Saturday, 23 November 2013

“Đừng nói nữa em ơi,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ nhất mùa Vọng năm A  24-11-2013

“Đừng nói nữa em ơi,”
xin đừng nói nữa làm gì
anh nghĩ rằng đời người ca sỹ đáng thương
và đáng được yêu.”
 (Minh Kỳ/Vũ Chương – Kiếp Cầm Ca))

(2 Thes 2: 15-17)
            Sao lại thế? Kiếp cầm ca gồm những thời để hát và nói bằng tiếng nhạc, sao cứ bảo: “Xin đừng nói nữa làm gi”? Thế nghĩa là làm sao? Chả lẽ ta cứ ngồi im bên nhau, chẳng nói một câu?
Hiểu sao đây? Nếu đó là thi ca/âm nhạc, vẫn có tác giả này khác lại đã hát:

Ta gặp nhau, yêu chẳng hạn kỳ.
Mây ngàn, gió núi đọng trên mi.
Áo bay, mở khép nghìn tâm sự.
Hò hẹn lâu rồi, em nói đi!”
(Phạm Đình Chương – Mộng Dưới Hoa)

À thì ra, “hẹn hò lâu rồi, em nói đi”, tức là: khi đã hẹn và đã hò rồi, thì người em tôi hãy cứ tha hồ mà nói. Nói, chứ không hát, dù có nói về những nỗi, những “Mộng Dưới Hoa”, “yêu chẳng hạn kỳ”, “gió núi đọng trên mi”. Thế nhưng, về cái-gọi-là “Kiếp Cầm Ca”, người viết nhạc lại cứ khuyến khích ca sĩ nói và hát những lời sau đây:

“Tình yêu, em sợ tình yêu.
Vì tình như là hương hoa,
lỡ mai sau em mất người yêu
em khổ thật nhiều.”
(Minh Kỳ/Vũ Chương – bđd)

Thế đó là thi ca/âm nhạc, rất ngoài đời. Chốn đời thường, vẫn nói đến “kiếp cầm ca” người nghệ sĩ cứ là “đêm đêm (đến) phòng trà dâng tiếng hát cho đời”, rồi còn hỏi “Anh ơi, còn yêu em nữa hay không?” Hỏi rồi, lại tự trả lời: “Tình yêu, em sợ tình yêu...” À thì ra, người người những “lo” và “sợ” “tình như hương hoa”, “mai sau lỡ mất”. cũng rất sợ. Sợ, mất người yêu. Sợ “em khổ rất nhiều”...     
Thế đó là tình đời, ở nơi thi ca/âm nhạc cũng đáng sợ. Thế, tình nhà đạo ở chốn miền người mình đặt tình yêu lên trên tất cả, có sợ không? Hỏi khác đi, nhà đạo mình vốn đã yêu rồi, sợ gì nữa? Tình yêu, có phải là duyên do để người người những “lo” và “sợ”? Sợ: phải chăng là cứ “lo” rằng có đó rồi mất đó? Hay, người người còn lo sợ nhiều thứ khác?
Trả lời câu này cho tận tình, chắc bạn và tôi, ta cũng nên xem xét nhiều mặt, nhiều phía, cả những phía, những mặt rất khác biệt về đạo giáo lẫn niềm tin. Những lý-tưởng về cuộc sống hoặc chủ-thuyết cũng khác biệt!
Đi vào vườn hoa tư tưởng đầy khác biệt, bần đạo đây vừa bắt chộp được lập trường của đấng bậc “ngoài luồng” nọ có giòng tư tưởng hơi hơi giống Đạo mình về những “lo” và “sợ” như:

“Lâu nay, ta trả giá rất đắt cho những lo sợ để sống cuộc sống bình thường, rất con người. Động-thái dễ bị tổn thương về ưu tư/lo lắng là cội rễ tạo khó dễ cho ta. Lo và sợ, xem ra cũng là thành phần của cuộc sống. Những ai đầm mình vào với thế giới tục trần, không thoát khỏi trạng-thái tâm thần bất ưng này.

Vậy thì, đâu là lý do và yếu tố nền tảng khiến nhiều người âu lo như thế? Để trả lời, con người vốn dĩ lo âu nhiều, là do mình có cam kết và trách-nhiệm, thật không thiếu. Âu lo đến với con người theo nhiều cách thức khác nhau. Khi so sánh những gì mình có với người khác, con người đều thấy mình chẳng bằng ai, đến độ có người lại tự nghĩ: Có lẽ do tại mình không đủ tài giỏi để làm việc đó, nên mới thế! Hoặc, do tại mình không thông minh đủ để thuyết phục được người khác”. Xem thế thì, con người thấy lo sợ phải xuất hiện trước công chúng nên mới tự kỷ ám thị, bảo rằng: “Không nên để người khác biết rõ về mình. Bởi có làm thế, mình sẽ mất niềm tin và coi thường chính mình.” Do đó, con người hành động như thể mình là người nào khác chứ không phải chính mình.

Thông thường, con người ưu tư nhiều về ngoại hình của mình. Đàn ông thì lo lắng nhiều khi thấy mình rụng tóc, sói đầu nhiều. Trong khi đó, phụ nữ lại ưu-tư không ít mỗi khi thấy có vết nhăn hiện rõ trên da mặt hoặc thấy thân mình mình cứ ngày một gầy đi, hoặc phát phì, da thì đen sạm hoặc trắng mốc, người thì cao lêu nghêu hoặc lùn xủn, đại loại toàn những chuyện như thế.

