Saturday, 6 February 2016

“Sống sót trở về, trên đường làng tươi mát”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ hai mùa Chay năm C 21/02/2016

“Sống sót trở về, trên đường làng tươi mát”
Sống sót trở về, trên đại lộ thơm ngát.
Sống sót trở về, trên rừng đồi xanh ngắt.
Sống sót trở về, trên biển xanh cát vàng.”
(Phạm Duy – Sống Sót Trở Về)

(Rôma 11: 30-31/Huấn ca 18: 13)

Vâng. Mới đây không lâu. Chỉ đầu năm 2016 mới đây thôi, bần đạo lại được anh trai trưởng lái cho đi một vòng đồng quê đất Úc, tới một nơi mang tên là Kings Canyon gồm các núi đá, đất mòn nhấp nhô sau khi chạy qua 150 cây số ngàn băng đường đất đỏ đầy gập-ghềnh hiểm trở, đến hết hồn.
Kịp tới nơi, lại đã nghe ca sĩ Duy Quang hát bài “Sống Sót Trở về” của bố Phạm Duy đã viết những câu như:
 
“Sống sót trở về, anh thợ cầy sung sức.
Sống sót trở về, anh thợ mỏ náo nức.
Sống sót trở về, anh mục đồng thao thức.

Sống sót trở về, anh thợ chài bâng khuâng.
Sống sót trở về, anh hùng rực chiến công.
Cũng giống anh hiền, ưa cuộc đời tối tăm.
 
Sống sót trở về, ta đều ngập ước mong.
Má ấp môi kề, ôm người đẹp suốt năm.
Sống sót trở về, linh mục dựng gác chuông.
Chúa giáng ơn lành cho bổn đạo bốn phương.

Sống sót trở về, nơi Phật đài ngát hương
Tiếng mõ chen vào lời Thượng Tọa xót thương.”
(Phạm Duy – bđd)

Thế nghĩa là: hôm nay đây, vừa đặt chân về lại căn nhà tuy bé nhỏ nhưng đầy đủ mọi thứ, mới thấy mình cũng đã “sống sót trở về” mà viết và lách, cũng thành chuyện.
Quả là, cứ mỗi lần viết xong câu chuyện này/khác rồi lại lách. Lách đi lách lại mãi suốt một đời người, chí ít là cuộc đời có nhiều chuyện để viết và lách. Lách rồi viết, về các tình-huống trong đời hiển-hiện với mọi người đến là dễ sợ. Sợ một hồi, rồi lại lấy giấy bút ra để viết. Viết cho nhanh. Cho nhiều. Thế mới gọi là phiếm chuyện Đạo vào đời, rất nhiều chuyện
Dẫn nhập thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đi vào luận-đề khá nóng bỏng, thời thượng như câu hỏi đầy thắc mắc của ai đó viết về cho đấng bậc vị vọng ở thị thành, rất như sau:

“Thưa cha. Theo-dõi tin tức trên báo/đài nhiều chuyện, nay con được biết là: Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã biên thư gửi về đấng bậc giám-mục chủ-quản địa-phận nọ nói về sự-kiện Đức Mẹ hiện ra mang tên là Đức Bà Từ Bi.

Câu chuyện Mẹ hiện ra như thế, phải hiểu làm sao đây? Xin cha giãi-bày để đàn con ở dưới biết đường mà thưa thốt với mọi người…”

            Lại vẫn “một ngày như mọi ngày”, là ngày dẫy đầy những chuyện để hỏi han. Hỏi thày hỏi bạn, hỏi lan man hết mọi người; để rồi biết đâu lại sẽ lọt tai đấng bậc ở trên nào đó có những lời giải-mã để còn thương. Thương Mẹ, thương đấng bậc và cũng thương dân con mọi người ở Giáo hội truyền-thống rất Rôma.
            Và tình cờ, người hỏi lại được đấng bậc ở Sydney có những lời đối-đáp, rất ư là bài bản/hẳn hòi. Nhưng trước khi đi vào chi-tiết của lời đáp, tưởng cũng nên trở về với bài ca từng được hát rất dài như sau:

            “Sống sót trở về, tên cường đạo lau kiếm.
Xé áo giang hồ, xin chèo đò trên bến.
Sống sót trở về, quên mầu hồng gái điếm.
Trút phấn son rồi, xin mặc lại áo huyền.

Sống sót trở về, tôi tạ từ vũ khí.
Sống sót trở về, tôi trở lại nhỏ bé.
Sống sót trở về, đeo một bầu rượu quý.
Sống sót trở về, vui một mình... tôi đi.”
(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Đã sống sót trở về rồi, cũng là điều mừng. Mừng hơn nữa, khi người trở về lại đã tìm ra được câu đáp-án của nhiều thứ, giống như người dân bình thường, mộ-đạo đã tìm ra lời đáp của Đấng Từ Bi, như sau:

“Đúng thật là Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đặt năm thánh Từ Bi đặc-biệt dưới bàn tay che chở của Mẹ Từ Bi, lâu nay danh-hiệu này vẫn được tôn-sùng theo nghĩa ấy ở thôn làng Savôna, nước Ý.

