Saturday, 8 February 2014

“Chiều nay, lê gót phiêu du,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 6 Mùa thường niên Năm A 16-02-2014

“Chiều nay, lê gót phiêu du,”
Thầm nhớ xuân về làng cũ.
Tình quê, chan chứa trong lòng.
Chua xót hay sầu tư hương...”
(Phạm Đình Chương – Xuân Tha Hương)

(Mt 5: 42/Mt 10: 8-9)
            Có xa quê, mới thấm thía được câu hát của người Việt mỗi lần “Nhớ Xuân Về”, nơi làng cũ. Nhớ, cả “tình quê chan chứa trong lòng,” “chua xót hay sầu tư hương”, thật rất nhớ.
Bấy lâu nay, mỗi lần bần đạo “phiếm loạn xạ” nhiều chuyện, bầu bạn các nơi cứ hay chê trách bày tôi đây sao nhớ-nhung lung-tung thế? Thú thật với bà con, là: một mình ngồi rầu rĩ ở góc phòng những viết và lách vào ngày xuân tha hương, bần đạo thấy nó não nề làm sao ấy. Bởi thế nên, nếu ai gặp thấy bần đạo mấp máy đôi môi, chắc sẽ hiểu là bần đạo đang có tâm trạng nào đó tương tự như câu hát ở dưới:

Ngày xưa xuân thắm quê tôi
Bao nhánh hoa đời đẹp tươi
Mẹ tôi sai uốn cây cành m
Vun tưới hoa mùa xinh xinh 
Thời gian nay quá xa xăm
Tôi đã xa nhà đầm ấm
Sống bao xuân lạnh lẽo âm thầm.”
(Phạm Đình Chương – bđd)

Qua xứ miền lạnh lẽo rất “Moscow”, có khi lạnh đến 20 độ âm, mà cứ âm-thầm tưởng-tượng rằng: người Việt mình sống ở đây, chắc cũng ê a dăm ba câu rất nhớ, rằng:

“Hoa xưa dần qua biết bao kỳ đơm bong.
Riêng ai buồn thương hắt hiu còn trông mong.
Và xuân thay áo mấy mùa đợi chờ,
Mắt huyền lệ rưng rưng, 
Sầu héo đến bao giờ...”
(Phạm Đình Chương – bđd)

Vâng. Có lẽ là như thế, thật đấy! Ngày đầu niên biểu “hai-không-một-bốn” rất chẵn chòi, bần đạo có một chuyến “tư-du” rất ư lịch-lãm với niềm vui thú ở xứ miền khi xưa gọi là khối “Xô-viết”; tức: cứ viết rồi lại xô; xô đi xô lại rất Nga-Sô, đến độ: bà con thấy chán ngán thứ “chính-chị-chính-em” kiểu “cách mạng mùa thu” lu bù chuyện người Cộng-sản”. Đến Nga-sô hôm đó, bần đạo được thưởng-thức môn vũ “ballet” rất Bolschoi, rất vui và rất đẹp.
Vui và đẹp trên mức tuyệt vời và tuyệt mỹ, cứ ngồi ngắm mãi đôi chân lẫn đôi tay của đoàn múa, mà lại nhớ về cõi xa vời có quê hương yêu dấu, thấy nhiều vấn đề trước mắt rất nhức đầu. Chí ít, là khi nghe nhà báo tường trình từ đâu đó, rất lăng xăng những điều rằng:

“Hiện nay, ngày càng thấy nhiều công ty lớn/nhỏ đang đầu tư thêm vào chuyện sức khoẻ của công-nhân-viên đang làm việc cho họ, nhất là đã cao tuổi rồi mà vẫn lao động rất chân chất. Ngành hoả xa Deutsch Bahn của Đức là một trong các công-ty ở đây ôm ấp chấp-nhận đổi-thay dân-số và lực-lượng lao-động đang già yếu. Nói chung, thì: công ty này muốn cho công-nhân-viên nào mình được có kinh-nghiệm làm việc, lại sẽ ở mãi với công-ty cho đến độ tuổi 65 và công ty đang đề ra các chương-trình cụ-thể để mọi người có sức mà làm việc cách hăng say.

Trên thực tế, bước đầu đổi-thay này là chương-trình thường-xuyên luyện-tập thể-hình và tâm-trí cho những ai chấp-nhận sẽ làm thế. Tập-luyện tâm-trí, để gia-tăng bộ nhớ và duy-trì sinh-hoạt của óc não sao đó để còn lao động lai rai, rất dài ngày. Trong khi đó, thì luyện-tập thân-xác với thể-hình để có được sức dai/bền, mà làm việc. Chương-trình này liên-quan đến việc chỉ-dẫn ccho bà con biết cách dinh-dưỡng và sống sao cho lành mạnh. Một phần của mục-tiêu được công-ty nhắm đến, là: làm sao để công-nhân-viên biết rõ, rằng: có những việc mà họ vẫn có thể làm được, để rồi khi “về già” thân hình mình vẫn đẹp đẽ, diễm kiều.

Cho đến nay, chương-trình này chú-trọng đến chuyện: làm việc một tuần 5 ngày thêm nhiều tháng nữa, ngõ hầu mãn-nguyện, đạt thành-tựu. Cái hay của chương-trình, là: nó khuyến-khích người công-nhân tiếp-tục tập-luyện cả vào lúc họ ở nhà, hay đi xa. Có như thế, công-nhân-viên ở đó mới đạt lợi-ích riêng cho bản thân mình và cho công-ty, là những người vẫn muốn mình làm thế”. (xem Shannon Roberts, How to Maintain the Brains of Aging Employees, MercatorNet 01/02/2014)

Đó, là đời thường, ở xã hội. Còn, đời sống sáng chói của Giáo hội thì ra sao? Thật ra, bần đạo đây chưa thấy gì cụ thể ở trong Đạo ra như thế. Chí ít, là ở xứ miền nằm tại vùng tận cùng trái đất, rất Úc Châu. Nhưng, chỉ mỗi chuyện: bà con ta chấp-nhận bàn về thần-học Kinh-thánh theo hình-thức “phiếm” như thế này, cũng là điều tốt. Vả lại, còn “phiếm và luận” là còn có cơ hội để bạn và tôi, ta còn hát hò đôi câu, cũng rất nhớ:

“Chiều nay lê bước phiêu du, 
Thầm nhớ xuân về làng cũ.
Tình quê chan chứa trong lòng,
Chua xót thay sầu tư hương.
Đường đi xa lắc lê thê,
Thèm khát khao ngày về quê.
Để sống vui quê mẹ lúc xuân về.”
(Phạm Đình Chương – bđd)      