Có người lại lo sợ bị người khác phê bình, chỉ trích mình, hoặc đả kích, hoặc bị cấp trên của mình dằn mặt, xử lý. Có người lại lo sợ không dám bày tỏ ý kiến, lập trường trước đám đông, e rằng làm thế sẽ bị chọc quê, chê dở, nhưng lại tức giận chính mình khi thấy có ai đó trình bày ý kiến chẳng khác ý mình, nhưng lại được khen ngợi, và ca tụng. Họ cứ nghĩ mình sẽ không thể chịu nổi những lời phê bình, đả kích cả khi biết rõ lời phê phán ấy không chính đáng, cũng chẳng có cơ sở gì hết.

Danh sách những lo sợ không thể kể hết được. Nhưng nếu hỏi rằng: đâu là nguyên do khiến mọi người lo sợ suốt đời như thế, thì câu trả lời ngắn gọn, có thể tóm tắt bằng câu: tất cả là do con người quá chú trọng vào cái “ngã” của mình, điều mà nhà Phật thường gọi đó là “Ảo vọng về ngã”. Do cái “ngã” của mình, con người tin là thân xác mình lúc nào cũng phải được thoả mãn. Và, nỗi sợ không thỏa mãn mọi nhu cầu cũng như ước vọng của mình, nên mới ưu tư. Vì thế nên, ưu tư/lo lắng không là gì khác ngoài trạng thái tiêu-cực của thân-tâm do dính líu vào với ham thích, rất trần tục. Càng dính líu vào sự vật, thì mối lo và sợ để mất nó càng lớn. Vào lúc mà nhu cầu của mình đã được thỏa mãn rồi, con người lại bắt đầu dính bén hay dính dấp vào thứ khác, cứ thế không bao giờ ngừng...” (xem D Sri Dhammananda, Fear and Worry, Pure Land Learning College Asdsoc. Inc. March 2013, t. 3-4) )

Thiền sư nhà Phật, thường có quan-niệm về lo và sợ, rất như thế. Như thế đó, nhưng cũng chỉ là ý kiến tư riêng của một trong các đại sư nhà Phật chứ không hẳn của chính Đức Phật. Còn, người nghệ sĩ mình vẫn chẳng bận tâm gì nỗi lo sợ dính líu vào với “ngã” của mình hay của người; nhưng, chỉ bận tâm đến duyên kiếp rất “cầm ca”, bằng lời ca/ý nhạc, như sau:     

“Khi trót mang duyên kiếp cầm ca
em bằng lòng nghe tiếng trách chê của người đời,
chỉ cần anh thôi, chỉ cần anh thôi và còn tin anh nữa thôi.
Đời vấn thế! em ơi xin đừng nói đến: tình đời
anh nghĩ rằng đời là gian dối, nhưng đôi ta mãi còn nhau.”
(Minh Kỳ/Vũ Chương – bđd) 

Thế đấy, người nghệ sĩ tuy có than và có thở về “kiếp cầm ca” nhưng họ đâu có ưu tư/lo lắng cho lắm và cũng chẳng sợ gì về “bản ngã” mình dính vào với nỗi ước-vọng tục-trần hoặc dục-vọng trần-tục, nên vẫn thế.  
Nhà Đạo mình, vẫn có đấng bậc thánh hiền còn ghi chép Lời Chúa cứ khẳng định, rằng:

“Tình yêu không biết đến sợ hãi;
trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi,
vì sợ hãi gắn liền với hình phạt
và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo.”
(1Ga 4: 18)

Như thế đã rõ ràng, có tình yêu Thiên Chúa và mọi người rồi người nhà Đạo đâu còn lo và sợ điều gì nữa. Chí ít là “sợ mất tình yêu” như lời ca ở trên lại cứ bảo: “đừng nói đến tình đời”, “đời vẫn thế”. Vẫn cứ “gian dối”, “trách chê” rất nhiều vì “tình là hương hoa” rất dễ mất.   
Quả có thế. Phần đông các vị thức-giả ở trời Tây vẫn quan-niệm rằng: sở dĩ con người vướng phải động-thái lo và sợ là do tình yêu vắng khuất, trong đời mình. Ở bất cứ giai đoạn nào trong đời, người người cũng đều thấy hình-thức sống nào đó chứng tỏ con người đều phải giáp mặt với nỗi lo và sợ.
Tổng thống Franklin D. Roosevelt có lần từng phát-biểu, rằng: “Chỉ mỗi sự việc khiến ta phải lo sợ hơn cả, là chính nỗi sợ ấy.” Các nhà tâm-lý lại cũng quả quyết với một khẳng định, là: Sợ, là thứ gì đó mỗi người chúng ta đều trải nghiệm. Và, vai trò chính của nó là giúp ta chuẩn bị mà chạy khỏi nó hoặc chiến đấu chống lại nó. Có thứ lo và sợ cũng an lành, có thứ lại khiến con người suy sụp, gãy đổ.
Sợ, có thể là hành-xử đáp-ứng lại những gì mà con người không hề biết nhưng lại cứ nghĩ rằng nó rất nguy hiểm, vẫn trờ đến với mình, cũng có thể là đe doạ buộc con người phải dùng nó như phương-pháp khống chế/kiểm soát con người mình hoặc buông thả, chào thua.
Có nhiều chính-trị gia còn quái ác đến độ dám sử-dụng yếu-tố gây lo sợ để trấn-áp người dân hoặc thế-lực địch thù. Ví dụ cụ thể nhất, là: ở Hoa Kỳ hồi thập niên 1950s, các chính-trị-gia nước này cứ dùng lá bài “Cộng Sản” để hù-doạ cho người Mỹ sợ và để dân chúng ủng-hộ chiến tranh ý-thức-hệ.
Cùng kiểu như thế, nhiều đấng bậc ở chốn cao sang đầy quyền thế trong hệ-cấp giáo triều cũng sử dụng phương-pháp hù-doạ dân con trong Đạo bằng vài ý-niệm về hoả ngục, về ngục thất rất “luyện” tội để giáo-dân thực-hiện lời khuyên dạy rất thúc ép của giới có thẩm quyền hoặc có “quyền (để) hành” đám tân tòng hoặc giáo-dân yếu bóng vía, yếu cả hiểu biết về nền thần-học chính-đáng là chú-trọng nhiều vào tình thương-yêu Đức-Chúa-là-TÌNH-YÊU. Các thánh sử nhiều lần vẫn bảo ban:

“Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác
mà không giết được linh hồn.
Đúng hơn, anh em hãy sợ
Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác
trong hoả ngục.”
(Mt 10: 28)

Và ở một đoạn khác, thánh sử Mác-cô lại cũng khuyên:

“Lập tức, Người bảo các ông:
"Hãy yên tâm, chính Thầy đây,
đừng sợ!"
(Mc 6: 50)

Từ những khẳng định này, các vị giảng-thuyết trong Hội thánh lại đã nhiều lần những muốn áp-dụng thứ thần-học nào đó mang tính “thuyết-phục”/”doạ nạt” nên đã kiến-tạo một “Đức Chúa rất nổi giận”, nếu dân con nhà mình mắc phải tội/nợ. Thật ra thì, “Thiên Chúa Là Tình Yêu” chứ Ngài không là Chúa Tể của nỗi sợ. Rõ ràng là, Tình Yêu và Sợ Hãi là hai tâm-tính mấu-chốt đối-nghịch nơi con người. Bởi, một khi đã yêu, con người không còn biết sợ bất cứ thứ gì, nữa. Và, ngược lại, khi đã hãi sợ rồi, đâu còn yêu.
Có lẽ, trọng tâm kinh nghiệm về sự “hãi sợ” nơi con người mang tâm-tình mất tự chủ. Các cơ quan/tổ chức có tầm cỡ quốc gia hoặc gia đình, đều muốn nắm quyền kiểm soát/khống chế mọi sự, coi đó như quyền-bính không thể trao cho người khác. Sở dĩ con người muốn nắm giữ quyền-bính nên họ mới triển-khai ý-niệm về hệ- cấp, quyền hành và tính “không sai sót”, tức muốn hết mọi người phải đồng ý với quyền-bính, trong mọi sự. Chính vì muốn khống-chế mọi hành-xử của cấp dưới, nên mới duy-trì nỗi hãi sợ, ở cấp dưới. Và như thế, tình yêu tự khắc sẽ biến mất.
Và một khi tình yêu đã mất rồi, thì nỗi “hãi sợ” lại xuất-hiện với đủ mọi hình hài lớn/nhỏ, cao/thấp, xa/gần. Và, đạo giáo nào chú trọng đến âu-lo và/hoặc “hãi sợ”, thì đạo ấy sẽ không còn tình-yêu được tỏ bày trong nhóm của mình/con người mình, nữa. Và, đạo như thế đương nhiên trở thành thứ đạo gò bó, hù doạ, đầy hình phạt. Tức: là phó-bản của những khó khăn, âu sầu, thảm não. Và như thế không thể gọi là Đạo, là đường dẫn đến hạnh-phúc được nữa.
Nghệ sĩ thi ca, âm nhạc hẳn là những vị đã trải-nghiệm tình huống ra như thế trong đời mình, nên mới diễn-tả ra ngoài bằng lời ca/ý nhạc, như sau:

“Đời vấn thế!
em ơi xin đừng nói đến: tình đời
anh nghĩ rằng đời là gian dối,
nhưng đôi ta mãi còn nhau.”
(Minh Kỳ/Vũ Chương – bđd) 

“Đôi ta mãi còn nhau”, không gian-dối cũng chẳng hãi sợ. Nhưng, vẫn trân trọng nhau, vì còn có nhau là còn tình yêu của nhau, và cho nhau. Chả thế mà, ngay từ đầu, khi nói về “Kiếp cầm ca”, nghệ sĩ nhà ta lại cứ hát:

Đừng nói nữa em ơi,”
xin đừng nói nữa làm gì
anh nghĩ rằng đời người ca sĩ đáng thương
và đáng được yêu.”
(Minh Kỳ/Vũ Chương – bđd)

Thi ca/ âm nhạc, thì như thế. Thơ văn/truyện kể, lại vẫn dùng truyện dân gian loài người để chuyển tải tư-tưởng và lập-trường hầu tỏ bày một đối chọi thật rất khác, giữa tình yêu và nỗi sợ. Một trong các truyện kể tuy ngắn-ngủi nhưng cũng diễn tả phần nào nét đẹp của đời người trải dài qua năm tháng, mình vẫn sống, như sau:

Hôm đó là ngày tôi bước sang tuổi 30. Tôi có cảm giác lo lắng khi bước vào độ tuổi “tam thập nhi lập” và sợ rằng những năm tháng đẹp nhất trong cuộc đời đang xa dần.

Tôi vẫn thường tập thể dục ở một công viên gần nhà vào mỗi buổi sáng.  Ở đó, tôi có dịp làm quen người bạn già Nicholas, ông ta đã 79 tuổi. Hôm đó, khi gặp tôi ông bảo rằng trông tôi không vui như mọi ngày và đoán rằng: tôi đang có chuyện buồn. Tôi tâm sự với ông rằng tôi đang cảm thấy lo khi bước sang tuổi 30. Tôi tự hỏi làm thế nào để tôi có thể quay trở về với giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời. Vì thế tôi hỏi ông:
-Khi nào là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời ông?”. 
            Không chút ngập ngừng, Nicholas trả lời:
-Này Joe, đó là câu hỏi của triết học và đây là câu trả lời của tôi".      
Rồi ông nói:
-Khi tôi là một đứa trẻ sống ở nước Áo, được bố mẹ yêu thương, chăm sóc thì đó là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Khi tôi đến trường và được học những điều ngày nay tôi biết, thì đó là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Khi tôi tìm được việc làm đầu tiên, có trách nhiệm và quyền lợi với những việc mình làm, thì đó là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Khi tôi gặp được vợ tôi và khi chúng tôi yêu nhau, thì đó là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời tôi.      