Ngày 10 tháng 5 năm 2015, Đức Giáo Hoàng đã biên thư cho Giám-mục Savôna-Nôli là có ý thế, để nói về “suối-nguồn đổ mọi ơn lành từ trời tại Đền Đức Mẹ Từ Bi ở Ý.

Đức Giáo Hoàng có viết: “Mẹ Từ Bi luôn gần gũi giúp đỡ đám con của Mẹ trong cơn nguy-biến vì nhiều thứ.”

Việc sùng-kính Mẹ ở Savôna nước Ý có nguồn gốc phát-xuất từ lần Mẹ hiện ra vào năm 1536 với Chân Phước Antôniô Botta, một nông-dân sinh năm 1471. Ông là tín-hữu sốt-sắng luôn đọc kinh Mân Côi nguyện cầu cùng Mẹ mỗi khi ông đi làm.

Thế rồi vào thứ Bảy ngày 18 tháng 3 năm 1536 trong lúc quỳ gối rửa bàn tay vấy bẩn nơi giòng sông nhỏ, ông phát-hiện ra lằn ánh-sáng cả thể chiếu xuống từ trời, rồi nghe có tiếng từ trên cao vọng về, bảo rằng: “Hãy trỗi dậy và đừng nghi-ngờ gì nữa, ta là Đức Nữ Trinh Maria…”

Ông mô-tả Đức Mẹ sự-kiện hôm ấy Đức Mẹ mặc cỗ áo trắng tinh, quanh mình Mẹ toả chiếu ánh-sáng lung-linh, chập chờn. Mẹ đứng đó trên viên đá tảng lớn nhìn xuống giòng nước chảy trên sông Lêtimbrô.

Và Đức Mẹ bảo ông hãy xin vị linh-mục giải-tội của ông đi mà loan báo tại nhà thờ rằng dân chúng trong vùng phải ăn kiêng vào 3 ngày thứ Bảy sắp tới và tổ-chức kiệu/rước để vinh-danh Đức-Chúa và Mẹ Ngài.

Mẹ cũng khuyên ông Antôniô hãy đi xưng thú mọi lỗi tội và hiệp-thông rước Mình Thánh Chúa  rồi trở lại cùng một chỗ như thế vào thứ Bảy lần thứ tư để đón-nhận thông-điệp mới. Ông Antôniô lập tức chạy đi kể lại cho vị linh-mục chánh xứ họ đạo của mình là, thày dòng Bartholomêô Zabrêri, và rồi vị này lại chạy đi loan tin này cho vị Giám mục sở tại, để ngài rõ.

Dù các vị nói trên đều tin vào những gì ông Antôniô kể cho các ngài nghe biết, bởi lẽ các vị này đều dư biết tính thật-thà đôn-hậu của ông Antôniô, nhưng ông chánh-trương làng này là tiên-chỉ Gênôêsê Đôra, lại không thế. Ông nhất quyết đòi Antôniô ngay tối hôm ấy, dắt ông đến tận nơi đã xảy ra sự việc ít thấy như thế. Chẳng mấy chốc, tin đồn lan rộng cả làng đều biết chuyện và mọi người đều đón nhận thông-điệp của Đức Mẹ vào tận tâm can của họ.

Vào ngày thứ Bẩy ngày 8 tháng Tư năm ấy, trước lễ Lá, ông Antôniô trở lại nơi Đức Mẹ hiện ra hôm trước và quỳ gối xuống mà nguyện cầu. Tức thì, ông lại thấy một luồng sáng chiếu toả còn sáng hơn hôm trước nhiều bỗng chốc đáp xuống hòn đá tảng ở giữa sông. Và, ông thấy nơi lằn sáng ấy, khuôn mặt dịu dàng của Đức Mẹ mặc áo trắng tinh, trên đầu đội triều-thiên bằng vòng óng ánh.

Ông Antôniô kể: lần này, Mẹ đứng trên đó hai tay giang rộng theo tư-thế tuôn đổ lòng từ-bi nhân-hậu xuống với ông. Và, một lần nữa, Mẹ yêu-cầu ông phải ăn kiêng trong 3 ngày thứ bảy liên-tiếp và về nói với vị linh-mục tổ-chức kiệu rước và khuyên dân chúng ăn-năn từ bỏ con đường lầm-lỡ, nếu không cuộc sống của họ sẽ bị rút ngắn đi.

