Chuyện
Phiếm đọc trong tuần thứ 21 thuờng niên năm C 25-8-2013
“Đời tôi cô đơn, nên yêu ai cũng cô đơn,”
“đời tôi cô đơn, nên yêu ai cũng không
thành.”
(Thanh
Sơn – Đời Tôi Cô Đơn)
(Tv 25: 16-18)
Hôm ấy, trên đường dài đầy những phiếm,
bần đạo được người bạn là chuyên gia tổ chức các buổi văn nghệ gây quỹ ở
Sydney, từng có kinh nghiệm từ buổi ca vũ nhạc mang tên “Tình yêu trên Tây Nguyên” để đón tiếp Lm Trần Sĩ Tín, DCCT VN từ
Tây nguyên đến. Nói nhiều như thế, là để dẫn nhập cái lý do tại sao bạn đạo của
bần đạo có tên là Vũ Xuân Hương Nam lại ưu ái mời bần đạo uống cà-phê buổi sáng
nghe nhạc bản trên để xin ý kiến.
Ý kiến/ý cò, là những ý và lời được gói
ghém trong nhạc bản, lại cứ hát đôi lời rằng:
“Đời tôi
cô đơn nên yêu ai cũng dở dang,
yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi
chẳng lỗi chi.
Đời tôi cô đơn nên yêu em chẳng
bao lâu,
ngày mai đây em lên xe hoa bước
theo chồng.”
(Thanh
Sơn – bđd)
Nói của đáng tội, thì bạn đạo của
bần đạo tuy lúc nào cũng có nụ cười vui trên môi, nhưng bên trong lại chứa một
bồ... cô đơn với những đơn chiếc, đơn độc, bèn hát thêm:
“Đời tôi
quen cô đơn nên tôi chẳng trách em,
tôi quen
rồi những chuyện dang dở từ khi mới yêu.
Tôi quen, tôi đã quen rồi em,
dang dở khi tình yêu tôi không
xây trên bạc vàng.
Tôi quen, tôi đã quen rồi em,
em khóc làm chi nữa bận lòng gì
kẻ trắng tay.”
(Thanh
Sơn – bđd)
Nói gần nói xa, thôi thì ta nói thật
cho xong để rồi lại nói rằng: điều mà bạn đạo muốn nói, chỉ như thế này: “Anh đây viết nhiều, nhưng có bao giờ anh
viết về tâm trạng của người em trai hay gái nào vẫn cứ lông bông ngoài quán xá/cà-phê
ở xứ người, như ai không?” Nói đến đó, bạn đạo của bần đạo lại sụt xùi, sụt
xịt chẳng nói thêm được điều gì, bèn trở lại đề tài của bài hát trên, may ra
tìm được lý lẽ của buổi cà-phê sáng hôm ấy, có tư tưởng “nặng ký” như ở câu:
“Tôi
xin, xin chúc em ngày mai,
hoa gấm ngọc ngà luôn vây quanh
em cả cuộc đời.
Riêng tôi duyên kiếp luôn dở
dang,
nên suốt đời tôi vẫn yêu cô đơn
như tình nhân.
Đời tôi cô đơn bao năm qua vẫn cô
đơn,
dù ai đẹp đôi nhưng riêng tôi vẫn
lạnh lùng,
trời cho tôi cô đơn bao nhiêu lần
nữa đây
tôi không hề trách đời hay giận
đời mau đổi thay.”
(Thanh
Sơn – bđd)
Nói như thế, bạn đạo của bần đạo chỉ muốn nói có một
điều, rằng: “Anh viết rất nhiều về tình
yêu: yêu người, yêu mình thật không thiếu. Nhưng có bao giờ anh hoặc ai đó nhớ
đến tình yêu gửi đến những người cô đơn/lẻ bóng trong đời mình không? Bởi, có
những người, chắc chắn không phải là tôi, dù đã có vợ và nhiều con nhưng vẫn lẻ
bong, cô đơn cũng da diết lắm?” Câu hỏi vừa là lời nhắn của bạn, khiến bần
đạo giật mình, bèn đi một đường tìm kiếm xem mình còn thiếu điều gì chưa viết
và lách đó chăng?