“Chiến tranh thế giới lần thứ hai xảy ra, tôi và vợ tôi phải rời khỏi nước Áo để được an toàn. Khi chúng tôi được bên nhau an toàn trong một chuyến tàu đi Bắc Mỹ, thì đó là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Khi chúng tôi bắt đầu một gia đình mới, thì đó là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Khi tôi trở thành một người cha trẻ và được nhìn thấy đứa con của mình lớn lên hàng ngày, thì đó là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Joe à, bây giờ: khi tôi đã 79 tuổi, tôi có sức khỏe, tôi cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp và điều đặc biệt là tôi vẫn còn yêu vợ yêu con như lúc chúng tôi gặp nhau lần đầu, chẳng còn lo mất điều gì, dù sự sống hay cái chết cũng đều thế, thì đó là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời tôi.”

Nói theo truyện đời nhiều kể lể, thì như thế. Nói theo đấng thánh hiền trong Đạo, còn là nói bằng lời khuyên, câu nhắn vẫn có từ ngàn xưa, như sau:

“Vậy, thưa anh em,
anh em hãy đứng vững
và nắm giữ các truyền thống
chúng tôi đã dạy cho anh em,
bằng lời nói hay bằng thư từ.
Xin chính Chúa chúng ta
là Đức Giêsu Kitô,
và xin Thiên Chúa là Cha chúng ta,
Đấng yêu thương chúng ta
và đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta
niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp,
xin các Ngài an ủi
và cho tâm hồn anh em được vững mạnh,
để làm và nói tất cả những gì tốt lành.”
(2Thes 2: 15-17)

Tâm hồn đã vững mạnh, để nói và làm những điều tốt lành rồi, thì: giờ đây hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ hiên ngang về chốn miền có chuyện vui cười nào khác, cốt để diễn tả nỗi sợ đến mất cả niềm vui, là tình yêu bên nhau như vợ chồng nọ trong truyện, từng có tất cả mọi sự trong đời; duy chỉ một thứ họ vẫn còn thiếu, đó là: “tình yêu”, và coi đó như nỗi sợ “lịch sử sẽ lập lại”, như sau:

“Nhà nọ, có hai vợ chồng, chẳng may bà vợ bị chết sớm, sau khi tang-lễ tiến-hành tại nhà, các người phu-khuân-hòm khiêng quan tài đi về nghĩa trang, ngoài làng. Trên đường đi, họ đã vô tình để quan tài đụng vào bức tường thành ở đầu làng. Sau đó, họ nghe có tiếng kêu rên yếu ớt phát ra từ bên trong quan tài, họ mở nó ra và thấy bà vợ đã sống lại, từ hồi nào.

Bà vợ nhà, sống thêm được mươi năm nữa rồi cũng qua đời. Tang lễ hôm này lại cũng diễn ra giống lần trước. Và khi đám phu-khuân-hòm chuẩn bị khiêng quan tài, ra khỏi nhà, ông chồng liền khóc thét lên mà bảo đám người này, rằng:
-Coi chừng bức tường làng đó nhe các bạn!....”

Thế đó, là truyện kể đầy “hư cấu” về nỗi lo và sợ cô vợ sẽ sống lại lần nữa, sau khi chết. Truyện, tuy “hư cấu” cũng chỉ để nói lên nỗi lo và sợ, dù không hẳn là sợ “lịch sử lặp lại” chuyện cũ xưa, cho bằng chỉ hãi một nỗi “sợ” vẫn thấy ở trong đời, là: sợ không còn tình yêu tỏ rõ cho nhau, nên cuộc sống cứ miên man, cũng sợ nhiều. Chí ít là nỗi sợ “thiếu tình yêu” trong đời.
Phải chăng đây cũng là chân lý của đời người, ở trong đời?

Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn cứ hỏi
Nhưng chả dám trả lời
Cho mình và cho người.            



Monday, 18 November 2013

“Nếu quen biết nhau một ngày”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 34 mùa thuờng niên Lễ Kitô Vua năm C 24-11-2013

“Nếu quen biết nhau một ngày”
Để mà thương nhớ suốt trong cuộc đời.”
(Y Vân – Đêm Huyền Diệu)

(Lc 14: 25-26)
            Huyền diệu đây, còn là diệu là huyền trên cả mức tuyệt vời, mới ra thế. Tuyệt vời, lại vẫn không chỉ là lời người anh nhắn người em, có mỗi đêm. Mà, có thể là: lời ai đó từng nhủ và từng nhắn đàn em/con cháu, ở đời. Một đời, có giòng chảy với ý/lời như sau:

Nếu anh thiếu em trên đời,
Hẳn là thương nhớ biết bao nhiêu rồi,
Nếu vắng em một ngày,
Thì là một ngày chẳng vui
(Y Vân – bđd)

Vâng. Lời như thế, người đời đôi khi cứ nghĩ và cứ tưởng là lời đôi tình nhân hoặc nhân tình nói với nhau, như thế. Bởi, nếu bạn và tôi, ta nhân rộng hơn nữa, thì chửa biết chừng có người lại sẽ hiểu lời đây là lời từ người nhà Đạo từng bảo nhau, như câu ca trên lại hát thêm:

“Kể từ một đêm cùng nhau,
Hòa lòng nhịp trong tình yêu,
Của thời niên thiếu,
Nhìn bầu trời thêu đầy sao,
Dù rằng mình chia cùng nhau,
Bóng đêm huyền diệu.”
(Y Vân – bđd)

Bần đạo đây, nhiều buổi ngồi buồn chẳng biết viết gì cho báo điện vào ngày lên khuôn, nên ngán ngẫm. Ngán và ngẫm, là bởi: nhiều lúc cứ viết hoài/viết mãi chẳng thấy đời mình/đời người nào đã vui! Có chăng, chỉ là những “chuyện (vẫn) phiếm” vụn, chỉ tán dài/tán rộng, cho hết giấy! Nghĩ đi thì nghĩ lại, âu đó cũng là phiếm những chuyện nhạt nhẽo ở đời. Bởi, không phiếm lúc này, thì cũng chẳng có cơ hội nào để phiếm thêm. Nghĩ thế nên, bần đạo lại lấy giấy bút ra mời bạn và mời tôi, ta cùng phiếm. Phiếm dài phiếm lai rai sao cho phải đạo làm người muốn phiếm Đạo.
Phiếm thế nào cũng đặng, nhưng trước đó cũng nên hát cho hết bản ca vừa ghi ra:

“Nếu quen biết nhau một ngày,
Để mà thương nhớ suốt trong cuộc đời,
Giữa phút giây ban đầu,
Và chỗ tuyệt diệu tình yêu
Nếu anh thiếu em bên đời,
Hẳn là năm tháng ý xuân không tàn,
Nếu thấy em lo buồn,
Thì lòng này còn buồn hơn
(Y Vân – bđd)

Vâng. Thật hết ý, khi người viết nhạc hôm trước có hát: “Nếu thấy em lo buồn.. (vì bất cứ điều gì, chứ không chỉ vì nghe mãi mỗi chuyện phiếm) thì lòng này còn buồn hơn”, cũng rất nhiều. Vì buồn chán cũng khá nhiều, nên hôm nay, bần đạo lại xin dông dài kể lể về chuyện “lo và buồn” cũng hơi “phiền” như sau:  

- Anh về ngay đi, em hết chịu nổi rồi, mẹ anh phiền thật.
- Ừ! Mẹ anh phiền thật, nhưng bây giờ anh đang có cuộc họp quan trọng, tối về anh sẽ giải quyết nha em.

Tiếng ở đầu giây bên kia dập máy nghe có vẻ tức tối, anh buông thõng người ra sau ghế, ở bên này, cô vợ nhìn ra phía cửa như cố nuốt trôi cái gì đó vào trong mình.
- Anh nhìn đi! Đấy thấy không? Toàn những chuyện ... hôm nay em sắp, ngày mai em xếp, cứ một người dọn, còn người khác lại cứ bày ra la liệt như vậy, ai mà chịu nổi. Em sắp điên rồi đây. Cô vợ vò đầu nghe như vô cùng tức giận, anh lại gần cô, lấy tay xoa xoa 2 bờ vai gầy nhưng cô hất tay anh ra.
- Em vào đây! Anh nhẹ nhàng nắm lấy tay cô kéo vào phòng, khép cửa lại, anh lấy xuống 1 chiếc hộp đặt trên nóc tủ, lấy tay phủi nhẹ, anh nhìn cô mỉm cười rồi bảo:
- Mẹ phiền thật, ngày mai chúng mình đưa mẹ đến viện dưỡng lão em nhé, còn bây giờ để anh cho em biết mẹ mình phiền đến mức độ nào.

Anh mở hộp, bên trong là 1 xấp hình, anh lấy 1 tấm đã cũ mèm, nhưng chẳng dính tí bụi nào, cô vợ tò mò nhìn vào tấm ảnh. Anh chồng lại nói tiếp:
- Em thấy không, đây là tấm hình Dì anh chụp lúc anh vừa sinh ra, Dì kể lại là mẹ yếu, nên bữa ấy mẹ sinh lâu lắm. Mà, sinh lâu như thế, chắc là đau lắm nhỉ? Mẹ phiền thật, cứ la hét ầm ĩ cả lên, ai mà chẳng có kinh nghiệm sinh đẻ, chứ. Dì còn nói, mẹ yếu lắm, nếu mẹ cố sinh ra anh, thì sẽ nguy hiểm cho mẹ, bác sĩ đã nói vậy rồi mà mẹ vẫn cố hĩ: ” Không, con tôi phải có mặt với đời, tôi phải sinh nó cho bằng được...” Mẹ anh quả thật rất phiền.

Cô vợ nhìn tấm hình, bàn tay cô tự nhiên nhẹ hẳn, bỗng cô nhìn anh chồng, thấy như trong mắt anh chứa 1 điều gì đó rất lạ. Anh cẩn thận để tấm hình qua 1 bên, lấy tấm khác cho vợ xem.
- Em nhìn nè, đây là bức ảnh lần đầu tiên chụp anh đang bú mẹ, anh chưa thấy ai phiền như mẹ cả. Bà nội, bà ngoại nói rồi, mẹ yếu lắm, chắc không đủ sữa cho anh bú đâu, cứ cho anh uống sữa bình đi rồi dưỡng sức, nhưng mẹ cứ một hai khư khư giữ anh vào lòng.” -Không, con của con nhẹ cân quá, phải bú sữa mẹ mới tốt”. Ai nói gì mẹ cũng cãi là: nếu không được bú sữa của mẹ, thì anh cũng phải uống sữa bình thôi, nhưng mà sữa bình phải ngon hơn sữa mẹ mới được, mẹ anh quả thật là phiền.

