Monday, 5 March 2018

“Anh Đã Thấy Mùa Xuân Chưa”



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 4 Mùa Chay năm B 11-3-2018

“Anh Đã Thấy Mùa Xuân Chưa”
Một vùng mây trắng bay đi tìm nhau
Chẳng còn thấy đâu, mắt em hoen sầu
Vì mình xa nhau nên anh chưa biết xuân về đấy thôi.”
(Quốc Dũng - Anh Đã Thấy Mùa Xuân Chưa)

(Gioan 20: 1-18)

Mùa Xuân, là mùa Xuân nào? Ở đâu? Làm sao anh thấy được? Có thấy hay không, cũng chỉ mi hoa/lá/cành do mùa Xuân đem lại hay chỉ là lễ hội đình đám ở đâu đó, chứ làm thế nào anh thấy được vùng trời mây trắng bay”, có anh và em ta cứ mải miết đi tìm nhau, cho thật lâu.

Quả thật, văn-chương/chữ nghĩa của người mình vẫn cứ tượng thanh/tượng hình cách rõ rệt, khiến người bình thường khó mà nắm bắt cho chính xác. Càng khó hơn, khi văn-chương ấy cứ mô-tả cảnh-tình của Xuân mùa cứ trôi đi” khi người yêu ngây dại lại mơ mẩn bóng hình, sau đây:     

Ngày xuân vẫn trôi rừng còn ngây dại mơ bóng hình ai
Trời mưa giăng lối áo em lệ rơi
Nhạt nhòa nét môi, đá xanh quên lời
Vì mình xa nhau nên anh chưa biết xuân về đấy thôi
Giọt sương vẫn rơi, tình mình vẫn hoài thương nhớ đây vơi
Chiều xưa ngồi bên anh em nghe như đã xót xa trong tay mình
Một giây hờn lênh đênh môi em thơm ngát đón đưa hương say tình
Anh biết không anh em như bóng mây tìm nơi đổ bến
Đậu bến xa vời mà tình vẫn rơi, mây hoài vẫn trôi
Trời xao xác sóng, gió reo mùa đông
Tìm trong giá băng bóng xuân mịt mùng
Vì mình xa nhau nên anh chưa biết xuân vẫn mãi xa vời chốn nao
Còn thương nhớ nhau, còn nặng u sầu muôn kiếp về sau.”
(Quốc Dũng - Anh Đã Thấy Mùa Xuân Chưa) 

Đúng thế. “Thương nhớ nhau, còn nặng u sầu muôn kiếp về sau”  vẫn thấy tràn đầy một kiếp người gồm những thương cùng nhớ, vẫn rất nhiều. Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ cả một mùa Xuân bất tận ở đâu đó, phải chăng là Nước Trời Hội Thánh, rất hôm nay?

Vâng. Đúng vậy. Mỗi lần nhắc đến Mùa Xuân của Hội Thánh, là con dân trong Đạo lại hướng về Xuân Mùa Phục Sinh trong đó luôn có những động-tác hoặc nghi-thức lễ lạy, để chào mừng, thưởng-lãm những gì xảy đến rất chung  quanh.

Đúng vậy. Chung quanh những ngày hội lễ rất “Mùa Xuân” của thánh hội, người người lại thấy những thứ và những sự biểu-tỏ ngày cùng sự lành thánh, lớn lao của hội lễ ấy. Một trong các biểu-tượng được mừng kính, nhắc đến, ắt hẳn là biểu-tượng của “Trứng Phục Sinh” mà người phương Tây, du nhập từ đâu đó vào với thánh hội, để mừng lễ.

Nhân nói đến lễ hội và/hoặc biểu-tượng của ngày lễ, hôm nay đây, lại thấy có thắc-mắc hỏi han từ ngườiu7o72d9i Đạo, gửi về đấng bậc vị vọng ở trên báo, để nắm rõ ý-nghĩa của một vài tập-tục, trong đó có tục gọi-là “Trứng Phục Sinh”, rất quang vinh, như sau:

“Thưa Cha,
Con có đứa cháu gái đã 10 tuổi đầu rồi nhưng cứ chạy đến hỏi han những câu rất vớ vẩn như: Tại sao nhà mình cứ hay ăn bánh Sô-cô-la hình trứng và cả đến hình “thỏ đế” hay cừu non rất khó hiểu vào mỗi lần tổ chức Phục Sinh, Chúa sống lại. Bản thân con đây cũng lờ mờ ít hiểu truyện tích phương Tây nên dám vời đến Cha một giải-đáp, cho ngọn ngành. Cha giúp con được chứ ạ?” (Câu hỏi chắc là của bà mẹ Công giáo, rất ngoan đạo nào đó quyết không sai!)

Sai hay không, những chuyện đạo để hỏi đấng bậc vị vọng chuyên giải-đáp thắc-mắc, ở trên báo. Bởi lẽ, công việc của Đức Ngài, chỉ có thế và mỗi thế. Nếu không, thì Đức Ngài làm gì cho hết ngày bây giờ. Bởi thế nên, người viết bài lại chuyển câu hỏi ở trên cho đấng bậc vị vọng trên Tuần Báo Công giáo Sydney, và đã có phản-hồi rất như sau:       

“Nay, hãy để tôi bắt đầu với câu hỏi về “Trứng Phục Sinh” cái đã, rồi sẽ nói đến cái-gọi-là “thỏ đế” hoặc tập tục làm bánh trừu con ngày Chúa Sống Lại.