Thú thật với bạn đọc của bầy tôi đây, rằng: bần đạo
từng lách rất nhiều, nhưng có viết cũng chẳng được bao nhiêu. Nên hôm nay tìm
về giòng chảy này, đề cập đến những bạn đạo cô đơn như không lẻ bóng, bằng tình
tiết của ý/lời rất như sau:
Trước nhất là tình và tiết của người viết trẻ nọ
tên là Anthony Ndaira, trên báo đạo, từng có ý kiến/ý cò về giới trẻ cũng lẻ
bong về sự việc nào đó, rất như sau:
“Trước ngày nghỉ học kỳ 2 năm nay, tôi có san sẻ
với đám học trò lớp 8 của tôi về sử hạnh của vị thánh quan những người trẻ mồ
côi, tưởng chừng mình cũng cô đơn, lẻ bóng nhưng không phải. Đó là thánh quan
thầy kẻ đơn chiếc tên gọi là Đôminicô Saviô.
Thánh trẻ này, từng được Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị vinh
danh là “thừa sai của mẫu gương lành thánh, có lời lẽ và hành động khí khái, rất
“tốt đạo đẹp đời”. Là bạn hiền dễ làm thân với mọi người, và là người hoà giải
săng sái ở sân trường cho các đồng môn/đồng sàn về tình thương của Thiên Chúa
với hết mọi người, cả lũ học trò chuyên quậy phá, nghịch ngợm.
Đôminicô đã can đảm chấp nhận ý của Chúa cho đời
mình đến ngày chết, năm 1856, chỉ một tháng trước sinh nhật thứ 15, thôi. Về
người trẻ trở thành thánh, còn có Stanislaus Kostka từng khước từ gia tài kếch
sù do cha ông để lại, quyết sống đời âm thầm tầm thường nhưng thanh bạch dành hết
cho Lời Chúa được quảng bá. Dù anh ruột mình từng xách nhiễu lạm dụng không
thương tiếc, thánh Stanislaus Kostka vẫn vui lòng chấp nhận phận hèn vào thời
buổi tiền bạc và của cải là trên hết. Thế nên, vị thánh trẻ này bèn khoác áo
kiểu người hành hương ra đi gia nhập vào hang ngũ của anh em Dòng Tên. Thánh
Stanislaus Kostka qua đời vào năm 18 tuổiđúng vào ngày Đức Mẹ Về Trời năm 1568.
Và do tinh thần sống đại độ không dính bén của cải thế gian, nên được Giáo hội
phong tôn vinh thành bậc hiển thánh.
Ngoài các vị trên ra, còn có Chân phước Chiara Luce
Badano, cũng qua đời vào lúc 18 tuổi, hồi thập niên 1990 sau hai năm trời chiến
đấu chịu ung thư xương. Vị thánh trẻ này thích ra ngoài vui chơi với bạn bè,
chơi quần vợt và nghe nhạc pop cũng không thiếu.
Kể về các thánh trẻ đơn côi, mộc mạc, còn thấy có
các vị tử đạo còn rất trẻ như thánh Agnes, Lucy, Maria Goretti, Gioan thành Arc
mới 16 đã can đảm dẫn dắt đoàn quân viễn chinh Pháp chiến đấu với lòng tin vững
chãi, đức nhẫn nại, kiên cường, quả cảm. Thệm vào đó, còn có vị thánh mới được
phong, như: thánh Kateri Tekawitha, một bản sắc người Mỹ chết vào năm lên 19.
Tất cả các thánh trẻ này để làm rạng danh lịch sử đạo cũng như đời của đất
nước. Các thánh trẻ cũng chiến đấu không thua kém bậc đàn anh trước mọi cám dỗ
cũng như bạo lực giữa long thế giới có quá nhiều đau thương, thù nghịch và xúc
phạm đến phẩm giá con người.