Ấy đấy, nhân lúc “lê bước phiêu du” nhàn rỗi nơi vùng trời đầy Thánh Kinh, bần đạo bắt gặp một bài viết của vị cựu Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Úc Châu, trong đó có đoạn nói về Kinh Sách Tân Ước do thánh Mát-thêu ghi như sau:

“Vào các năm chẵn như năm 2014, thường khi tham-dự thánh-lễ Chúa nhật, ta vẫn được nghe các đoạn Kinh Sách do tác-giả là thánh Mát-thêu ghi. Đọc “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” rất nhiều lần, nhưng chừng như đa số bà con ta ít khi nào lòng tự hỏi lòng mình xem tác-giả sách Tin Mừng Thứ Nhất ở Tân Ước, người là ai? Sách này lấy Nguồn từ đâu? Tác-giả có dụng-đích gì khi chuyển-tải những điều ghi trong Sách, vv...và vv...

Hẳn nhiều vị lại cứ nghĩ: Kinh Sách do thánh Mát-thêu ghi ở đây, là vị thánh tông đồ trong “Nhóm 12” trước đó chuyên thu thuế/kế toán, vốn gần gũi Chúa nên đã chứng-kiến tận mắt cuộc đời và sự nghiệp Ngài chăng? Đa số giáo-dân Đạo mình, có lẽ lầm-lẫn những chuyện như thế. Nay, thử tìm hiểu về vị thánh-sử mang tên Mát-thêu, chuyện viết lách chứ không phải vị thánh khi xưa ngồi thu thuế được Chúa gọi, xem sự việc như thế nào, cũng là điều tốt, chứ!

Trước hết, có thể khẳng-định ngay từ đầu, rằng: thánh Mát-thêu Tông đồ không phải là tác giả Tin Mừng thứ nhất, ở Tân Ước. Danh-tánh thánh Mát-thêu-người-viết được gán ghép cách ngẫu nhiên hay sao đó, mà thôi. Trái với điều mà người thời nay hay nghe ngóng trong thoáng chốc, nếu tìm hiểu kỹ, ta sẽ thấy tín-hữu tiên-khởi có thói quen đính-kèm danh-tánh của vị tông-đồ nào đó cho công-trình chính của các ngài. Lại cũng là điều hay, nếu bảo rằng: “Tài liệu này, với ta, lại rất quan-trọng nếu khẳng-định rằng: nó có được là do một trong 12 vị thánh tông-đồ gần gũi Chúa, đã ghi lại.”

Vậy, nếu Sách Tin Mừng thứ nhất ở Tân Ước mà lại không do thánh Mát-thêu-Tông-đồ viết ra, thì người viết đích-thực là ai, mới đúng? Tại sao vị ấy lại công-khai viết những điều ấy ra như thế? Và, tác-giả viết Tin Mừng là viết cho ai? Để làm gì? vv...

Phải nói ngay, rằng: đây là một trong những câu hỏi rất đáng để ta quan-tâm, nhưng thật cũng khó mà trả lời cho thông suốt. Các nhà chú-giải Tin Mừng vẫn giả-định, rằng: tác-giả sách “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” là vị nhân-sĩ có học người Do-thái từng hồi-hướng trở về với Đạo Chúa, vào thời đầu. Một số học-giả khác lại cứ nghĩ: tác-giả Sách Tin Mừng này có lẽ là tôn-sư nào đó vốn dĩ là giống giòng Do-thái có một không hai trong Đạo.   
        
Hồi thập niên 70s cuối thế kỷ thứ nhất, ở Israel lại đã thấy xuất hiện phong-trào gồm các tôn-sư/tư-tế nổi cộm thuộc Do-thái-giáo. Các tôn-sư bậc thày, khi ấy, là các vị thức-giả hoặc thày dạy, rất xuất-chúng.  Các vị này, từng khiến cho chúng-dân biết chăm-lo những chuyện cao cả trong đời, rất phù-hợp với Luật-lệ do tiền-nhân để lại. Phong-trào tôn-sư/thày dạy được dấy lên, không là trào-lưu thuần-nhất cốt liên-kết hết mọi người, nhưng lại “cắm chặng” rất chặt vào nhóm-hội này khác, ở dưới trướng. Họ thường hay tranh-luận, cãi vã nhau về các vấn-đề trọng-yếu như sự rạn-nứt trong nhóm hội/cộng-đoàn, nếu so sánh cũng giống như các đảng phái chính-trị, ở thời hôm nay. Tác-giả là Mát-thêu-người-viết sách Tin Mừng, rất có thể cũng thuộc một trong các nhóm ở dưới thấp thuộc bè phái rất Pharisêu, cũng nên. 

Thế nhưng, họ tin tưởng một cách chắc-nịch rằng: Đức Giêsu là Đấng Mêsia đã trao trọn-vẹn ơn cứu-độ cho muôn người. Xác-tín này, từng khuyến-khích các ngài dấn thân vào công-cuộc mục-vụ và mở rộng lòng người biết đón-nhận những ai không phải là Do-thái lại muốn gia-nhập cộng-đoàn của các ngài.

Thánh Mát-thêu-nhân-sĩ-và-là-người-viết cũng thuộc một trong các cộng-đoàn như thế, vào thời đó. Có phần chắc chắn, là: cộng-đoàn của thánh-nhân đã sinh-hoạt cách thực-thụ ở An-ti-ô-ki-a. Đó là cộng-đoàn gồm các kẻ tin vào Đức Kitô, được thành-lập thành hệ-thống nhóm-hội rộng lớn hơn, gồm phần đông người Do-thái. Các ngài cùng san-sẻ tầm hiểu-biết về đạo-giáo giống như bất cứ người Do-thái nào khác. Trên thực tế, các ngài là người Do-thái hiểu theo nghĩa sắc-tộc và linh-đạo. Các ngài hăng say duy-trì tính kiên-định có tập-tục truyền-thống trong quá-khứ. Lại nữa, các ngài rất sốt-sắng đề-cập đến các vấn-đề đặt ra do bởi sự-kiện: các vị “ngoài luồng”-trở-lại-Đạo lại đã không sẻ-san cùng một truyền-thống với các ngài. Lại nữa, các ngài là cộng-đoàn nhỏ trong hệ-thống Do-thái-giáo từng bị giới chức Do-thái bách-hại, cách riêng do lãnh-đạo nhóm-bè Biệt-Phái rày chủ-trương. Các vị có lòng đạo từng hăng say như thế, lại cũng tham-gia phấn-đấu chống lề-thói kết bè lập đảng như tình-trạng đối-đầu giữa người Công-giáo và Thệ-Phản nhiều năm trước.