Phải nói thật lòng rằng: “Trứng Phục Sinh” có lẽ là biểu-tượng thông-thường được nhiều người ở trời Tây biết đến nhất. Món ấy có thể là bánh Sô-cô-la như cô cháu gái của anh/chị đề-cập, và cũng là tập-tục thông-thường ở xứ sở này được nhiều người thực-hiện nấu nướng, rồi còn tô màu bằng hình ở nhiều nước bên trời Tây, hôm nay.

Thế nhưng, có câu hỏi, là: “trứng” có vai trò gì với Phục Sinh?
Câu trả lời, là: “trứng” được coi là biểu-tượng của “mộ-phần khép kín” Chúa trồi-hiện lúc Sống lại, tựa chú gà con rời khỏi lớp vỏ trứng bao bọc. Thời xưa, sự việc này còn được coi là biểu-tượng của cuộc sống mới.

Lại một lý do khác nữa, “trứng” là một trong các món ăn được dân con trong Đạo thời tiên khởi được phép ăn vào Mùa Chay; và hôm nay, truyền-thống Chính-thống-giáo vẫn duy-trì nghi-thức này và con dân Đạo này vẫn ăn các bánh cùng các thức ăn khác nữa.

Ngược về thế-kỷ thứ tư ở Đông phương, trứng cũng được làm phép vào dịp Phục Sinh. Đến thế-kỷ thứ 12, cũng có tập tục làm phép trứng mang tên “Benedictio Ovorum” lan tràn sang các nước phương Tây là do các vị Thập-tự-chinh qua phương Đông đem về thực-hiện như nghi-thức thêm vào trong Đạo.  

Ở phương Đông, trứng này được tô màu đỏ cốt để tưởng nhớ máu Đức Kitô đổ ra trên thập-tự. Trứng màu đỏ, đôi lúc còn được trang trí thêm cây thánh giá như một tập-tục đặc-biệt của Chính-thống-giáo và truyền-thống Giáo-hội Đông phương nũa. Các trứng này được linh-mục làm phép rảy nước vào lễ Vọng Phục Sinh, rồi phân phát cho giáo-dân đến dự.

Thời Trung Cổ, còn có tục phát trứng vào dịp Phục Sinh cho những ai đến nhà thờ dự lễ. Nhiều sử-gia còn cho biết: năm 1290, vua Edward Đệ Nhất của nước Anh từng có 450 trứng luộc, tô đậm màu hoặc dát vàng bên ngoài trước lễ Phục Sinh rồi còn phát không cho mọi thành-viên trong hoàng-tộc vào chính ngày Phục Sinh. Về sau, xưởng trứng nổi tiếng Fabergé còn nổi tiếng về tục tác-tạo nhiều quả trứng vàng Phục Sinh chứa nhiều châu báu rồi phân-phát cho quan viên thuộc hoàng gia Nga sô, nữa.

Miền Bắc Châu Âu, người ta còn giữ tập-tục tô vẽ lên vỏ trứng nhiều sắc màu tực sáng vào dịp lễ Phục Sinh, rồi đem làm phép và phát cho mọi người như món quà đặc-sản trở ngược về thời trước đó, ở nhiều nước.

Nghi-thức La Mã thời xưa/cổ thực-hiện lần đầu vào năm 1610, các đấng bậc lại cũng ban phép lành trên Trứng Phục Sinh, chẳng hạn như ở Ba Lan, Li-thua-nia, Ukraine, và cả Công Hòa Tiệp cũng thế, trứng Phục Sinh còn được trang trí bằng đủ mọi hình-thức có cái trở-thành hiện-vật nghệ-thuật cũng rất đẹp.

Các vật này, thường được coi như quà tặng trao ban cho bạn bè, người thân, có hình vẽ trên trứng xứng-hợp với đặc-tính của người được tặng.

Ở Ba Lan, có tục-lệ gọi là “Swieconka” gồm việc làm phép trên rổ trứng Phục Sinh và các thực-phẩm dùng làm biểu-tượng ưng giống như thế vào Lễ đêm Vọng Phục Sinh. Cũng thế, tại Ukraine cũng có tập tục tương-tự vẫn kéo dài nhiều năm. Tục lệ xưa, lại cũng thấy nhiều gia-đình sau khi ăn chay nhiều ngày vào Mùa Chay kiêng, lại đã trở về nhà vào đêm Vọng Phục Sinh vẫn ăn trứng cùng với nhiều thức ăn khác, nữa.

Truyền-thống các nơi còn giữ tục lệ dâng cúng “trứng luộc” cho bậc tiên-tổ đã mãn phần. Khi nghi-thức tưởng-niệm hoàn-tất, nhiều nơi còn giữ tập-tục đem trứng Phục Sinh đã làm phép đến nghĩa trang chôn cất tổ tiên vào các ngày Thứ Hai hoặc Thứ Ba Phục Sinh, ở đó họ hát hò mừng chúc nhau bằng những câu như “Chúa đã sống lại rồi” để thưa cùng bậc tiên-tổ hệt như hồi các vị này còn sinh-tiền.