Khi ông Antôniô xin Mẹ ra dấu hiệu để mọi người theo đó mà tin lời ông kể, thì Mẹ tra-lời rằng: ông không cần điều đó để rồi Mẹ sẽ linh-ứng dạy cho giáo-dân biết cách sống cho phải phép.

Sau đó, Mẹ giơ cánh tay và hướng mắt lên trời như thể cầu xin Thiên-Chúa điều gì và nói: “Xin cho chúng lòng Từ-bi nhân-hậu chứ không phải công-lý”. Nói xong, Mẹ biến mất.

Sau đó, toàn vùng vẫn được hương thơm ngào ngạt. Ông Antôniô bèn tức tốc chạy nhanh về kể cho chúng dân làng Savôna biết về thông-điệp thứ hai và cũng là thông-điệp cuối cùng này từ Đức Nữ Trinh Maria, phán ra.

Từ ngày đó, Đức Mẹ được tôn-sùng tại làng Savôna như Mẹ Từ Bi Nhân-hậu, với mọi người. Tin về việc Mẹ hiện ra được loan đi rất nhanh chóng và chẳng bao lâu số đông dân chúng đã bắt đầu hành-hương viếng thăm nơi Mẹ hiện đến. Dân làng lập một Ủy-ban để điều-hành lượng người đến hành hương và vô số tiền của được mọi người ban tặng để xây-dựng một đền kính Đức Mẹ Từ Bi ở đây.

Ngày 21 thánh Tư năm ấy, Giám mục Batôlômêô Chiabrers đã ra lệnh cho xây nguyện-đường ở đây. Dự-án này cũng được hội-đồng thị-xã chấp-thuận và Đức Hồng Y Spinola Horace cũng đã đồng ý cho làm thế vào ngày 24 tháng 7 cùng năm ấy.

Và, ngày 11 tháng 8 năm ấy, mọi người tiến-hành việc xây-dựng nguyện-đường mới này. Bốn năm sau, cộng-đồng trong thị-xã đã tuyên-bố ngày 18 tháng 3 là ngày mọi người tổ-chức lễ-hội mừng kính Đức Mẹ với danh xưng này, và mỗi năm đều có kiệu rước đi đến đền Mẹ Từ Bi.

Từ năm 1809-1812, Đức Giáo Hoàng Piô thứ 7 bị giam cầm tại Savôna theo lệnh của vua Napôlêon, và ngài có tuyên-bố rằng: nếu ngài được trao trả tự-do, ngài sẽ đặt vương-miện lên tượng kính Đức Mẹ Từ Bi Nhân-hậu.

Và, ngài đã giữ lời hứa thực-hiện điều ấy vào ngày 10 tháng 5 năm 1815. Nay, đúng 200 năm sau, Đức Giáo Hoàng Phanxicô  đã biên thư riêng cho Giám-mục thành Savôna yêu-cầu thiết-lập Năm Thánh Ngoại Thường kính Đức Mẹ Từ Bi Nhân-Hậu.

Và ngày nay, ta có làm giống như Đức Giáo Hoàng Phanxicô là để cố-gắng tạo sự tin tưởng vào Năm Thánh Từ Bi dâng tặng Đức Mẹ là Mẹ Từ Bi Nhân Hậu vì biết rằng Mẹ sẽ luôn nghe lời ta cầu bàu.” (x. Lm John Flader, The ‘cascade of grace from heaven’ at Our Lady of Mercy shrine, Question Time, The Catholic Weekly 17/1/2016, tr. 12)

            Nghe đấng bậc cha cố kể chuyện Đức Mẹ giống như bọn trẻ nghe mẹ cha kể chuyện cổ tích, vào mỗi tối. Thôi thì, có tin hay không chuyện hiện ra và phép lạ Mẹ làm, là chuyện tư riêng của mỗi người. Vấn-đề quan-trọng là hỏi rằng: ta có quyết-tâm thực-thi lòng từ-bi nhân hậu với mọi người, như lời dạy của Đức Chúa hay không mà thôi.
Bởi, lúc nào và bao giờ cũng thế, đấng thánh nhân-hiền bao giờ cũng nhủ-khuyên dân con trong Đạo Chúa, hãy làm thế. Làm như lời thánh-nhân từ bii nhân-hiền vẫn luôn dạy, rằng:

“Thật vậy,
trước kia anh em đã không vâng phục Thiên Chúa,
nhưng nay anh em đã được thương xót…”
(Rôma 11: 30-31)

Và, sách Cựu Ước còn nói rõ hơn về lòng từ bi của Chúa với tất cả mọi người, rằng:
           
            “Con người thì thương xót cận thân,
còn Đức Chúa xót thương mọi xác phàm.
Người trách cứ, sửa sai, dạy dỗ,
và dẫn đưa, như mục tử dẫn đàn chiên.”
(Huấn ca 18: 13)