Thánh Mát-thêu-học-giả-nhân-sĩ-và-là-người-viết Tin Mừng bằng tên của mình chính để đề-cao cho thấy tình-hình hội-thánh tiên-khởi và cốt để sáng-tỏ việc cộng-đoàn thánh Mát-thêu thời đầu phấn-đấu cho cộng-đoàn mình – gồm người Do-thái và dân ngoài luồng- nghe biết những gì Chúa giảng dạy và truyền rao mục-vụ. Muốn được thế, Mát-thêu-người-viết-Sách-thánh đã sử-dụng 3 “nguồn” chính có trong tay, là: truyền-thống niềm-tin được thực-thi trong cộng-đoàn (có vị khác cho rằng: “nguồn” này đến từ thánh Phêrô tông-đồ). Còn, hai “nguồn” kia, lại là: văn-bản chính về giáo-lý/phụng-vụ phổ-biến rộng vào thời đó, như: “Tin Mừng theo thánh Mác-cô” và nhu-liệu “Q”. Nhu-liệu “Q”, được coi như văn-kiện chứa đựng nhiều câu nói của Chúa. Thánh Mát-thêu-người-viết-Sách lại đã gọt dũa ba “nguồn” rải rác này thành văn-bản mà ngày nay ta gọi là “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu”.

“Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” là công-trình của bậc vĩ-nhân. Tác-giả hoàn-tất thành-phẩm này tại địa-danh nào đó ở Israel vào những năm tháng giữa thập-niên 80 cho đến niên-biểu 100, sau Công nguyên. Có thể nói, đây là Tiểu-sử của Đức Giêsu Kitô nhằm dẫn-giải Lời Ngài từng nói, theo khuôn-khổ của truyện kể để nói lên niềm xác-tín của những người từng nghe/biết và yêu-thương Ngài. Thánh Mát-thêu-người-viết-Tin-mừng đã rút tiả chi-tiết ấy từ các truyền-thống và xác-tín này khác, ngõ hầu hoàn-thành tài-liệu hiếm-quý cho cộng-đoàn mình học hỏi và thực-thi. Đây là tập truyện kể về Đấng đã sống, đã chấp-nhận cực-hình đặt ra cho Ngài, và Ngài đã chết như mọi người ở dưới đất. Hơn thế nữa, đây còn là truyện kể cốt tỏ cho người đọc thấy được quyền-uy/sức-mạnh rất lướt-vượt của Chúa, khi Ngài hoạt-động mang tính yếu mềm, dẻo-dang như bản-chất của người thường.

Tác giả “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” viết trổi bật hơn các tác-giả khác, đặc-biệt ở điểm này, là: thánh Mát-thêu nhận-thức và thể-hiện đặc-tính “rất Do-thái” của Chúa. Thánh-nhân là người viết Tin Mừng duy nhất tả về gia-phả của Chúa gốc gác rất Do-thái, đồng thời có tỏ ý bảo: Đức Giêsu là Môsê-Mới, Ngài được ủy-thác trọng-trách dẫn-dắt con dân của Ngài về với thận-phận đích-thực được tuyên-hứa ở trong Chúa. Nói cách khác, đã trao ban cho Đức Giêsu thứ căn-cước hoàng-tộc bằng việc mô tả Ngài thuộc giòng-dõi vua Đavít. Làm thế, thánh-sử thường cho thấy rằng: Đức Giêsu đã dùng lời nói và hành-động để ứng-nghiệm những điều được mặc-khải trong Cựu-ước...

Bằng việc viết lên Tin Mừng để trình-bày cho người đọc mọi thời biết được những ưu-tư của các vị sống trong cộng-đoàn tiên-khởi, thánh Mát-thêu-là-người-viết-Sách còn chuyển-trao thông-điệp cần thiết cho mọi thời, một cách xuyên suốt. Đọc Tin Mừng do thánh-nhân viết, người đọc có cảm-giác như tác-giả viết cho chính ta vào thời buổi hiện-đại này. Ví-dụ cụ-thể cho sự việc này là sự xung-đột giữa Vương-quốc Nước Trời và vương-triều của quỷ dữ, rất Satan, tức một trong các chủ-đề chính của Tin Mừng do thánh-nhân viết, vẫn luôn là vấn-đề nổi-cộm kéo dài đến ngày nay như vào thời của cộng-đoàn Hội-thánh tiên-khởi và cộng-đoàn chúng-dân thời Chúa sống. Nhờ có thánh Mát-thêu-thánh-sử, ta được nhắc nhở rằng: triều-đại của Chúa chẳng bao giờ trở thành hiển-nhiên như sự-kiện lịch sử của con người, nhưng Chúa vẫn là Đấng quản-cai toàn-thể vũ-trụ và các vấn-để của nhân loại. Ngài dạy ta biết hy-vọng, nguyện cầu và biết cách mà tuyên xưng triều-đại của Vương quốc Nuớc Trời với mọi người...

Tác-giả Mát-thêu viết Tin Mừng của mình bằng nguồn hy-vọng nóng cháy cho thấy rằng: Câu truyện về Đức Giêsu Kitô sẽ đánh động tâm can con người, và mọi người, nam cũng như nữ, sẽ hiểu được, tin được và yêu thương Đấng Cứu Thế qua tư cách vua-cha có đủ thẩm-quyền, lòng xót thương tặng ban chính mình Ngài, là Đấng đến từ Thiên-Chúa-là-Cha để phục-vụ và tặng ban sự sống của chính Ngài cho mọi người, như đoạn Tin Mừng 20, câu 28 từng tỏ rõ.