Về thịt trừu ngày Phục Sinh, tục-lệ này trở ngược về thời xưa cũng khá xa. Thường thì, vào các buổi như thế, nhiều vị còn mang cờ quạt thắng-trận hình thập-tự biểu-trưng cho việc Đức Kitô Phục sinh quang vinh. Tục này, tương-tự thói lệ của người Do-thái ăn thịt trừu vào dịp Vượt Qua hàng năm, bởi người Công giáo lấy thịt trừu làm biểu-tượng cho Đức Kitô, Đấng hy-sinh mạng sống của Ngài đã chấp-nhận cái chết và sống lại hầu xóa bỏ tội-lỗi của thế-giới gian-trần, đầy nghịch-ngạo.

Còn, tục ăn bánh “hình thỏ” ngày Phục Sinh luôn được coi là ảnh-hình biểu-trưng sự sinh-sôi nảy nở và sự sống mới nối kết với việc Chúa sống lại, cũng rất hợp. Chừng như, tục-lệ này xuất từ nước Đức là nơi có truyện cổ tích kể về sự-tích các chú thỏ mang trứng giấu vào bụi rậm trong vườn. Đương nhiên là, không có văn-bản kinh-thánh nào viết lên truyện thỏ Phục Sinh, lỉnh kỉnh như thế.” X. Lm John Flader, “Why Easter Eggs? Happy Easter”, The Catholic Weekly 05/4/2015 tr. 15)                  
    
Truyện kể để minh-chứng các tục lệ Phục Sinh ở trời Tây còn rơi rớt lại ở đây đó, thì như thế. Lại cũng có, truyện kể để minh-họa bài phiếm “rất thấy mùa Xuân”, viết như sau:

“Truyện kể rằng,
xưa có một cậu thiếu niên lên chùa bái Phật. Cậu cắm 3 nén nhang vào trong lư hương, thành kính khấn rằng:

“Con cầu xin Phật Tổ phù hộ độ trì cho con thi đậu bảng vàng, sớm ngày vinh quy bái tổ”. Cầu nguyện xong cậu thiếu niên lại vái lạy 3 lần xong xuôi mới yên tâm đứng dậy ra về.
Lúc ấy đứng trực trong bảo điện là một chú tiểu nhỏ tuổi. Chú tiểu nhìn theo bóng người thiếu niên đến khi khuất hẳn rồi mới quay sang hỏi lão hòa thượng: “Thưa sư phụ, vị thí chủ vừa rồi rất cung kính lại thành tâm cầu nguyện, vậy Phật Tổ có nhận lời hay không?”. Lão hòa thượng chỉ lắc đầu rồi nói: “Vẫn còn thiếu một nén nhang”.

10 năm trôi qua, cậu thiếu niên ngày nào nay đã trở thành một trang nam tử hảo hán. Dù không đỗ đạt khoa cử, nhưng nhờ có khí chất hơn người mà anh quyết chí tòng quân; lại sẵn thông tuệ sách Thánh hiền nên anh sớm trở thành một viên tướng văn võ song toàn lập được nhiều chiến công hiển hách. Lần này anh trở về quê nhà là mong tìm được ý trung nhân.

Chàng trai lên chùa thắp 3 nén nhang, quỳ lạy trước bảo điện mà khấn rằng: “Cầu xin Phật Tổ phù hộ cho hạ quan kết được mối duyên lành, hạnh phúc viên mãn đến trọn đời”. Nói xong chàng trai vái lạy 3 lần một cách cung kính.

Chú tiểu năm xưa lại quay sang hỏi lão hòa thượng: “Sư phụ nói xem, liệu lần này Phật Tổ có nhận lời hay không?”. Và cũng giống như ngày trước, lão hòa thượng mỉm cười rồi nói: “Tiếc là… vẫn còn thiếu một nén nhang”.

Thoáng một chốc lại 10 năm nữa trôi qua chàng trai năm xưa nay đã bước vào tuổi trung niên. Trên gương mặt của ông hiện lên những dấu vết thăng trầm trong cuộc sống. Mặc dù có thê tử hiền thục, vợ chồng thuận hòa nhưng vì liên lụy chuyện nhà ngoại mà ông đã bị giáng chức. Từ một đại tướng quân oai phong lẫm liệt nay ông chỉ là viên quan quèn ở địa phương, biết bao chí nguyện lớn lao đều không thể thực hiện được nữa.

Bước từng bước chậm dãi lên trước điện thờ, ông dâng hương bái Phật, cầu nguyện cho con cái đỗ đạt khoa cử, công danh hoạn lộ, hoàn thành ước nguyện dang dở của mình trước kia.
Lúc này chú tiểu lại quay sang lão hòa thượng, chưa kịp hỏi thì đã thấy sư phụ than rằng: “Rốt cuộc… vẫn còn thiếu một nén nhang”.