Xem thế thì, lòng từ-bi/nhân-hậu –mà người thời nay gọi là “xót thương” đã đổ tràn lên  tất cả mọi người, không phân biệt lương/giáo, già/trẻ, trái/gai. Tất cả, đều đã được Chúa tỏ bày lòng từ-bi/nhân-hậu, rất “thương-xót”.
Lòng từ-bi/nhân-hậu đổ tràn từ Thiên-Chúa có từ thuở đầu đời của con người. Ngài ban tặng cách “cho không/biếu không” mà chẳng cần một ai trung-gian/giời-thiệu. Và, Ngài vẫn tiếp-tục ban tặng cả với những người đầy những lỗi cùng tội. Ngài còn đùm bọc ôm ấp, rất thân thương những người ra như thế. Như thế, mới gọi là từ-bi/nhân-hậu, rất trọng đại.
Còn, lòng từ-bi mẹ hiền của Đức Maria, theo thiển ý, chỉ là phó-bản sao chép tấm lòng đại-độ của Thiên-Chúa. Sao và chép theo kiểu người phàm, cho dễ hiểu. Chứ, thực ra, Mẹ chẳng tài ba được bằng Chúa.
Và, cũng theo thiển-ý, sở dĩ đấng bậc vị vọng chuyển-tải câu truyện kể về sự nhân-từ của Mẹ hiền rất Maria, là để người người cứ theo đó mà bắt chước. Bởi, mỗi người và mọi người đều là “mẹ hiền” từ bi nhân hậu theo kiểu nào đó, rất âm-dương.
Còn nhớ, một đấng bậc khác tuy không kém phần vị vọng, cũng từng biểu-tỏ lý-do ta tuyên-dương, tôn-sùng Đức Maria là tập-tục có từ thời thượng-cổ ở Đạo Chúa, khi ấy vào năm 1854, Đức Piô thứ 9 đã tuyên-dương rằng: Đức Nữ-Trinh Maria “ ngay từ buổi đầu cưu-mang con Thiên-Chúa đã được Chúa giữ gìn và bảo vệ khỏi mọi lỗi/tội, cả tội nguyên-tổ…”
Xem ra giáo-hấn tương-tự từ một Đấng Bậc ở chốn chóp bu Hội-thánh chỉ cốt tạo nỗ-lực khiến cho Đức Maria gần gũi tương-tự như các thần-nữ của dân ngoại, mà theo họ các đấng thần linh này được tin rằng các ngài cũng được cưu-mang một cách rất siêu nhiên…” (Xem thêm Mary Worship, trong Babylon Mystery Religion, Ralph Woodrow Evangelistic Association Inc. 1981 tr.20)
Nói gì thì nói, có nói thế nào đi nữa, cũng công-nhận rằng: Lòng từ-bi/nhân-hậu của Thiên-Chúa đổ tràn qua Mẹ Maria và các thánh, là để người người theo đó mà sống rất thương yêu đùm bọc lẫn nhau.
Nói gì thì nói, cũng là nói theo cung-cách của phàm-nhân khi đề-cập đến chuyện từ-bi/nhân-hậu của Đức Chúa mà ngôn-ngữ loài người không thể diễn sao cho hết.
Nói gì thì nói, cũng chỉ như nói và kể như truyện kể rất phiếm ở đời có những lời dí dỏm như sau, để minh hoạ:

“Truyện rằng:

Trong cuộc tranh-luận về vai-vế của Ađam và Evà hỏi rằng: tổ-tiên loài người có từ-bi nhân hậu hay không và nếu có, sẽ giống sắc-tộc nào vào thời nay. Vì là tranh và luận nên có 3 đấng bậc tranh nhau nói:

Đấng bậc gốc Pháp nói: “Hai vị tiên-tổ ấy sống và ăn mặc theo kiểu trần như nhộng trước mặt Đức Giavê, thì chỉ có thể là dân Pháp, mà thôi.

Đấng bậc rất Mỹ, lại cãi: “Không phải thế đâu. Đúng ra, họ tự-do luyến-ái đến mức lẽ ra có thể sống hạnh-phúc, nhưng có một điều là nếu không phạm vào điều cấm-kỵ,  mà chỉ có mỗi khát-vọng tự-do cá-nhân mà vẫn không chịu được sự cấm-đoán đó, thì chỉ có thể là dân Hoa-Kỳ, mà thôi.