Bằng vào phụng vụ năm A trích dẫn các đoạn Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, người đọc cũng như người nghe trong các buổi Tiệc Thánh-Thể trong năm, sẽ lại đọc, nghe và suy-tư trong nguyện cầu về thông-điệp của Tin Mừng này. Thành thử, có thể nói: vai trò của thánh-nhân là người viết Tin Mừng, rõ ràng đã đem đến cho ta là người đọc thời buổi này những sự việc mang tính truyền-thống cũ/mới để, một lần nữa cũng rất mới, dạy ta biết và tin-yêu con người của Đức GIêsu Kitô, là Đức Chúa của muôn thuở, muôn thời, của đời người.” (xem Lm Michael Gilber, CSsR, According to Matthew, The Majellan Family Jan-Mar 2014, tr. 7-12)                          
        
Từ chuyện công ty Deutsch Bahn ở Đức đến chuyện có sai sót về thời gian và tác giả của “Tin Mừng theo thánh Mát-thêu”, bần đạo thấy mình cũng nên luyện-tập sao đó, để không có nhận định sai lầm nào về lịch sử. Bởi, nói “lịch-sử” là nói những gì khách-quan, không sai sót, cũng chẳng thiên vị ai, không đứng bên nàovà cũng không theo đảng nào. Chí ít, là lịch-sử rất thánh hoặc chuyện thánh-sử-gia, cả chuyện thần thánh, rất chánh-sử.
Còn nhớ: có lần bậc thày chuyên-môn về lịch-sử kinh thánh, giáo-hội và triết lý kinh-điển của thánh Tôma Akinô, là Lm Kevin O’Shea CSsR có nói trong buổi giảng giải thần-học về “Đức Giêsu Lịch Sử” năm 2011, rằng:

“Thời Chúa sống, tuổi thọ của người Do-thái cùng thời với Chúa trung-bình từ 35 đến 40 tuổi, thôi. Thế nên, sự-kiện Đức Nữ Trinh Maria thành-thân với thánh cả Giuse vào năm Mẹ lên 15 hoặc 16, cộng với tuổi đời của Chúa là 33 năm, thành ra: khi Chúa mất, Mẹ cũng đã vượt tuổi thọ thông thường vào thời ấy, chắc không còn sống đến ngày đó để chứng-kiến Con của Mẹ chịu khổ-hình và chết nhục trên thập-tự. Việc Chúa trăn trối đôi điều với Mẹ và với đấng “thánh được Chúa mến thương” lại là ý-tưởng của tác-giả Bài Thương Khó, thì nên hiểu sự-kiện này theo nghĩa thần-học chứ không theo nghĩa lịch sử, rất khách quan. Đồi Gôngôtha có thập giá của Chúa và 2 tay trộm, là nơi không ai được héo lánh, chí ít là người nhà phạm-nhân...” (trích lời dạy của Gs Ts Kevin O’Shea, DCCT như đã dẫn)

            Nhớ đến đây, bần đạo là tay học trò “văn dốt vũ dát” yếu kém về lịch sử nói chung chí ít là lịch sử Kinh-thánh, nên đâu dám có ý-kiến phản-bác ý/lời của bậc thày. Và trộm nghĩ: bậc thày dạy sử, nhất là lịch-sử thánh và giáo-sử, ắt đã điều-nghiên không thiếu tài-liệu, trước khi dạy.
Đàng khác, Tin Mừng được các thánh-sử viết, đều có niên-biểu sau thập niên 60 thế kỷ đầu đời (như Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, được cha giáo Kinh-thánh là Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR chú thích ở cuốn Kinh Thánh, do nhà xuất bản Dòng Chúa Cứu Thế năm 1976, tr. 10 có ghi rất rõ); hoặc vào năm 64 (đối với Tin Mừng theo thánh Mác-cô, sđd tr. 81); hoặc, vào các năm 60-62 (như Tin Mừng theo thánh Luca, sđd tr. 121) và vào các năm cuối thế ký đầu đời (với Tin Mừng theo thánh Gioan, sđd tr. 188). Nói thế có nghĩa là, các tác giả Tin Mừng không vị nào chứng-kiến được tận mắt các sự việc xảy ra với Chúa cả.
Viết đến đây, bần đạo lại mạn phép xin hát thêm đôi câu trên, mà rằng:

“Xuân tới muôn cánh hoa,
Nở bay khắp nơi.
Hương khói lam dưới mưa, 
Nhẹ rơi phơi phới.
Chiều dâng sầu lâng,
Trong đường về mịt mùng.
Mây tần ơi,
Cho nhắn bao niềm thương.”
(Phạm Đình Chương – bđd)

Xem thế thì, các thánh trong Đạo tựa hồ vĩ-nhân ngoài đời, vẫn nói lên đôi lời rất chân-thực để: “nhắn bao niềm thương” và cũng để: “Trên đường về mịt mùng”, mọi người có Chúa, có trời đi cùng, sẽ thấy vui. Vui rồi, nay xin bạn và tôi, ta hướng vào vườn ngự-uyển có truyện kể, để thêm đôi chuyện viết về “Hạnh phúc”/Phúc hạnh, rất như sau:    
        
Có người đàn ông nọ muốn có được hạnh phúc, nên đã viết lên bảng giòng chữ: TÔI MUỐN ĐƯỢC HẠNH PHÚC. Một vị nhân-sĩ hiền-từ chừng như là vị sư ở chùa đi ngang qua đó thấy vậy, bèn đề-nghị xóa chữ: “TÔI!”, rồi bảo: "Phải bỏ cái TÔI đi, mới được". Nói rồi, nhân-sĩ/vị sư ấy lại đề-nghị xóa tiếp chữ: MUỐN, rồi bảo: "Xin bỏ đi lòng ham MUỐN! Có như thế mới có được HẠNH PHÚC.”

Hạnh phúc trong Đạo cũng tương tự như thế. Như thế, tức: phải bỏ đi cái “tôi” của mình, bỏ cả lòng ham muốn, tính vị-kỷ; để, chỉ biết cho đi chứ không biết nhận-lãnh, thế mới là người hạnh-đạo, rất hạnh phúc. Người đời không có được hạnh phúc hay hạnh đạo đến với mình, là vì: họ chỉ muốn tích-tụ mọi sự cho riêng mình, vào người mình; chứ không chịu cho đi tất cả những cái mình có, thế mới khó. Người tu-thân tích-đức vẫn phải như thế mới hạnh phúc. Sự khác biệt ở đời, chỉ như thế.” (Truyện kể được trích từ các bài viết trên mạng bạn bè gửi cho nhau, hôm 27/01/2014)

Nói cho cùng, hạnh phúc trên đời, chẳng khi nào do việc ta bỏ bớt đi chữ này hoặc sự việc nọ ở bài viết hoặc tài-liệu lịch-sử nào hết; mà là: cho đi tất cả, chả giữ gì cho mình hết. Dù, đó có là lập-trường hoặc tiền-bạc/tài-sản từ đâu đem đến. Có chăng, hãy chấp nhận rằng: hạnh phúc là cho đi. Cho, cả cái mình có tối thiểu để được sống. Bởi, cuộc sống muôn người là huệ lộc mình tạo được, khi cho đi. Cho hết, không giữ lại thứ gì cho mình, cho dù thứ đó có là ân-huệ dành cho riêng mình.
Nghĩ thế rồi, hẳn người người sẽ nhớ Lời Chúa từng nhắn gửi mọi người rằng:

Ai xin,
thì các ngươi hãy cho;
ai muốn vay mượn,
thì các ngươi đừng ngoảnh mặt đi.”
(Mt 5: 42)

Hoặc một đoạn khác, tác-giả là thánh Mát-thêu-nhân-sĩ lại cũng ghi lời Chúa, rằng:

“Các ngươi đã không công mà được,
thì cũng hãy cho không.
Đừng chuốc lấy vàng lấy bạc,
hay tiền đồng mà lặn lưng...”
(Mt 10: 8-9)

Quyết thế rồi, xin bạn và tôi, ta cứ hiên ngang tiến bước với lời hát, rằng:

Chiều dâng sầu lâng
Trong đường về mịt mùng
Mây tần ơi
Cho nhắn bao niềm thương.”
(Phạm Đình Chương – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai
Nay cũng lòng bảo lòng
Sẽ quyết và cũng định ra cho mình
Rất như thế.
 

Sunday, 2 February 2014

“Đêm qua ra đứng bờ ao,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 5 mùa thường niên Năm A 09-02-2014

“Đêm qua ra đứng bờ ao,”
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai.”
(Văn Phụng – Đêm Buồn)

(Lc 2: 21)
            Nếu bạn và tôi, ta thử tưởng tượng một tình huống trong đó có đấng bậc anh-hùng nọ xuất thân là người Do-thái nay trở về thăm quê nhà vời vợi, bèn “ra đứng bờ ao trông cá, cá lặn trông sao, sao mờ”; thế rồi lại còn cất tiếng hát những câu lạ kỳ, như sau:     

“Buồn trông chênh chếch sao Mai
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ.
Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà.
Ngôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn.
Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.”
(Văn Phụng – bđd)

Đã “buồn trông chênh-chếch sao Mai”, lại thấy nhớ thứ gì đó, ông bèn ới gọi: “Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ”, nhớ như thế không chỉ mỗi “Ngôi sao Tinh Đẩu” mà thôi, nhưng là nhớ rất nhiều thứ/nhiều chuyện hơn nữa. Nhớ cả chuyện “Tào Khê nước chảy, vẫn còn trơ trơ”, và những chuyện luật lệ căn bản để trở thành người Do-thái chánh hiệu, như nhận định của đấng bậc vị vọng là thày dạy, hôm nào khi giảng giải:

“Ngay từ đầu, thánh Phaolô đã được hai thánh tông đồ hàng đầu là Phêrô và Giacôbê đồng ý về nhiều chuyện; chí ít là chuyện không nên buộc các tân tòng vừa vào Đạo phải qua thủ tục ‘cắt bì’...

Có thể, thánh Giacôbê lúc đầu cũng chọn lập trường thứ hai, tức: người ngoài Đạo muốn trở lại, buộc phải qua thủ tục ‘cắt bì’ vì khi trước họ cũng đâu buộc phải chịu “cắt bì” khi sống chung với người Do-thái cho đến lúc cuối, trước khi vào Đạo...”
“Cả bên trong nội bộ Hội thánh ở Galát cũng như ngang qua các vị trước đây từng gia nhập đoàn/nhóm của thánh Giacôbê, khi đó đã thấy mọi người đều cổ võ lập-trường chủ-trương rằng: tân-tòng nào vừa hồi-hướng trở về, đều phải thông qua tục lệ “cắt bì”, như mọi người. Thế nên, chuyện dễ thấy nhất, là: sự việc ở đây đã đính kết với thói tục địa phương. Nhiều người hẳn sẽ hỏi: nếu ta cổ võ những chuyện như thế, thì tại sao ta lại có thể hội nhập với nền văn hoá sở tại được? Nhiều vị lâu nay từng gây khó khăn hoặc trực tiếp khuấy động ở nhiều vụ –tức các bạn đạo thuộc nhóm Giacôbê- đã đến Galát sau thời gian thánh Phaolô lưu lại nơi đây, lần chót. Họ được coi như tín hữu Đạo Chúa gốc Do-thái-giáo. Các vị chủ trương áp dụng luật Torah khá triệt để, và cả đến tục “cắt bì” cũng như luật ăn đồ cúng kiếng đối với người ngoại giáo vừa trở lại, nữa...”
Vấn đề đặt ra chẳng là chuyện thứ yếu, ít quan trọng. Nhiều vị –nếu không muốn nói là hầu hết- là thành viên của nhóm bạn đạo ở Galát trước đây kính sợ Chúa, tức những người ngoài Đạo nay trở thành dân con Thiên Chúa của Israel, nhưng lại không muốn thành người có gốc Do-thái-giáo vì họ chẳng ưa thích gì tục “cắt bì”, cũng vì thế. Họ là người được thanh tẩy là cốt để dấn thân vào với cộng đoàn dân con của Chúa nhưng lại không muốn chịu phép “cắt bì”, mỗi thế thôi. Hỏi rằng: như thế phải chăng họ vẫn là người ngoài Đạo? Họ có là con cháu Abraham cùng đấng thánh tổ phụ không? Họ có thực sự chung cùng một Giao ước lành thánh với Chúa chứ?” (Xem Lm Kevin O’Shea, Phaolô, Vị thánh của mọi thời, nxb Tôn giáo 2013, tr. 182-188).
Tiếp tục tưởng tượng người hùng Do-thái-giáo nói trên, giống bất kỳ tân-tòng nào vừa mới nhập Đạo Chúa, thời tiên-khởi cũng sẽ tự hỏi xem thói-tục “cắt bì” là gì, mà ghê gớm thế?
Giáo dân tân-tòng hôm nay, có thể sẽ không buộc phải như thế nữa. Nhưng, khi tiếp cận Kinh Sách của Đạo Chúa, hẳn cũng có những lần giáo dân của ta cứ tự hỏi mình/hỏi người những câu, giống dân con nhà Đạo ở Sydney, hỏi “ông” cha ở Tuần Báo The Catholic Weekly những câu tương-tự, như sau:

“Thưa cha,
Con nhớ: khi xưa phụng vụ Đạo mình cũng để ra một ngày đặc biệt như ngày Đầu Năm Dương Lịch để cử hành thánh lễ kính nhớ việc Chúa chịu phép “cắt bì”. Nay, ngày ấy được thay thế bằng lễ “Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa”, rất long trọng. Vậy hôm nay, con kính hỏi cha xem lý do tại sao Đạo Công giáo ta từng tổ chức thánh-lễ long trọng là thế, nay lại bỏ, như thể tức là Hội thánh của ta không còn muốn nhắc nhở gì chuyện ấy hết, sao?” (Câu hỏi của một người ở Sydney, biết rất ít về thần học và lịch sử Đạo).