Nhiều năm nữa lại qua đi, người đàn ông trung niên năm xưa tóc đã điểm hoa râm. Ông đã xin cáo quan trở về sống an cư nơi thôn dã. Những gì là hoài bão hay chí nguyện trước kia, nay cũng nhạt nhòa như mây khói.

Lần này ông không còn truy cầu những nguyện ước xa xôi, mà chỉ thảnh thơi vào chùa thắp 3 nén nhang trước Phật Tổ.

“Thưa Phật Tổ, trước kia con đã nhiều lần đến đây cầu nguyện nhưng dường như Ngài vẫn chưa nghe thấy lời con. Hôm nay dẫu Ngài không nhận lời, con vẫn xin được bày tỏ tấm lòng thơm thảo với mẹ già. Cha con mất sớm, mẹ một mình nuôi con khôn lớn. Thời trai trẻ, con có thể tung hoành ngang dọc, vùng vẫy núi sông ấy là bởi có mẹ hiền chăm lo từng miếng ăn giấc ngủ. Giờ mẹ con tuổi đã gần đất xa trời con chỉ mong sao bà có thể sống bình yên vô sự, an hưởng tuổi già suốt quãng đời còn lại. Chỉ một điều này thôi con không cầu mong gì hơn nữa”.

Chú tiểu ngày nào nay đã trở thành hòa thượng, còn sư phụ của ông cũng già yếu lắm rồi. Lúc này “chú tiểu” không còn thắc mắc nhiều như trước nữa, ông chỉ nhìn vị thí chủ lão niên mà bồi hồi xúc động. Đứng bên cạnh ông, sư phụ mỉm cười gật đầu, dường như đôi mắt ông muốn nói rằng: “Phật Tổ đã nghe thấy tâm nguyện của thí chủ rồi đó”.

Người lão niên kính cẩn bước ra khỏi chùa, khi ông chưa về đến nhà thì tin mừng đã từ xa truyền lại: Hai người con trai của ông cùng đỗ thứ hạng nhất nhì trên bảng vàng, hơn nữa triều đình còn ban bố chiếu thư rửa sạch nỗi oan cho ông, không những khôi phục chức quan mà còn thăng ông lên 3 bậc nữa.

Nhưng cuối cùng người lão niên đã không nhận lệnh. Ông một mực khước từ để được sớm tối chăm lo cho mẹ già suốt quãng đời còn lại.

Con người cả đời thờ Thần khấn Phật mà không biết rằng chí nguyện không thành, ấy là bởi… vẫn còn thiếu một nén nhang!

Người ta nói rằng Phật từ bi độ nhân. Nhưng có phải vì mâm cao cỗ đầy, vì chút hoa quả cúng dường hay vì vài ba nén nhang và dăm ba lần quỳ lạy mà Phật phải thực hiện những gì con người đang đeo đuổi? Nếu ôm giữ cách nghĩ như vậy rất có thể chúng ta đang bất kính với Thần Phật mà không hề hay biết.

Vậy người như thế nào mới được Thần Phật phù hộ độ trì? Phật gia có câu: “Phật tính nhất xuất, chấn động thập phương thế giới”. “Phật tính” – ấy là khi trong tâm thực sự thuần thiện, thuần chính, không màng tư lợi, hoàn toàn suy nghĩ cho người khác, thì mới có thể động đến tâm niệm của Phật Đà. Vậy cũng nói, con người coi trọng danh lợi, tiền tài, địa vị, nhưng Thần Phật thì chỉ xét một chữ “Tâm” này mà thôi.

Bởi vậy mà, khi con người có thể buông bỏ mọi dục vọng, buông bỏ mọi truy cầu, chỉ chú trọng nâng cao đạo đức và tâm tính của bản thân, thì một cách tự nhiên sẽ không cầu mà tự đắc…” (trích-dẫn đôi câu truyện kể rút từ trang mạng để bà con ta thưởng lãm).

Những điều kể trên, cũng tương tự như truyện kể Phục Sinh ở Tin Mừng như sau:

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mágđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà nói: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu."
Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin.9 Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết.” (Gioan 20: 1-9)

Truyện gì thì truyện. Kể gì thì cứ kể, miễn sao ăn khớp với tục-lệ xưa cổ hoặc hôm nay, vẫn có cái gì đó hơi bị “dị đoan” tuy không mê tín, rất “Phục Hồi một sinh lực” của con người.

Kể thế rồi, nay xin mạn phép bạn bè người thân đang đọc những giòng chảy này như một ân-huệ là được kết-thúc câu chuyện rất “phiếm bạo” mang tính ngang xương, kỳ khú rất hôm nay.

Trần Ngọc Mười Hai
Đôi lúc cũng mang tiếng
Khá kỳ khú, ngang xương hay ngang ngược
Như thuở nào ở trường lớp 
thời trung-học.