Một đấng bậc khác nghe xong, vẫn thấy không ổn bèn góp ý, tuyên-bố: Không áo/quần, nhà cửa lại cũng không, thậm chí ăn có mỗi quả táo thôi cũng bị cấm, thế mà vẫn bảo là mình đang sống ở thiên-đường, thì chắc chắn đấy là người Anamít mình, thôi…”

Thôi thì, truyện kể thế nào cũng vẫn là chuyện phiếm rất kể lể. Kể, để cho vui, chứ đã chắc gì có thật. Sống đời đi Đạo tức sống Đạo rày cũng thế. Nhiều lúc và cũng lắm khi người người cứ kể vô số truyện hay cãi tranh rất nhiều thứ chỉ cốt để nói lên rằng mình nắm vững chân-lý rất phiến diện, mà thôi.
Nhận-định thế rồi, nay mời bạn và tôi ta cứ hiên-ngang cất tiếng hát lên câu ca trích dẫn ở trên chỉ để nói lên điều gì đó, rất dễ hiểu. Hát rằng:

“Sống sót trở về, linh mục dựng gác chuông
Chúa giáng ơn lành cho bổn đạo bốn phương
Sống sót trở về, nơi Phật đài ngát hương
Tiếng mõ chen vào lời Thượng Tọa xót thương.”
(Phạm Duy – bđd)

Và cứ thế, đề nghị bạn đề-nghị tôi, ta lại sẽ cùng mọi người rằng: khi suy về lòng từ-bi rất nhân-hậu của Đức Chúa hoặc phó bản sao chép của Đức Maria, ta cứ vui lòng thực-hiện nỗi niềm từ-bi/hỷ xả với mỗi người và mọi người. Ở trong đời

Trần Ngọc Mười Hai
dám mở miện ra mà
đề nghị bạn và tôi
rất như thế.   
   
     

 








“Em hỏi anh có bao giờ,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ nhất mùa Chay năm C 24/02/2016

                                                     Em hỏi anh có bao giờ,”
         con sông kia thôi ngừng trôi,
       anh trả lời em rằng:
        một ngày nắng hạn sông sẽ cạn khô.”
          (Lê Nguyên – Em Hỏi Anh)

(Mt 6: 25, 31-33)
Trong đời thường, lại vẫn thấy nhiều câu hỏi thật khó trả lời/trả vốn, ít rách việc. Tựa hồ như hôm ấy, có bạn-đạo nọ lại cũng chạy đến hỏi bần-đạo một câu nghe qua tưởng là ngớ-ngẩn, nhưng xét kỹ thấy thật cũng khó biết! Bạn-đạo hôm ấy, lại cứ lẽo đẽo theo sau, hỏi câu rằng: “Có thật, khi xưa Chúa đi rao giảng khắp chốn, Ngài ăn uống đủ chất đạm hay không thế, hả thày?” 
Thú thật với các bạn đang đọc giòng chữ này, là: bạn đạo của bầy tôi đây hỏi gì không hỏi, hỏi thế thì có ma nào mà trả lời! Còn nữa, bần đạo đây có đạt chức năm hoặc leo lên bậc thày sáu vĩnh viễn bao giờ đâu mà sao cứ gọi bần-đạo bằng “thày” nghe xong chỉ muốn chạy, thôi.
Vâng. Bần đạo đây, có lần cũng bị đồng môn/đồng sàng hết xưng hô này nọi rồi còn gọi bằng tên rất ư là “thày chạy”, tức: chưa làm thày đã cao-bay-xa-chạy; hoặc cũng đã làm thày, nhưng nay chạy khỏi Dòng thánh, rất tu ra.
Thôi thì, bạn đạo muốn gọi bầy tôi đây bằng gì thì gọi; gọi và hỏi xong, hãy để bần đạo nghiên-cứu sách/vớ với thầy/cô rồi trả lời, cũng chóng thôi.
Tuy nhiên, trước khi trả lời/trả vốn, lại xin mời bạn/mời tôi, ta nghe câu hát tiếp cũng hỏi han, như sau:

“Em hỏi anh có khi nào
đám mây kia thôi ngừng bay.
Anh trả lời em rằng:
mây ngừng bay khi mưa đến bất chợt.

Em hỏi anh, có bao giờ
anh thôi không còn yêu em.
Anh trả lời em rằng:
cuộc tình chúng mình không bao giờ tan.