Bàn tay cô vợ bỗng run run, cô thấy ánh mắt của người mẹ trong bức ảnh bỗng ánh lên một vẻ gì đó như là hạnh phúc, 2 bàn tay mẹ cứ giữ chặt đứa bé. Cô nhìn chồng một hồi mà không nói gì cả.
- Còn nữa đây! Anh lại lôi thêm 1 tấm khác rồi mời cô nhìn vào đó.
- Em thấy mẹ anh phiền quá chứ nhỉ? Con nít con lứa mới hơn 1 năm, đứa nào mà chẳng chập chững, mẹ cứ làm như chỉ có con của mẹ mới làm được điều đó thôi. Ba anh kể là: mẹ gặp ai cũng hí hửng khoe: “Thằng cu Tin nhà tôi nó đi được rồi, nó đi vững lắm đó!” Làm như, mẹ không thấy phiền hà gì hay sao khi kể như thế đấy nhỉ?

Bờ môi cô vợ mấp máy như muốn nói điều gì đó nhưng cổ họng lại cứ ứ nghẹn. Bức ảnh chụp đứa trẻ đang chập chững bước về phía mẹ mình, cô cứ nhìn mãi. Anh chồng lại nói tiếp: “Ba còn kể, là: từ ngày anh bắt đầu bi bô tập nói đã gọi được cả tiếng “mẹ” nữa. Thế là nguyên ngày sau đó, mẹ cứ là kể một tràng toàn điệp khúc: “Cu Tin gọi mẹ đi! Gọi mẹ đi, cu Tin!” Mẹ phiền quá đi thôi mẹ à! Anh mỉm cười xoa tay nhẹ vào bức ảnh, mắt anh đang long lanh có giọt vắn giọt dài, thì phải.
- Còn đây nữa, nè em! Anh lại lôi ra nguyên 1 xấp hình, rồi nói: Em thấy mẹ không? Mẹ anh phiền ghê? Chụp gì mà lắm ảnh thế không biết! Lần đầu anh vào trường mẫu giáo học ở đó, có phiếu “bé ngoan”, rồi năm lên tiểu học, trung học, lại nhận bằng khen... Em cầm lấy mà coi đi! đủ thứ trò trên đời này! coi hình của anh đến tết cũng chưa hết! Anh phì cười:  mẹ anh phiền chứ nhỉ?”

Cô vợ nhìn anh chồng, nhưng anh không mỉm cười được nữa; nhưng cầm 1 tấm hình khác lên rồi để mắt vào đó ngắm rất lâu, cô thấy đó là tấm hình đẹp. Chồng cô rất đẹp trai trong bộ áo tốt nghiệp bằng cử nhân, lúc đó anh trông thật điển trai quá, cao ráo, nhưng có điều là…
- Em thấy không? Tóc mẹ anh cứ rối bù lên... Còn áo quần này nữa,toàn bộ đã cũ mèm…- Cô vợ nghe như giọng anh trở nên khác lạ, không đều đặn như lúc ban đầu mà đứt quãng. Cô nắm tay anh thật chặt, sau đó anh lại nói:
- Năm 15 tuổi, ba anh bỏ mẹ con anh lại, và lúc đó, mọi thứ trong nhà như thể không còn điểm tựa nào nữa. Anh đi học, mẹ bắt anh phải học cho thật nhiều…Em không biết đâu, anh xin nghỉ nhưng mẹ không cho, như vậy mới phiền hà chứ. Mẹ cứ sáng sáng đi phụ quán cơm thật sớm cho người ta, trưa đến chỉ ăn có 1 chén cơm thừa trong quán để hễ có dư tiền lại cho anh học thêm ngoại ngữ, rồi chiều đến mẹ còn chạy đi giặt đồ cho các bà mẹ khác, để họ có thể đi mua sắm, uống cà phê, hoặc giải trí sao đó…”
Giọng anh có lúc lạc hẳn:
– Còn nữa em ạ. Tối tối mẹ lại tiếp tục đi làm lao công đường phố, sáng sớm mới về chỉ chợp mắt được 1 tí thôi, đời mẹ là như vậy đó…Em thấy mẹ khỏe ghê chưa? “Tách!” có giọt nước rơi trên tấm hình, mắt cô vợ nhòe đi, trông cô thật khác. Khi thấy một bà mẹ trẻ có gương mặt xinh đẹp khi con mình bi bô tập nói, và cũng gương mặt phúc hậu ấy, bây giờ làn da đã nhăn nhúm, khuôn mặt gầy xọm khi đứng cạnh cậu con trai vào ngày sắp sửa ra trường.
- Anh à! Bàn tay cô vợ nắm chặt đôi tay run run của anh chồng.
- Em có thấy tay mẹ yếu đi không? Anh chưa bao giờ kể cho em nghe chuyện đó chứ nhỉ. Đúng 5 tuổi, anh đùa nghịch chạy nhảy lung tung, lúc chơi trò đuổi bắt cùng cô bé hàng xóm anh trượt chân ngã từ trên cầu thang ngã xuống. Lúc đó, anh chẳng thấy đau chút nào, chỉ nghe một tiếng kêu rất quen. Em biết không, lúc đó anh đang nằm trên thân thể rất quen… là mẹ anh đó. Cô vợ sững người, nước mắt cô trào ra, tràn xuống ướt đẫm tay anh.
- Em à, mẹ anh phiền như vậy đó! Phiền từ khi anh sắp chào đời rồi còn phiền cả khi anh chờ đón đứa con đầu tiên của mình nữa. Chưa hết đâu, mẹ còn phiền cả đời đấy em ạ! Bây giờ anh lớn rồi mà mẹ vẫn cứ lẽo đẽo theo anh dặn dò đủ thứ em không thấy sao? Nào là, cơm phải ăn 3 chén, đi xe phải chậm chạp thôi, đừng thức khuya quá. Mẹ anh quả là phiền thật! Ngày mai, nhất định vợ chồng mình sẽ đưa mẹ vào viện dưỡng lão em nhé.
”Anh!” Cô vợ ôm chặt lấy anh chồng. Cô òa khóc nức nở: “ Em xin lỗi!” Anh ôm lấy cô vỗ về, như ngày xưa anh vẫn thường làm như vậy.
“Choang!” Anh và cô chạy nhanh vội xuống bếp xem có gì đổ vỡ không...
- Mẹ xin lỗi! Mẹ nghe con thèm chè hạt sen nên mẹ lấy đồ đi nấu đó, nhưng…Giọng mẹ run run không dám nhìn về phía trước, chỉ cúi người nhặt những mảnh vụn vỡ vừa rơi xuống.
- Mẹ! Cô con dâu chạy đến nắm lấy bàn tay xương xương của mẹ, rồi nói:
– Từ nay mẹ đừng phiền nữa nhé! Hãy để con phiền thay cho mẹ. Cô ôm chặt mẹ chồng, nước mắt chảy ướt đẫm vai áo mẹ chồng. Mẹ nhìn anh, anh nhìn người con trai của mẹ, rồi anh con trại lại nhìn cô vợ mình nằm gọn lỏn trong lòng người mẹ như chính mẹ ruột của mình. Và người mẹ nói: Mẹ đã không sinh lầm ra con trai và con cũng đã không chọn lầm nàng dâu cho mẹ, phải không mẹ?” (truyện sưu tầm trên mạng)