Saturday, 3 March 2018

“Đôi khi trộm nhìn em,”



Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 3 Mùa Chay năm B 04-3-2018

“Đôi khi trộm nhìn em,”
Xem dung nhan đó (chứ) bây giờ ra sao. 
Em có còn đôi má đào như ngày nào, 
Kể từ khi vắng anh (nhau) em như tấm vải lụa nhầu. 
Thương thâu đêm giấc ngủ xanh xao, 
Anh (em)có bề nào ai đón ai đưa.”
(Trầm Tử Thiêng – Trộm Nhìn Nhau)
 
(Mátthêu 28: 19-20)

Cuộc đời của tôi và của Em, cũng làng nhàng chỉ mỗi thế. Như thế, tức có nghĩa: chỉ “trộm nhìn nhau”, để “xem dung-nhan đó bây giờ ra sao” thế thôi. Nói vậy, cũng chưa hẳn là mọi người sẽ đồng ý với Em và với tôi chút nào đâu. Bởi, cuộc đời người đâu chỉ mỗi thế. Chẳng vậy mà, nghệ-sĩ nhà mình lại sẽ thêm những câu thưa hát rất như sau:

“Cuộc đời là vách chắn là rào thưa 
Thương em tiếng hát sang mùa 
Một mai mưa ướt áo em áo mỏng đường mềm 
Dáng nhỏ thân quen (chân đêm) 
Đôi khi (em) trộm nhìn anh xem đôi tay rắn phong trần năm xưa 
Anh có còn mê sông hồ qua từng mùa (ngày) 
Kể từ khi vắng anh em như tấm vải lụa nhầu 
Đêm thâu đêm giấc ngủ (mộng)xanh xao 
Anh có bề nào ai đón đưa em (ai đưa) 
Cuộc đời là vách núi là tường mây 
Quê hương nắng cháy (gió) đêm ngày 
Mà anh chim vút cánh bay thăm thẳm đường dài 
Không (ít) về thăm em 
Đôi khi trộm nhìn me 
Soi gương trang điểm cho đời thêm tươi 
Thương tiếc thời tô phấn hồng sang nhà người 
Rồi mùa xuân cũng qua Mang theo tuổi dại ngọc ngà 
Đêm qua đêm tính trọn (gọn) tương lai 
Mơ thấy một ngày con níu chân cha 
Cuộc đời là bể cả, là dòng sông, 
Như con nước lớn nước ròng 
Mà ta như chiếc lá khô 
Nước chảy về (rời) nguồn, lá đành trôi theo.”
(Trầm Tử Thiêng – Trộm Nhìn Nhau) 

Thế mới biết, cuộc đời người vẫn bao gồm nhiều thứ. Những thứ như: “vách chắn rào thưa”, “vách núi, tường mây”, hoặc chỉ là: bể cả, giòng song”, hoặc: “như con nước lớn, nước ròng mà ta như chiếc lá khô”… Ôi thôi, đủ mọi thứ, chả biết đâu mà nói cho hết ý, nên đã bảo: Đời người, dù ở trời Tây hay bên Tàu, đều cảm-nghiệm nỗi niềm nào đó, rất có giá. Nỗi và niềm, như truyện kể bên dưới, về giá-trị của niềm đau, như sau:

“Trong cửa hàng mỹ nghệ nọ, người ta thấy một tách trà thật xinh. Xinh đến độ, người mua vừa gặp thấy đã kháo-láo với nhau những câu như: “Quả là, ta chưa bao giờ thấy cái tách đẹp đến như vậy.”

Bản thân tách trà hôm ấy vừa nghe nói, đã vội vàng tiếp chuyện ngay: “Ấy! Các bạn không biết chứ, đời tôi đây không phải lúc nào cũng là tách trà như thế đâu!”

Có một thời tôi chỉ là nhúm đất màu đỏ hỏn. Khi ấy, ông chủ đã nắm lấy tôi đưa lên rồi cuộn tròn và phát vào người tôi một cái. Và rồi, cứ thế ông nhào nặn con người tôi mãi. Tôi bèn thét lên thật lớn bảo rằng: “Hãy để tôi yên đi nào!” nhưng ông chỉ mỉm cười rồi nói: “chưa được”

“Thế rồi, tôi được đặt lên chiếc bàn xoay tròn…” Tách trà lại tiếp: “bỗng nhiên tôi bị xoay làm nhiều vòng.

“Dừng lại! Dừng lại đi! Chóng mặt lắm rồi!” Tôi lại thét lên như thế, thêm lần nữa. Nhưng, ông chủ của tôi vẫn cứ lắc đầu nguầy nguậy và nói “chưa được!”

Thế rồi ông đặt tôi vào lò nung. Tôi chưa bao giờ cảm thấy nóng đến như thế. Tôi tự hỏi: sao ông ta lại cứ muốn đốt cháy tôi như thế. Tôi thét lên lần nữa rồi đập vào cửa đến thình thình. Tôi chỉ trông thấy ông qua kẽ hở và nhìn thấy mỗi đôi môi của ông mỗi khi ông gật đầu bảo: “chưa được!”

Cuối cùng thì, cánh cửa rồi cũng mở ra, và ông chủ đặt tôi lên một cái kệ. Tôi bắt đầu thấy mát hơn đôi chút. “Tốt hơn rồi” tôi nói. Nhưng ông chủ lại lấy sơn đem ra phết lên khắp người tôi. Mùi sơn này thật khủng khiếp. Tôi thấy người mình như chết ngộp bèn hét lên: “Dừng lại, dừng lại đi!” Tôi khóc mãi như thế, nhưng ông chủ vẫn cứ lắc đầu: “Chưa được”.