Em hỏi anh đến khi nào
anh đi chung đường người ta?
Anh cười với em rằng:
tình yêu đôi ta mãi chung một đường.”
(Lê Nguyên – bđd)

Ấy đấy. Hỏi về tình-yêu hai người, thì câu trả lời luôn là thế. Là như thế, tức như thể bảo: người hỏi đã có câu trả lời rồi, nhưng không thích. Hỏi, chuyện đời thì như thế. Còn, hỏi chuyện Đạo lại không dễ như các bậc “thày-không-chạy” từng dạy trên báo Đạo/báo đời, rồi thoái lui thôi.
Thôi thì, bạn đạo đã hỏi, thì bần đạo bầy tôi xin trả lời lai rai đến mai ngày, rồi cũng hết.
Bần đạo còn nhớ, có lần bắt chộp được bài viết đăng trên tờ “The Australian Catholics” có đoạn nói về chuyện ăn/uống của bậc thày dạy, những bảo rằng:

“Tương-quan ta có với mọi người thường là ngang qua của ăn/ thức uống, là sự việc phức-tạp, ở trong đời. Đời sống con người, vẫn cần thực-phẩm bổ-dưỡng để sống sót. Và, việc  sử-dụng thức ăn vẫn được coi như phương-tiện rất đạt để sẻ-san/bồi-đắp tương-quan ta có với mọi người. Thế nhưng, nếu ta tập-trung quá nhiều vào thực-phẩm bổ-dưỡng, lại sẽ có nhiều vấn-đề nổi lên, phức-tạp hơn.” (X. Lm Andrew Hamilton sj, Glutony vs temperance, The Australian Catholics, Christmas 2015, tr. 17-20).

Và, theo chiều-hướng rất đúng-đắn của đấng bậc vị-vọng trong Đạo, nay ta cứ tiếp-tục tiến vào phần lập-luận có nội-dung đứng đăn, minh-nhiên, liên-tục.
Nhưng, trước khi vào với nền thần-học minh-nhiên về chuyện thực-phẩm, lại xin mời bạn/mời tôi, ta nghe thêm câu hát nữa, để được vui. Gọi là hát, nhưng chừng như đây chỉ là câu than và vãn về những xa rời, sầu buồn một hành-trình như sau:

“Nhưng sao hôm nay,
anh đã đi xa em rồi,
như con sông kia đến lúc cằn khô,
em đây ngây ngô,
khóc than đêm ngày, 
mong sao nước mắt
lắp đầy con sông kia.
 
Sao khi xưa
anh không nói với em đôi lời,
tình yêu đôi ta có lúc tàn phai,
cho con tim em xót xa mong chờ,
trời ngăn cơn mưa mây sẽ lại bay.”
(Lê Nguyên –bđd)

Cũng thế, trong cuộc đời, nhiều người rất ư là ngây-ngô khi nghĩ về thực-phẩm chỉ như phương-tiện để nuôi sống cá-nhân mình mà thôi. Chính vì thế, đấng bậc nhà Đạo, lâu nay giữ vai trò của vị cố-vấn, thấy vậy bèn góp ý với bạn đạo về chuyện thực-phẩm nuôi sống bằng lập-trường chính-đáng rất đóng góp, như sau:

“Nhiều người vẫn coi chuyện ăn/uống như sự việc cá-nhân riêng-lẻ, chẳng dính gì người khác; mà kỳ thực, ăn và uống là sự việc con người vẫn cùng làm với nhau và cho nhau.

Khi thấy nhiều người thường hay tống vào miệng đủ mọi của ăn/thức uống mà chẳng nghĩ gì đến người khác, ta thường bảo người ấy là đám phàm ăn/tục uống, như con vật. Thật ra, đối với chim muông/loài thú, thì: chuyện ăn/uống là sinh-hoạt mang tính-chất rất xã-hội. Với loài người, nhiều lúc nhà không đủ thức ăn, người mẹ phải nhịn miệng chịu cơn đói để con cái mình được no đầy. Xem thế thì, ăn uống không đơn-giản chỉ là việc thoả-mãn cá-nhân cho đỡ đói mà thôi, nhưng còn là nhớ và lo cho người khác, bất kể người đó có là con cái, họ hàng hoặc bạn bè thân thuộc.

Trong Đạo ngoài đời, vẫn thấy có những nhóm/hội hoặc cá-nhân vẫn hay tổ chức mở hàng quán, hoặc cái-gọi-là “thức ăn lăn bánh” đem thực phẩm-đến với mọi người, chí ít là những người đói bụng. Nhưng khi đến với người nghèo và đói, người tiếp thức ăn không chỉ cho đi thực-phẩm mình dọn sẵn, mà còn để chuyện-trò, trao-đổi mà nhiều lúc cần hơn cơm/cháo.