            Như thế đấy, chuyện phiền toái, ở đời. Phiền toái/ngán ngẫm như phiếm Đạo ở trong đời. Tức: những chuyện “phiền toái” đại loại như chuyện kể về những khó khăn trong cuộc sống có thương yêu. Ngoài những chuyện rất “phiếm” cho qua ngày/đoạn tháng, có vị như bần đạo, lại vẫn sưu tầm chuyện Đạo/đời có ý/lời rất đẹp, nhưng người khác, lại coi đó là chuyện “phiếm” cũng rất phiền ở trên, vì cứ nghe đi nghe lại, mãi một chuyện. Những chuyện về yêu và thương mà người nhà Đạo thường nghe biết, rất như sau:

            “Khi ấy, Đức Giêsu bảo:  
             Ai đến với Tôi
mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em
            Và cả mạng sống mình nữa,
thì không thể làm môn đệ Tôi được.”
            (Lc 14: 25)

            Nghe trình thuật thánh-sử viết, người nghe cũng thấy phiền, vì không hiểu. Phiền, vì chẳng lẽ thánh-sử cứ ghi lại những nghịch lý/nghịch thường ở Lời Chúa, sao? Nhưng, đọc kỹ mới thấy rằng: Sự thật Chúa nói, chẳng phiền hà/rắc rối như ta tưởng mà các thánh chỉ muốn diễn tả rằng: ai quyết làm đồ đệ Chúa, phải chấp-nhận mọi “phiền toái”, có ở đời. Phiền toái đây, chứng tỏ quyết tâm thương yêu của mình đối với Chúa; với những người mình yêu thương gắn bó, suốt một đời.
Không chấp-nhận phiền toái mình gặp ở đời hay ở người mình kỳ vọng thương-yêu, thì không thể gọi đó là thương người và thương mình được. Tin Mừng các thánh ghi lại, người đọc nhớ về truyện kể người Samaritanô/ngoài luồng, từng chấp-nhận phiền toái vào mình qua việc dừng chân đứng lại giúp người bị nạn dọc đường; dú biết mình gặp rắc rối với người Do thái cổ hủ, cứ nghĩ xấu về người khác: khác Đạo, dân tộc, vai vế và tình trạng kinh tế, ý thức hệ, vv...
  Không thể bảo: mình thương-yêu nhau, mà không gặp phiền hà rắc rối, khó chịu. Không thể nói: mình vẫn tương quan/hiệp thông với Chúa cách tốt đẹp mà lại không chịu chấp nhận mọi phiền-hà, khó chịu hoặc tròng tréo, từ người khác. Nói khác đi, hiệp thông với Chúa, tức: phải có tương-quan thuận-hoà với mọi người. Thuận-hoà, được xác-minh bằng mọi phiền toái của người khác đem lại cho mình.
Thế đó, là ý tưởng chủ-lực mà thánh Luca đề-cập đến sự thể phiền hà, khó chịu khi ta quyết tâm làm đồ đệ Thày Chí Ái, muốn người theo chân Ngài thực thi chuyện “chẳng đặng đừng” của tình thương. Hơn thế nữa, thánh Luca còn thêm một biểu-tỏ khác mình từng minh định:

“Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có,
thì không thể làm môn đệ Tôi được.”
(Lc 14: 33)