Thế rồi ông lại đặt tôi vào lò nung, nhưng không như lần đầu. Lần này, sức nóng tăng lên gấp đôi nhiều hơn lần trước và lần này, tôi biết là mình sẽ chết ngộp. Tôi bèn nài nỉ van xin. khóc lóc kêu gào suốt. Trong khoảng thời gian đó, tôi chỉ nhìn thấy ông chủ mình ngang qua kẽ hở và ông cứ lắc đầu ra hiệu: “chưa được”

Khi biết rằng có làm thế nào cũng vô vọng, tôi không còn van xin gì nữa mà gần như buông xuôi hết mọi chuyện. Nhưng kìa, cánh cửa lại đã mở một lần nữa và ông chủ đem tôi ra ngoài, rồi đặt lên trên kệ. Một giờ sau đó, ông đặt tôi trước gương rồi nói: “Đấy! Hãy nhìn ngắm chính mình đi. Ta đã xong việc”.

Tôi thốt lên: “Thật đây không còn là tôi nữa. Sao tôi trông đẹp quá thế này. Tôi đẹp quá…”
-Ta muốn con nhớ một điều, ông chủ nói. Ta biết sẽ làm cho con đau đớn thảm-thiết lắm mỗi khi nhào nặn con, nhưng nếu ta cứ để mặc, thì rồi ra, con sẽ khô héo dần. Ta biết ta làm con chóng mặt khi đặt con lên bàn xoay, nhưng nếu ta dừng lại thì con sẽ vỡ vụn từng mảnh, không còn hình thù gì ra hồn nữa.

Ta biết lò nung này rất nóng bức và khó chịu, nhưng nếu ta không đặt con vào đó, ắt con cũng chẳng còn tồn tại được nữa, mà chỉ gãy nát thôi. Ta biết mùi sơn này rất khó chịu, nhưng nếu ta không tô vẽ gì thêm lên mình con, thì con sẽ không có một màu sắc gì trên người nữa. Và, nếu ta không đặt con vào lò nung lần thứ hai thì con cũng chẳng tồn tại; bởi lâu dần sẽ không cò giữ được độ rắn chắc. Bây giờ con là sản phẩm tuyệt hảo. Con biết ý của ta rồi chứ?...

Và người kể truyện, lại cũng đưa ra lời bình-luận như sau:

“Cuộc đời con người là nhà trường lớn, ta thường thấy khổ sở và khó nhọc khi phải đối diện với nghịch cảnh, khổ đau, nhưng nếu hiểu biết một chút, thì khổ đau lại là thứ ''phúc-hạnh trá hình'', giúp ta ''mở mắt'' ra mà trưởng thành và vững chải hơn, biết thương đời hơn. Ta không thay đổi được hướng gió, nhưng vẫn có thể điều chỉnh được các cánh buồm hầu giữ được sự bình lặng trong cơn sóng dồn, mênh mông”..

Và, trong cuộc sống tu-trì ở nhà Phật, thiền sư Hoàng Bá đã để lại 2 câu thơ cho trần-thế như sau:

''Chẳng phải một phen xương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương..'' !!! (Như Thị trích và dịch câu truyện kể)

Hãy cứ coi cuộc đời này như người kể truyện ở trên từng viết lên đôi điều, rồi ra mọi người cũng sẽ hiểu ý-nghĩa của nó. Tuy nhiên, với người nhà Đạo, lại có nhiều vấn nạn hỏi về đời đi Đạo và giữ Đạo không hẳn là dễ hiểu, như có vị từng thắc mắc gửi về đấng bậc nhà Đạo trên báo, như câu hỏi ở bên dưới:

“Thưa Cha,
Con có người bạn mới đây vừa đi Mexico về. Chị nói: dịp ấy chi có ghé Vương cung thánh đường Đức Bà Guadalupe ở thủ đô Mexico City. Chị ấy bảo: Đức Mẹ ở đó có nhiều điểm được mọi người chú ý rất nhiều. Vậy, bằng thư này, xin cha cho biết đôi điều về tượng ấy, được không ạ?” (Câu hỏi của một bổn đạo bé nhỏ ở Úc vẫn thắc mắc với đấng bậc).

Thắc mắc/hỏi han là chuyện dài nhiều tập ở huyện nhà. Huyện Mexico City có tượng Đức Bà Guadalupe nổi tiếng thu hút biết bao người. Nổi hay không, hãy lắng tai nghe xem đấng bậc nhà Đạo mình giải đáp trên báo, có ý kiến thế nào. Và, đã là đấng bậc, thì Đức ngài  bao giờ cũng trả lời gọn gàng lớp lang, như sau:

“Trong cuốn Giải Đáp Thắc Mắc số 4 tôi cho in, có bài viết trong đó tôi ghi rõ lời bình về một số đặc-trưng/đặc thù chuyện này rồi. Nhưng, để nhắc bạn đọc vừa đưa ra câu hỏi ở đây, nay tôi lại cũng nói thêm một lần nữa, là: Vào tháng 12 năm 1531 Đức Mẹ đã hiện ra khá nhiều lần với một người thổ-dân Aztec đã hồi hướng về với thánh Juan Diego. Và, ngày 12 tháng 12 năm ấy, Đức Mẹ đã để lại hình lạ trên vỏ cây xương rồng của thánh-nhân và/hoặc lớp áo ngoài đại để như thế, nay đặt trong Thánh đường ở Mexicô để mọi người kính viếng.   