Là thần dân đi Đạo mà lại nói “biết rất ít về thần học và lịch sử Đạo” nhưng nhớ nhiều về phụng vụ vào dạo trước, thì chỉ có thể là dân “ta ru” tức tu ra mà thôi. Nhưng, không sao. Tu ra hay tu vào, cũng vẫn là tu miễn đừng “tu hú” hoặc “tu huyền tù” ở thế giới tục trần, dần dần rời xa Đạo là được. Vậy thì, ta cứ thử nhín chút thì giờ mà xem đấng bậc vị vọng có trọng trách giải đáp thắc mắc của tuần báo trên giải quyết ra sao. Và, giải quyết là giảng giải và nhất quyết rằng:

“Đúng như anh/chị nói, khi xưa vào ngày Đầu Năm Dương Lịch, Hội thánh có thói quen cử hành Lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì. Đây là ngày giờ rất thích hợp cho sự kiện xảy ra cách đích thực. Bởi lẽ sự kiện ấy xảy ra đúng một tuần lễ sau khi Chúa sinh ra đời đúng theo luật của tất cả bé trai Do-thái đều phải làm thế và khi ấy bé sẽ được đặt tên như mọi người. Thánh-sử Luca mô tả việc ấy rất rõ như sau:

“Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.” (Lc 2: 21)

Việc Chúa chịu phép cắt bì có nguồn gốc và ý nghĩa tuợng-trưng cũng rất hay. Tục lệ này bắt nguồn từ thời tổ phụ Abraham, tức chung quan niên-đại 1900 trước Công nguyên. Sách Sáng Thế Ký có ghi lại sự kiện khi ấy Abraham đã 99 tuổi, được Chúa lập Giao-ước hứa với ông là sẽ cho ông sinh con đàn cháu đống và ban cho đất Canaan làm sở hữu đến mãn đời. Cùng lúc ấy, Ngài đổi tên ông từ Abram thành Abraham (x. Stký 17: 1-8). Ngài còn dạy ông rằng:

“Đây là giao ước của Ta mà các ngươi phải giữ, giao ước giữa Ta với các ngươi, với dòng dõi ngươi sau này: mọi đàn ông con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì.11 Các ngươi phải chịu cắt bì nơi bao quy đầu: đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với các ngươi.12 Sinh được tám ngày, mọi con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì, từ thế hệ này qua thế hệ khác, kể cả nô lệ sinh trong nhà, hay nô lệ các ngươi dùng bạc mà mua của bất cứ người ngoại bang nào không thuộc dòng dõi các ngươi.13 Buộc phải cắt bì nô lệ sinh trong nhà cũng như nô lệ mua bằng bạc. Giao ước của Ta ghi dấu trong xác thịt các ngươi, sẽ thành giao ước vĩnh cửu.” (x. Stký 17: 10-13)  

Kể từ đó, coi như dấu hiệu của Giáo ước giữa Chúa và loài người, tất cả các bé trai đều phải đem “cắt bì” vào ngày thứ 8 sau khi sanh; và việc này trở thành khuôn khổ để đi vào Giáo ước giống như việc người Kitô-hữu hôm nay lĩnh-nhận ơn thanh tẩy, vậy. Đến thánh Phaolô cũng lấy làm kiêu-hãnh về tục-lệ này của dân Do-thái khi thánh-nhân bảo: tôi chịu cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Ít-ra-en, họ Ben-gia-min, là người Híp-ri, con của người Híp-ri; giữ luật thì đúng như một người Pha-ri-sêu”.(Phil 3: 5) Xem như thế, thì “cắt bì” làm cho người Do-thái khác với dân ngoại, tức những người chẳng bao giờ chịu tuân theo tục-lệ này hết.    

Vì thế nên, việc Chúa chịu phép “cắt bì” chứng tỏ Ngài là người thật, được sinh ra từ người nữ thuộc giống giòng Do-thái là xứ sở Ngài hạ sinh để cứu vớt họ. Chúa tuyển chọn dân riêng của Ngài như sách Cựu ước đã chứng mình là để chuẩn bị con đường cho Con Một Ngài Nhập thể làm người là Đấng Mêsia đã được xức dầu ngõ hầu giải-thoát mọi người khỏi mọi tội lỗi họ mắc phạm và kiến tạo Giao ước mới với họ một cách dứt khoát.

Việc Chúa chịu phép cắt bì còn có giá trị tượng-trưng rất lớn. Đó là việc Ngài chấp-nhận đổ máu Ngài lần đầu tiên song song với việc tên lính hầu La Mã đã đâm thủng “nương long” Ngài khi Ngài kêu “khát nước” trên thập tự/khổ giá (x. Ga 19: 34). Việc này còn cho thấy trước giòng thanh-tẩy nhờ đó mọi Kitô-hữu cũng được chung phần đi vào với Giao ước của Chúa. Về việc này, thánh Phaolô còn viết thêm, như sau:

“Trong Người, anh em đã được chịu phép cắt bì, không phải phép cắt bì do tay người phàm, nhưng là phép cắt bì của Đức Ki-tô, có sức lột bỏ con người tội lỗi của anh em.12 Anh em đã cùng được mai táng với Đức Ki-tô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết.(Col 2: 11-12)

Khi Chúa chịu phép cắt bì, Ngài được đặt tên bằng danh-tánh mà thần-sứ đã báo cho cả thánh Giuse (Mt 1: 2) lẫn Đức Mẹ nữa (Lc 1: 31). Danh-tánh Chúa Giêsu có nghĩa: Ngài là Đấng Cứu Thế, cho nên thần-sứ mới báo cho thánh cả Giuse rằng: Trẻ này sẽ được gọi là Giêsu, bởi “Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ". (Mt 1: 21)

Lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì khi xưa được cử-hành vào ngày thứ 8 sau Giáng sinh, tức đúng nhất vào ngày 1 tháng Giêng Dương lịch, kể từ các thế kỷ đầu đời. Lễ Giáng Sinh lần đầu được mừng vào ngày 25 tháng Chạp sớm nhất vào thế kỷ thứ 4. Bởi lẽ, ngày 1 tháng Giêng là ngày đầu năm mới của Tây Lịch, nên Lễ mừng dành cho Kitô-hữu khi ấy đụng phải lễ hội của người ngoại giáo cũng mừng cùng một ngày, như người đời vẫn giữ tập-tục này cho đến hôm nay. Theo nghi-thức của người Gals thì Lễ Cắt bì khởi sự được cử hành từ thế kỷ thứ 6 và theo lịch của người sắc tộc Byzantin là vào thế kỷ thứ 8 và thứ 9. Từ thế kỷ thứ 7 ở Rôma, mọi người ở đây cũng có thói lệ mừng ngày Bát Nhật Giáng Sinh cũng vào dịp ấy.