À thì ra, “phiền toái” lớn hơn cả, tức khiến đồ đệ Chúa thấy khó nhất lại là quyết tâm “từ bỏ những gì mình có.” Có từ bỏ, mới có cơ hội trở thành hư không/trống rỗng để quan tâm đến người khác; tức: những người không có gì bảo quản hoặc giữ rịt. Từ bỏ hay dứt bỏ, cả đến danh thơm tiếng tốt hoặc tên tuổi, giòng giống, họ hàng rạng danh thiên hạ!  Dứt bỏ hay từ bỏ, mọi kế thừa hoặc gia tài tinh thần như tài năng, khôn ngoan sáng suốt, tính quý phái, lịch lãm mà đời gán cho mình nữa. Đây mới là đòi hỏi “phiền” nhất trên đời.
Nói tóm lại, chấp nhận “phiền toái” ở cuộc đời bằng các dứt bỏ hết mọi thứ, để ta được tự do/rảnh rỗi mà đeo đuổi Sự Thật. Sự Thật về những ràng buộc của tình thương yêu/đùm bọc những ai không phải là ruột thịt, giống giòng hào kiệt hay chính mình.
Đeo đuổi Sự thật, là để ta thăng hoa chính mình. Thăng hoa/thăng tiến mình và mọi người vào chốn yêu thương, nền tảng của niềm tin nơi những ai tự mệnh danh là đồ đệ, tín-hữu theo chân Đức Kitô Đấng Hiền Lành, thánh thiện. Tức, trở thành một Kitô khác hay Kitô-hữu không khác Đức Kitô là mấy, mỗi khi ta yêu thương giùm giúp hết mọi người, ở đời.
Phiền thế rồi, nay mời bạn và mời tôi ta đi vào truyện kể nhẹ có hơi “phiếm” cho vấn đề mình đặt, sẽ thấy vui vẻ và cũng dễ; tức: chỉ là truyện kể lể thuộc loại “phiếm nhạt” như sau:

“Hai người bạn tù ngồi bên nhau mãi mà chẳng biết lấy chuyện gì để nói.
Bỗng, người tù cũ hỏi anh mới vào tù rằng:
-Này bạn. Nếu người yêu bạn quay sang bạn âu yếm hỏi: hôm nay anh thấy em thế nào, có đẹp không, thì bạn bảo sao?
-Chả bảo gì hết.
-Thế nghĩa là thế nào? Làm thế, không sợ bị vợ cằn nhằn chẳng quan tâm gì đến vợ, sao?  
-Tôi có cái tật là không thể nói sai hay nói dối được ai, kể cả vợ.
-Thế nếu vợ hỏi: anh thấy em hôm nay đẹp không thì anh nói thật như thế nào?
-Tôi ấy à. Tôi sẽ bảo: Hôm nay anh thấy em có đôi mắt mơ huyền và sâu sắc.
-Như thế nghĩa là thế nào?
-Mắt mơ huyền là mờ và chũng hơi sâu sắc là: xâu sắc xấu ấy mà...

Ấy chết. Vô phúc cho ai có người bạn đời thông minh, sắc sảo lại không mơ huyền, ắt hẳn sẽ hiểu ngay ý tốt của bạn đời “đáng chết bằm” là chồng mình, thôi. Nhà Đạo cũng thế. Thành viên nào ở Hội thánh mà không khen ngợi đấng bậc nhà Đạo ở trên cao, có ngày cũng đi vào cửa tử, thôi. Tức là, nếu không chết bên trong chút nào, thì cũng sẽ chết bên ngoài rất nhiều lần, mà thôi.
Quyết thế rồi, nay ta đi vào vườn âm nhạc mà ca hát ý/lời của bài ca ta hát ở trên, như sau:

“Nếu quen biết nhau một ngày,
Để mà thương nhớ suốt trong cuộc đời,
Giữa phút giây ban đầu,
Và chỗ tuyệt diệu tình yêu
(Y Vân – bđd)

Thương và nhớ, suốt đời như thế, phải chăng cũng là ý-nghĩa của một quyết tâm nơi nhà Đạo sống ở đời và với đời; như tôi, như bạn, bấy lâu nay? Hỏi, tức: đã trả lời. Trả lời xong, ta minh hoạ bằng câu truyện kể nhè nhẹ đi vào lòng người trẻ, rất như sau:

Truyện xưa kể lại rằng, một buổi tối một vị thiền sư già đi dạo trong thiền viện, chợt trông thấy một chiếc ghế dựng sát chân tường nơi góc khuất. Đoán ngay ra đã có chú tiểu nghịch ngợm nào đó làm trái quy định vượt tường trốn ra ngoài chơi, nhưng vị thiền sư không nói với ai, mà lặng lẽ đi đến, bỏ chiếc ghế ra rồi quỳ xuống đúng chỗ đó.

Một lúc sau, quả đúng có một chú tiểu trèo tường vào. Khi đặt chân xuống, chú tiểu mới kinh ngạc khi phát hiện ra dưới đó không phải là chiếc ghế mà là vai thầy mình, vì quá hoảng sợ nên không nói được gì, đứng im chờ nhận được những lời trách cứ và cả hình phạt nặng nề. Không ngờ vị thiền sư lại chỉ ôn tồn nói :“Đêm khuya sương lạnh, con mau vào thay áo đi”. Sự khoan dung của vị thiền sư già đã khiến chú tiểu suốt đời không quên được bài học đó.”

Và người kể hôm nay bàn rộng thêm thế này:
Người xưa dạy: Rộng lớn nhất thế giới là đại dương, rộng lớn hơn cả đại dương là bầu trời, rộng lớn hơn cả bầu trời chính là lòng người. Lòng người, nếu được dùng đúng chỗ và đúng lúc thì còn có tác dụng mạnh mẽ hơn mọi thứ kể cả sự trừng phạt, bởi nó tác động rất mạnh đến nhận thức mỗi con người.”
Kể thế rồi, nay xin để tùy bạn, tùy tôi, mỗi ngưòi tha hồ mà định liệu. Định liệu rồi, sẽ đi vào cuộc sống có quyết tâm, cho riêng mình.

Trần Ngọc Mười Hai
Cũng có lần
đã quyết tâm với chính mình
để rồi nhớ mãi  
những chuyện cần nhớ
rất khôn nguôi.