Một trong các đặc-trưng nổi cộm của bức ảnh/tượng đây, còn thấy cả nơi lớp vải sợi ấy nữa. Thông thường thì, lớp vỏ lụa của xương rồng sẽ tự phân-hủy trong vòng từ 20 đến 40 năm . Thế nhưng, ở đây lớp vải này vẫn tồn-tại sau 5 thế kỷ dài không ít. Có điểm khác, là: độ bóng bảy của bức ảnh/tượng vẫn ra như không suy-xuyển suốt thời-gian dài như thế, dù cho có sự-kiện là: trong 116 năm đầu, bức ảnh/tượng được trung-bày dưới làn khí ước ẩm, cả vào nơi có tia hồng-ngoại, tia cực tím và lớp khói mù mịt mùng của hàng ngàn cây nến không có gì đậy chụp lên trên đó.

Điều thần-kỳ hơn nữa, đó là: bức ảnh/tượng đã tự mình chỉnh/sửa sau sự-kiện bị một người lạ đổ chất a-xít ni-trích lên đó, vào năm 1791 khiến ảnh bị phân-hủy không ít. Và sau đó, lại có người tìm cách phá-hủy toàn-bộ bức này bằng các đem bom đặt dưới chân bàn thờ, ngay dưới chân, vào ngày 14/11/1921; nhưng, ảnh/tượng không bị hề-hấn gì, dù thanh ngang của thánh giá trên bàn thánh gẫy gặp thành hai cọng sắt trơ ra.

Có lẽ đặc-trưng ngoại-thường hơn cả là khi người ta bật đèn lên chụp hình bức ảnh này và rồi sau đó, vị nhãn-khoa chuyên-môn là Jose Aste Tonsman thuộc Trung-tâm Nghiên-cứu Guadalupe ở Mexico City đã phóng to lên 2500 lần để coi cho rõ.  Và ở phần mắt hơi nhắm lại của ảnh Mẹ trên lớp vải thêu nhiều màu lại thấy xuất-hiện làn ánh phản-chiếu ghi rõ những người chung quanh có mặt hôm ấy cả khi Juan Diego mở gói hoa cho vị Giám mục chủ-trì ngửi mùi thơm dịu mát nữa.

Rõ nét hơn cả, là ảnh/hình người thổ-dân đang ngồi bên dưới, mắt ông ta vẫn hướng về trời. Ông là cụ già đầu hói với bộ râu trắng xóa trông giống chân dung Gm Juan de Zumárraga; ại cũng có một người trẻ tuổi hơn, có thể là thông-dịch-viên Juan Gonzalez, một thổ-dân khác có bộ râu mép tua tủa, là người cũng mở đóa hoa ra cho Giám mục chủ-trì được thưởng-lãm thêm một lần nữa.

Ngoài ra, hôm ấy còn có phụ-nữ da năm ngăm, có thể là nô-lệ người châu Phi chuyên làm việc vặt phụ giúp Giám mục.Tiếp đến, một người đàn ông khác có dáng dấp dân Tây Ban Nha đang chăm-chú nhìn trừng trừng, tay ông cứ đưa lên vuốt bộ râu quai nón bộ ria mép rậm rạp chưa kịp cạo. Đồng thời, lại có cả gia đình một thổ-dân gồm ông bố, bà mẹ và ít đứa con cũng có mặt ở nơi đó.

Ngoài ra, còn có sự thể thật khó giải-thích là sự-kiện bức ảnh này không do bàn tay con người làm nên. Quả là, vào đầu thế-kỷ thứ 18, các nhà khoa-học có cho biết con người không thể nào vẽ lên bức ảnh nào trên lớp vải sần xùi gợn sóng giống thế được.

Năm 1936, hóa-học-gia sinh-lý là Richard Kuhn, người từng đoạt giải Nobel ngay sau đó vào năm 1938 đã khám phá ra rằng: không có bất kỳ loài thú nào trong bức ảnh này, cả đến cây cỏ, hoặc sắc mầu kim-loại nào đó cũng không. Bởi lẽ, lúc ấy từ năm 1531 vẫn chưa có ai sáng chế ra mầu tổng-hợp nào hết, nên ta không thể cắt-nghĩa ảnh này do bàn tay con người làm nên.