Thách-đố lớn với con người, là: tạo tương-quan mật-thiết như trọng-tâm của chủ-đích hơn việc nuôi cơm/cháo cho no bụng. Đồng thời, còn để cất bỏ đi tính ích-kỷ/trẻ con chỉ biết mình, biết mỗi cái bụng của mình, để rồi biết nghĩ đến người khác, lo cho người khác không chỉ chuyện cơm bánh vật chất, mà cả chuyện tinh-thần, đó mới là việc cần-thiết...” (X. Lm Andrew Hamilton, sj  bđd)

            Đồng ý, là đấng bậc vị vọng cỡ thầy dạy bao giờ cũng nói thế. Còn, dân-gian bình thường ở huyện nhà nghĩ thế nào về chuyện người đời chuyên ăn uống/lo toan mỗi cái bụng của mình và của người ở đây?    
Lại cũng thêm một hỏi han đòi có câu trả-lời, ngay tức thì. Đến đây, cũng lại xin đề-nghị bạn và tôi, ta nghe thêm câu trả lời nằm sẵn trong câu hỏi, những hát rằng:

Em hỏi anh có khi nào
đám mây kia thôi ngừng bay.
Anh trả lời em rằng:
mây ngừng bay khi mưa đến bất chợt.
           
Em hỏi anh, có bao giờ
anh thôi không còn yêu em.
Anh trả lời em rằng:
cuộc tình chúng mình không bao giờ tan.
(Lê Nguyên – bđd)

Vâng. Nếu hỏi và nói như người nghệ-sĩ về chuyện mây ngừng trôi/thôi yêu em, khác nào người thường ở huyện lại cũng hỏi về chuyện ngưng ăn uống, hoặc ăn và uống chỉ để nhồi nhét cho đầy bụng của mình, và của người?
Vâng. Người đời thường hỏi thế và trả lời cũng tương-tự như thế. Thế nhưng, người nhà Đạo lại vẫn nhớ lời Đức Giêsu rất Thánh từng khuyên răn mọi người rằng:

“Vì vậy Thầy bảo cho anh em biết:
đừng lo cho mạng sống:
lấy gì mà ăn;
cũng đừng lo cho thân thể:
lấy gì mà mặc.
Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn,
và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao?.”
(Mt 6: 25)  

Và, Đấng Thánh Nhân Hiền cò bảo thêm:

“Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi:
ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây?
Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm.
Cha anh em trên trời
thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó.

Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa
và đức công chính của Người,
còn tất cả những thứ kia,
Người sẽ thêm cho.”
(Mt 6: 31-33)

            Vâng. Chính thế. Chỉ mỗi một thứ, mà mọi người cần lo toan, đó là: Tìm kiếm Nước Thiên-Chúa. Nước Thiên-Chúa, còn gọi là Nước Trời, tức thánh-hội ở trần gian, ở trong đó có mọi người lo toan cho nhau, và vì nhau.
            Vâng. Ngày hôm nay, của ăn/thức uống vẫn là và sẽ là những thứ, những sự mọi người người đều tìm kiếm. Kể cả dân ngoại, bạn đạo thuộc tôn-giáo khác.          
Vâng. Thực tế trên đời đều cho thấy: thực-phẩm xưa nay vẫn là quà tặng của Thiên-Chúa phú ban cho mọi loài, không chỉ loài người mà thôi. Dĩ nhiên, ta không thể coi thường hoặc coi đó như của trên trời rơi xuống, rất nhưng-không.
            Ta nhận lãnh thực-phẩm đáng mồ hôi, xôi nước mắt do tự tay mình làm ra. Ta vẫn có quyền vui nhận và hưởng thụ quà tặng từ Thiên-Chúa có thêm sự hợp tác của mỗi người qua sáng tạo bằng việc nấu nướng, trình-bày hoặc phổ-biến đến người khác.
Khi đã là quà tặng, ta còn phải biết ơn người tặng ban và hợp-tác với Ngài bằng việc pha-chế, biến-cải cho thích-hợp với khẩu-vị cũng như tập-tục của mình và của người. Và, khi của ăn/thức uống là quà tặng rồi, thì người nhận quà không có lý do gì để than-vãn, phiền-hà người chế-biến và/hoặc nấu nướng các thứ thành món, rất bài bản.
Từ đó trở-đi, việc chung ăn chung uống sẽ dẫn mọi người đi vào trạng-huống hành-xử đúng như người có văn minh/văn-hoá đúng nguyên-tắc. Và nguyên-tắc người người đặt ra, cho nhau, không tập-trung vào chuyện ăn gì, uống gì; mà là: cùng ăn cùng uống như bạn bè người thân, tức: những người nhận-lãnh cùng một quà tặng từ Trên ban phát, rất đồng đều.
Và từ đó, của ăn thức uống giúp con người tạo nên quan-hệ luôn tốt đẹp. Sự khác biệt giữa người đi Đạo và sống Đạo với mọi người, là: biết trân-trọng mọi của ăn/thức uống, coi đó như Thân Mình của Đức Chúa đã tặng ban cho ta không vì ta có công có của, gì trong đó. Mà, chỉ vì ta cùng là con cái của Ngài, dù khác Đạo, khác tâm-tính.
Tắt một lời, của ăn/thức uống cũng như tình bằng-hữu/đệ-huynh mình tạo-tác, sẽ khiến ta sánh vai nhau để nhân rộng nhiều thực-phẩm cho những đang có nhu-cầu mà chưa đạt. Và, cũng từ đó, tất cả sẽ cùng nhau cảm tạ những người, những vị đã tạo nên thực-phẩm ngon/ngọt như thế để rồi mãi cùng nhau vui hưởng cuộc sống ấm no, tràn đầy ở Nước Trời.           
Thế đó, còn là câu trả lời cho người hỏi qua ca từ ở trên như:

“Em hỏi anh, có bao giờ
anh thôi không còn yêu em.
Anh trả lời em rằng:
cuộc tình chúng mình không bao giờ tan.”
(Lê Nguyên – bđd)

Vâng. Đúng thế. Khi đã biết sẻ-san của ăn và thức uống cũng như tình yêu với nhau và cho nhau rồi, thì cuộc tình ấy, tức tình người và tình đời sẽ không bao giờ tan. Dù rằng, mây có ngừng trôi, mưa vẫn kéo không kịp tạo nắng ấm, rất khó khăn.
Để minh-hoạ cho sự cần-thiết của những sẻ-san cả thực-phẩm lẫn tình yêu thương với nhau và cho nhau, cũng nên tìm về vườn hồng truyện kể nhè nhẹ, dễ nhớ, mà kể cho nhau mãi, câu truyện như sau:

“Truyện rằng:

Anh học trò nọ đang gấp rút về nhà lúc nửa đêm, nhìn thấy một người mù đang thắp đèn lồng, anh này cảm thấy rất kì lạ, bèn tiến đến hỏi: “Anh là một người mù, vậy tại sao còn thắp đèn lồng?”

Người mù nói: “Tôi nghe người ta nói, mỗi lần đến tối nếu không có đèn lồng, mọi người sẽ không nhìn thấy gì cả, sẽ biến thành một người mù giống như tôi. Vì vậy, mỗi buổi tối tôi đều thắp đèn lồng”.

Anh học trò ngạc nhiên nói: “Hóa ra anh làm vậy vì muốn mang lại ánh sáng cho mọi người!”.

Người mù thành thật trả lời: “Thật ra phải nói là tôi vì chính mình thì đúng hơn!”.
Người học trò càng mơ hồ, không hiểu là thế nào, người mù vội giải thích: “Tôi là một người mù, không nhìn thấy gì cả, nhưng tôi thắp đèn lồng chiếu sáng đường đi lối về giúp mọi người, cũng đồng thời giúp họ nhìn thấy tôi, như thế họ sẽ không vì không nhìn thấy mà đụng tôi té ngã nữa”.

Với người mù đó, thắp đèn chiếu sáng cho mọi người chính là thắp sáng cho bản thân, điều đó cũng gần với việc quan tâm người khác thật ra là quan tâm chính mình. Trong cuộc sống, nhiều lúc con người ta rất ích kỉ, luôn không muốn cho đi bất kì thứ gì hoặc giả có cũng là rất ít. Tuy nhiên, họ không biết rằng, thật ra cho đi vì người khác, cũng là vì chính bản thân mình, cho nhiều bao nhiêu sẽ được nhận lại bấy nhiêu.
    
Chia sẻ điều gì đi nữa, cho đi là: của ăn/thức uống, chút ánh-sáng, cũng vẫn là chia và sẻ cho nhau thứ tình thương-yêu những người cùng một giống loại. Tức, người đồng-loại.
Chia và sẻ, chút ánh sáng như câu truyện ở trên, lại cũng là sẻ và chia cho nhau một chút tình của người có được thị-lực đem đến tặng cho người không thấy được ánh-sáng. Cả ánh mặt trời, lẫn ánh-sáng của tình thương-yêu, cần sẻ san. Chia và sẻ như thế, tức: ban tặng cho người một thứ tình dầy đặc, ít có người làm như thế.
Và, đó còn là câu trả lời không mấy khó cho người hỏi ở trên cứ miên man hỏi hoài và hỏi mãi bằng với ca-từ và giòng nhạc lạc lõng, lạc điệu nếu nghệ-sĩ mình không hát bằng tình thương-yêu và bằng tâm-hồn thương yêu rất đích-thực. 
Chia và sẻ cho nhau của ăn/thức uống và ánh sáng, còn là và vẫn là thực-hiện lời khuyên của Đức Chúa, Đấng Nhân Hiền chỉ những chia và sẻ chứ không hỏi hoài hỏi mãi những câu không đáng hỏi.
Và, đó là vấn-đề cho mình và cho người rất hôm nay, và mai ngày.

Trần Ngọc Mười Hai
Nay nhất định
sẽ không hỏi như ai đó
dù chỉ một câu hát.
Nhưng sẽ cố tìm câu trả lời
Cho mình và cho người.