Dù lễ này được gọi là Lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì, nhưng nội dung phụng vụ thánh lễ lại bao gồm nhiều điều nói đến Đức Mẹ. Cho đến năm 1960, lịch Công giáo La Mã vẫn có thói quen cử hành lễ Chúa Chịu Phép Cắt Bì vào ngày 1 tháng Giêng dương lịch và Bát Nhật Giáng Sinh trong cùng một ngày như thế. Sau lần duyệt xét lịch Đạo từ năm 1960, ngày 1 tháng Giêng được gọi một cách đơn giản là Lễ Bát Nhật Giáng Sinh, thôi. Nhưng cuối cùng thì, theo Lịch Công giáo La Mã ấn hành từ năm 1969, lễ này trở thành Lễ trọng gọi là Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng vẫn được qui chiếu làm Lễ Bát Nhật Giáng Sinh. Điều này phù hợp với sự việc ta cử hành mừng kính vai trò làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Mẹ rơi vào đúng Bát Nhật Giáng Sinh, khi ta cử hành Sinh Nhật của Con Thiên Chúa làm người. Và thêm nữa, lễ mừng Tên thánh của Chúa Giêsu được cử hành vào ngày 3 tháng Giêng mỗi năm, như sự thường.” (xem Lm John Flader, The Circumcision of Christ, Question Time, The Catholic Weekly 29/12/2013)

Xem thế thì, “Cắt Bì” hay cắt “da qui đầu” theo cổ lệ của người đi đạo Do-thái-giáo, là như thế. Như thế, tức như thể: mỗi khi gia-nhập nhóm hội/đoàn thể nào đó ở xã-hội, người người đều thấy người gia-nhập buộc phải tuân theo một số qui-định hoặc qui-luật nào đó, cho thuận lợi. Thuận lợi càng nhiều, thì xã-hội ấy/đạo-giáo ấy càng có cơ phát-triển và nổi tiếng.
Tuy nhiên, càng nhiều luật-lệ hoặc càng bó buộc nhiều vào qui-định này khác, thì đạo ấy/xã-hội nọ lại sẽ có cơ bị nhiều người có lập-trường hoặc quyết-tâm đối chọi, rồi từ từ cũng sẽ từ-bỏ hoặc lơ là cả luật-lệ hoặc tục-lệ, giống như thế.
Tương tự như thế, vừa qua, toà thánh La Mã lại đã đề cao cảnh-giác một số tục-lệ được nhiều người ở trời Tây “đổ xô” hoặc rủ rê nhau tìm đến với lý lẽ để duy trì lòng tin/yêu hoặc “lòng đạo” xưa nay vẫn có. Lời cảnh-báo, có ghi rõ như sau:

“Bộ trưởng Thánh Bộ Tín Lý đã cảnh-báo người Công-giáo Hoa-Kỳ về việc các vị này hay tham dự các lễ lạy mừng kính điều mà nhiều người cho rằng Đức Mẹ cũng đã hiện ra ở Medjugorje, xứ Bosnia-Herzegovina.

Đức Tổng Giám Mục Carlo Maria Vigano, sứ thần Toà thánh, có viết cho ngài Ronny Jenkins, Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám mục Hoa Kỳ và nhắc nhở ông về chuyện Đức Mẹ hiện ra ở đây lâu nay vẫn chưa được Toà Thánh La Mã xác-chứng coi đó là việc đúng thực.

Sau đó, Đức Tổng Giám Mục Vigano có viết trong thư luân-lưu của ngài những điều như sau: “Hàng giáo sĩ cũng như giáo-dân của ta không được phép tham-dự bất cứ buổi họp mặt, hội-thảo, mừng kính công-khai nào có dụng đích khiến mọi người tin rằng việc Đức Mẹ hiện ra ở nơi đó, là sự việc được Hội thánh công nhận”. Thư nhắc nhở của Đức Tổng Giám Mục Vigano cũng được gửi đến Đức Tổng Giám Mục Gerhard Muller, Chủ Tịch Thánh bộ Tín Lý trong thư ghi rõ: “đến nay chưa có khả năng để cam kết rằng có sự việc Đức Mẹ hiện ra ở đây hoặc Mẹ có mặc-khải điều gì rất siêu nhiên”.

Cùng lúc Toà thánh La Mã nói rằng: các giáo-phận không được phép tổ chức bất cứ cuộc hành-hương nào đến Medjugorje, nhưng vẫn thêm rằng: người Công giáo vẫn có tự do đến thăm thị trấn này và/hoặc đến đó mà nguyện cầu và có điều nữa là: Giáo phận Mostar-Duvno và thủ phủ do các tu sĩ Dòng Phanxicô trông nom vẫn có bổn phận trông nom chăm sóc về mục vụ cho giáo dân ở đây.” (xem Bản tin có tựa đề: Don’t attend Medjudorje meetings, Vatican warns,  The Catholic Weekly 17/11/2013 tr. 4)             

