu đã bắt đầu đầu tư và có được chiếc xích lô đầu tiên”.

Câu trả lời của cậu thanh niên như một cú thụi vào giữa ngực tôi.
Tôi là một tác giả đã từng nhiều năm viết về kinh tế và giáo dục, rao giảng rằng phải làm việc cần cù, hướng về phía trước, và giảng giải cả các chiếc thuật kinh doanh nữa. Tôi đã viết hàng trăm bài báo, một vài trong số đó dựa trên tài liệu từ các tạp chí nước ngoài. Tôi muốn thế hệ trẻ học hỏi từ những điều tôi viết đó. Giờ thì với cậu trai trẻ này, tôi đã gặp trận đấu của mình. Cảm giác thật là bẽ bàng, cứ như thể cậu ta đang cười thầm vào mũi tôi vậy.

“Dừng ở đây thôi. Tới nơi rồi!”
Tôi lần túi lấy tờ 10 kyat đưa cho cậu thanh niên, bảo: “Của cậu đây, tôi chỉ có tờ 10 kyat, không phải trả lại đâu”.
“Không, chờ đã chú”. Cậu thanh niên rút ngay 2 kyat trong túi ra trả.

Cậu nhìn tôi một chốc, bảo: “Mong chú đừng phật ý. Chú có vẻ để tâm nhiều đến cháu nên cháu thấy mình phải giải thích thêm một chút. Chú thấy đấy, ở cửa hàng photocopy hay khi đạp xích lô, cháu đều chỉ lấy đúng phần tiền của mình. Cháu không bao giờ lấy hơn dù là vô tình hay chủ ý. Cháu không bao giờ nhận tiền boa. Cháu cũng không bao giờ đưa người khác nhiều hơn số tiền phải đưa. Chú thấy đấy, ngạn ngữ có câu ‘Hãy chăm chút cho từng đồng kyat, rồi hàng chục nghìn kyat sẽ chăm chút lại bạn’. Đó là phương châm sống của cháu”.

Vậy đấy, cậu thanh niên đã dạy cho tôi một bài học một cách rất nhẹ nhàng và hết sức lễ độ.
“Thôi được, tôi đồng ý. Cậu rất thông minh. Giờ cậu về nhà luôn chứ?”
“Chưa chú ạ! Vẫn còn kịp chạy thêm chuyến nữa. Tranh thủ bất cứ lúc nào còn có thể được chứ chú. Cháu đi đây”.

Ồ được thôi, lũ nhóc ạ, giờ thì cứ đi đi; đi đạp xích lô, mở nhà băng, kinh doanh gì đó, lên kế hoạch và tranh thủ khi nào còn có thể; hãy làm giàu và thành công, hãy chiếm lấy tất cả những gì chúng ta có thể.

Tôi bước vào nhà, đầu còn miên man suy nghĩ. Tôi tự hỏi có nên đánh thức thằng con trai đang gà gật trên mấy trang sách và bảo nó hãy ra ngoài mà đạp xích lô hay không? Tôi có nên bảo vợ mình đừng làm nội trợ nữa mà hãy mở một cửa hàng mì hay quán trà hay không? Phải làm điều gì đó chứ.

Nhưng rồi tôi nghĩ lại… Liệu như thế có nguy hiểm quá cho tôi không? Tôi có thể tưởng tượng ra được vợ mình sẽ hét lên thế nào với tôi, rằng từ nay đừng có mà về nhà trong bộ dạng quá chén nữa… Thế là tôi phanh ngay cái ý nghĩ đó lại như cái cách người ta phanh một chiếc xích lô, lặng lẽ bước vào nhà như thể chưa từng gặp bất cứ câu chuyện tuyệt vời nào như ban nãy vậy.” (Trích truyện Truyện ngắn của Pe Myint (Myanmar))

Là người đi Đạo sống giữa đời, hẳn bạn cũng như tôi, khi nghe kể về sự việc như thế, ắt sẽ liên tưởng đến câu nói của bậc thánh-hiền qua Lời Vàng sau đây:

Ta bảo thật các ngươi:
mỗi lần các ngươi làm như thế
cho một trong những anh em bé nhỏ nhất
của Ta đây,
là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy."
(Mt 25: 40)

Chắc hẳn rằng, mỗi người và mọi người ở đây đó, khi nghe những lời kể trên sẽ phải âm thầm bước vào phòng riêng, đóng cửa lại rồi suy-nghĩ? Chắc hẳn rằng, người viết cũng như người đọc, lại sẽ lấy đó như câu chuyện làm quà cho bọn trẻ, ít theo dõi kinh kệ, hoặc sách vở.

Hiển nhiên rằng, những điều như thế từng khiến bạn và tôi, ta suy nghĩ lung lắm, suốt nhiều ngày, ở đời mình.

Trần Ngọc Mười Hai
lại cũng nhớ
các trường-hợp nêu trên
vẫn rất nhiều
trong đời mình.