Vào năm 1979, vật-lý-gia sinh-lý người Mỹ là Philip Smith đã đem bức ảnh này đi chụp bằng hồng-ngoại tuyến đã nhận ra rằng: không thấy dấu vết gì về lớp sơn màu và vải này không được xử-lý bằng bất cứ thể-loại kỹ-thuật nào hết. Tất cả, cho thấy: bức ảnh này có thay đổi đôi chút về màu sắc nếu đứng ở góc cạnh khác mà nhìn vào. Đây là hiện-tượng gọi là “óng-ánh sắc màu” mà con người không thể tạo nên được bằng bất kỳ chất-liệu nào do con người làm ra.

Nói tóm lại, bức ảnh này là một hiện-tượng lạ lùng diễn-tiến giống hệt như trường-hợp bức khăn liệm thành Turinô vậy. Các đặc-trưng khác có liên-quan đến biểu-tượng của thổ-dân Aztec diễn-tả trong ảnh. Diện-mạo Đức Mẹ cho thấy Mẹ là con người, không phải là nữ thần nào hết; và, vai Mẹ khoác chiếc khăn quàng chứng-tỏ là Mẹ đang cưu-mang con mình trong bụng dạ.

Lại có sự-kiện cho thấy: toàn thân Mẹ phát ra những luồng sáng phía sau lưng, chứng-tỏ Mẹ quyền uy hơn cả mặt trời và dáng Mẹ đứng thẳng trên mặt trăng tăm tối hình lưỡi liềm cho thấy Mẹ đang đạp nát thần mặt trăng của thổ-dân Aztec. Và kìa, tay Mẹ đang ở tư-thế nguyện cầu có nghĩa là Mẹ đang cầu cùng Thiên-Chúa đầy quyền-phép.

Tất cả, cùng với sự-kiện Mẹ ăn vận như Công Chúa người Aztec từng giúp đỡ 8 đến 10 triệu con dân đất nước Mexicô và các nước phụ-cận đã hồi hướng trở về với niềm tin Công-giáo hơn 10 năm nay. Đại lễ Đức Mẹ Guadalupe được mừng kính vào ngày 12 tháng 12 mỗi năm.” (X. Lm John Flader, The Catholic Weekly 10/12/2017, tr. 29)            

Chuyện lạ về ảnh Mẹ Guadalupe là như thế; lại được bi-kịch-hóa bằng câu truyện kể ở dưới do bạn bè gửi đến, cũng rất nhiều. Nhưng hôm nay, xin mạo muội trích và dịch ở đây không vì nội-dung câu truyện có liên-quan đến vấn đề ta đang bàn, mà vì người kể lại cứ lấy đầu đề là “Xưng tội tập thể”, thế mới ghê!

Vậy, nay xin trình làng để xem bà con/bạn bè có ý kiến nào khả dĩ thay đổi đầu đề này không, kẻo cha/cố nhà Đạo mình cứ mắng-mỏ bảo rằng: bọn mình “phiếm lăng nhăng” cả chuyện đạo nữa cũng phiền.

Vậy, mời bà con ta nghe thử:

Bữa đó linh mục chánh xứ giúp giáo dân trong nhà thờ xét mình ăn năn tội tập thể. Để tỏ ra lòng thành thực ăn năn hối tội, ai phạm tội thì phải can đảm đứng lên . Cha liền đọc theo một danh sách dài, tội nhẹ trước, tội nặng sau. Thỉnh thoảng mới có người can đảm đứng lên. Gay cấn nhất là khi cha đọc đến các tội về dâm dục, tức là giới răn thứ Sáu. Cha theo thứ tự ABC.

-Adultery, tội ngoại tình. Cả nhà thờ im lặng. Một bà cụ già trên 80 tuổi thấy không có ai đứng lên, cụ bèn đứng lên.
-Fornication, tội gian dâm. Không thấy ai nhúc nhích, cu già liền đứng lên. Ai cũng nhìn cụ già chòng chọc
- Masturbation, tội thủ dâm. Cả nhà thờ im lặng như tờ. Cụ già lại đứng lên.

- Pornography, tội đọc sách báo và xem phim ảnh khiêu dâm. Thấy không có ai đứng lên, cụ già bèn đứng lên.

Khi đọc hết danh sách thì vị linh mục nói với cụ già : Cụ đã xét mình kỹ chưa. Tôi không nghĩ rằng cụ đã phạm đủ hết mọi tội tà dâm mà tôi vừa nêu lên.

Cụ già liền đáp: “Thưa cha, con không hề phạm một tội nào cả, sở dĩ con đứng lên là vì đức bác ái, con không muốn chỉ có một mình cha đứng mà thôi.

Nói cho cùng, có gọi gì thì gọi, gọi thế nào cũng vẫn là tôi nặng tội, nghe cũng hơi “tội…nghiệp”! Thôi thì, ta cứ coi đó là chuyện là trong trăm nghìn chuyện lạ chỉ để phiếm, mà thôi. Phiếm thế rồi, nay xin bạn và tôi, ta ngừng bút để về lại với chuyện đứng đắn của nhà Đạo mà suy-tư, nghiền-ngẫm.

Thế đó, là tâm tình cũng rất “phiếm” xin trình làng để rồi thôi không nói chuyện lỉnh kỉnh như thế mãi.

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn cứ bận tâm
Đôi ba chuyện lằng nhằng
Cả trong Đạo
Lẫn ngoài đời
Đến mãn đời.