Hôm nay, bần đạo cũng có dịp “ra đứng bờ ao” nào đó, nhưng không là ao nhà, mà là ao người mãi tận xứ Ba-Tư cứ suy-tư rất ư là vô tư-lự rất nhiều giờ về câu nói của cụ hướng-dẫn-viên du lịch người Iran đã nói trong lúc diễn-giải lịch-sử của đất nước từng được gọi là “ngàn đêm lẻ xứ Ba-Tư” rằng: phụng-vụ trong Đạo Công-giáo ta cũng đã vay mượn một số tập tục của đạo thờ thần lửa khi xưa gọi la Zoroastrian...”
Tiếc một điều, là vị ấy không đan-cử trường hợp nào làm chứng-cứ hỗ trợ lời khẳng định của mình. Nay, khi ra đứng bờ ao của xứ lạ quê người, bần đạo lại cũng nhớ có lần bậc thày dạy Kinh thánh từng nói Khi xưa các bậc thánh-sử của Đạo mình khi viết Kinh-thánh cũng có đưa một vài tập tục dân gian ở đời vào bài viết của mình. Và sau này, Hội thánh dùng đó đưa vào Cựu Ước và một số vào Tân-ước. Lại rất tiếc, hôm ấy cha giáo Kinh thánh Nguyễn Thế Thuấn không nói rõ đọan ấy là đọan nào.
Nay suy nghĩ nhiều bên bờ ao, hôm nào, bần đạo đây lại quay về bài ca trên mà hát thêm:

“Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn trông sao, sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao Mai
Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ.”
(Văn Phụng – bđd)

“Trông cá, cá lặn; trông sao, sao mờ” chắc chắn không phải là và cũng không giống như câu nói của ai đó vẫn cứ bảo mình “trông gà hóa quốc”. Hôm nay đây, bần đạo cũng đã trông và thấy, một bài thơ rất “mờ mờ” của ai đó, có giòng chữ như sau:

“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui.
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi.
Lợi danh như bong mây chìm nổi.
Chỉ có tình thương để lại đời.
Còn gặp nhau thì hãy cứ thương.
Tình người muôn thuở vẫn còn còn vương.
Chắt chiu một chút tình thương ấy.
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường...”
(x. thơ Tôn Nữ Hỷ Khương tìm gặp trên điện thư và trang mạng, ở đâu đó)

Bần đạo nhớ: bài thơ trên cứ ghi thêm các câu có những vận như: “hãy cứ chơi”, “hãy cứ cười”, “hãy cứ chào”, “hãy cứ say” và “hãy cứ đi” ... để rồi người luận thơ kết luận bằng một ý nghĩ vẫn cứ bảo: “Khi vui, luôn có nhau trong tình tri kỷ. Lúc buồn, cũng có nhau trong tình thương ái tương thân, nói với nhau những lời yêu thương dịu ngọt, cho nhau những nụ cười, những niềm vui, những ngọt bùi, để khi theo quy luật tự-nhiên, luật vô thường, mọi vật đều có thể mất đi, thì “chỉ có Tình Thương để lại đời”... (người luận thơ ký tên: GS TS Trần Văn Khê)
Trong giòng chảy suy tư giống như thế, bần đạo lại bắt gặp câu truyện của ai đó có nhan đề “Họa và Phúc” do bạn bè gửi đến, như sau:

“Có một vị quốc vương, khi ra ngoài đi săn không may bị đứt một ngón tay, mới hỏi vị đại-thần thân-cận nên làm thế nào? Đại-thần nói với giọng lạc-quan nhẹ nhõm: Đây là việc tốt! Quốc vương nghe vậy giận lắm, trách ông hí-hửng khi thấy người khác gặp nạn, vì thế ra lệnh nhốt ông vào đại lao.

Một năm sau, quốc vương lại ra ngoài đi săn, bị thổ-dân bắt sống, trói vào đàn tế, chuẩn bị tế thần. Thấy phù-thủy đột nhiên phát hiện quốc vương khuyết mất một ngón tay, cho rằng đây là vật tế-thần không hoàn chỉnh, bèn thả quốc-vương ra, thay vào đó lấy viên đại-thần tùy-tùng làm vật hiến-tế.

Trong niềm vui thoát nạn, quốc vương nghĩ tới viên đại thần vui vẻ từng nói rằng: mất ngón tay là việc tốt, liền ra lệnh thả ông, và xin lỗi vì đã vô cớ bắt ông chịu nạn một năm trong ngục tối. Vị đại thần này vẫn lạc quan nói: “Cái họa một năm ngồi tù cũng là việc tốt, nếu như tôi không ngồi tù, thì thử nghĩ vị đại thần theo người đi săn mà bị lên đàn hiến tế kia sẽ là ai?

Bởi vậy, việc tốt chưa chắc đã tốt hòan tòan, việc xấu cũng chưa chắc xấu hoàn toàn. Mọi việc trên đời đều có thể trở thành tốt xấu. Người bi quan mãi mãi nghĩ đến mình chỉ còn một triệu đồng mà buồn lo; người lạc quan vẫn cảm thấy hạnh phúc vì mình vẫn còn mười ngàn đồng...”

Họa là gốc của Phúc. Phúc là gốc của Họa. Họa-Phúc luân chuyển và tương sinh. Sự biến đổi ấy không thể nhìn thấy được, chỉ thấy cái kết quả của nó. Hai điều Họa-Phúc cứ xoay vần với nhau, khó biết được, nên khi được Phúc thì không nên quá vui mừng mà quên đề phòng cái Họa sẽ đến, khi gặp điều Họa thì cũng không nên quá buồn rầu đau khổ mà tổn hại tinh-thần. Việc đời, hết may tới rủi, hết rủi tới may, nên cần giữ sự thản nhiên trước những biến đổi thăng trầm, trong cuộc sống...” (trích bài viết của một người không ký tên, trên mạng về “Họa & Phúc”)

Bần đạo đây, nay trích dẫn đôi điều ở trên là để phiếm khi gặp vấn đề này khác, như: “cắt bì”, “tri kỷ”, “họa-phúc” xuất hiện ở bài thơ, bài báo lẫn câu nhạc đây đó giúp mình có được những suy nghĩ cho riêng mình. Rồi từ đó, hiên ngang sống đời còn lại để cùng với bạn đạo khác thực hiện một vài động-tác gọi là “tái rao giảng Phúc Âm” theo cương vị của mọi người như đề nghị của Đức đương kim Giáo Hòang mới đây từng đề xuất.
Nghĩ thế rồi, bần đạo bắt chước người nghệ sĩ trên, dù có hát như sau, nhưng không buồn:

“Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá,cá lặn; trông sao, sao buồn.
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai.”
(Văn Phụng – bđd)

Những mong rằng: mối nhện ấy không là mối tơ vương của nhện buồn, nhưng lại là mối nhện rất thân thương của tình thương yêu trầm lắng, vẫn cứ giăng.

Trần Ngọc Mười Hai
Dám học hỏi nhiều điều
Từ chú nhện giăng tơ
Lẫn mạng lưới tình thương
Vẫn đang chờ.