Giới trẻ hôm nay cũng thế, dù phải giáp mặt với đủ
mọi tình huống côn đồ, doạ nạt hoặc xa xút, các thánh trẻ vẫn hiên ngang sống
quả cảm cho niềm tin, có vị còn phải phấn đấu chống lại tình huống lẻ loi, đơn
độc không có ghỗ trợ từ gia đình hoặc bầu bạn...
Đang thao thao bất tuyệt về tình trạng thánh trẻ
sống gương mẫu như thế, tôi được một học sinh giơ tay hỏi:
-Thưa thày, có phải Đức Giêsu khi xưa là người trẻ
sống đàng hoàng, khí khái lắm phải không?
-Đúng thế đó, em.
Trả lời xong, tôi cứ thế tiếp tục nói về các sự
kiện trong đời sống công khai của Chúa, những là: Chúa đi trên nước, Chúa chữa
lành cho người mù, người phung đơn chiếc và cuối cùng ngài chết cách lẻ loi,
tủi nhục trên thập tự. Ngài cũng sống giản dị như người thợ mộc trong làng với
người Cha đời, nơi trần thế (Lc 2: 52)
Tóm lại, là người trẻ từng hăng say lao động, vui
chơi thoải mái với bạn bè chòm xóm, người trẻ tuổi Giệsu cũng đã đem nụ cười
lành đến với mọi người khi Ngài nói cười với mọi người. Ngài cũng từng làm
gương tốt cho giới trẻ trong làng bằng những kinh nghiệm để đời đầy chất
“người”, tức: cũng đớn đau, sầu khổ, lẻ loi đơn chiếc, nhưng bằng quyết tâm cứu
vớt con người cần được cứu.
Thành thử, dù có là người trẻ tuổi sống đơn độc
không ai hiểu được mình, các bạn trẻ của tôi cũng đừng để ai nhìn xuống coi
thường mình chỉ vì mình còn trẻ, rất đơn độc; nhưng hãy tạo cho mình tư thế
sống giống như kiểu mẫu cho các kẻ tin đồng hành với mình bằng lời nói vui
tươi, bằng hành vi than thiện đượm tình nhân ái, yêu thương trong niềm tin rất
trong sang, như thánh Phaolô từng nói trong thư ngài viết cho đồ đệ trẻ là
Timothê ở đoạn 4 câu 12. Hãy nên nhớ: vào mọi tuổi, chí ít là tuổi trẻ, mình
vẫn có thể và vẫn phải làm chứng nhân cho Đức Kitô cũng rất trẻ, như ta. (xem Anthony Ndaira, Youth? It’s no barrier to stting an example, The Catholic Weekly
21/7/2013 tr. 11)
Thật ra thì, Chúa có lẻ loi, đơn độc
một đôi lúc. Nhưng, chính đó là lúc Ngài tỏ rõ cho mọi người thấy được rằng: lẻ
loi, đơn chiếc cũng còn là ân huệ Cha ban để ta qua đó nhận ra rằng mình vẫn
cần đến ân huệ trợ giúp, cũng rất cần.
Có đôi lần, bạn bè người than hỏi
nhau: đơn côi/lẻ bóng có là hậu quả của lối sống vị kỷ, chỉ biết mình, hay
không. Có vị lại đi xa hơn, lại những tỏ bày lập trường nhận định về tình trạng
đơn độc là do thực trạng”nghèo” gây nên. Nghè tiền, nghè bạn, nghèo người than
thiết, giúp đỡ, nên cứ buồn?
Nghe hỏi, bản than bần đạo không biết
sao mà trả lời/trả vốn cho đúng cách. Chỉ dám tìm đến bậc thày dạy trước đây,
mong được chỉ giáo. Thì, may thay, nhớ lại rằng: trong bài suy niệm Lời Chúa
hôm ấy, Lm Kevin O’Shea có đề cập đến loại “người nghèo do ta chọn”, ý nói: Hội
thánh nghèo của ta khi nói chữ “nghèo” hoặc “người nghèo” thường hay chọn loại
hình nghèo nào đó, cũng không nghèo mấy.
Áp
dụng chữ “nghèo/hèn” vào tình hống lẻ loi, đơn chiếc, rất cô đơn, bần đạo nhớ
được tư tưởng ở truyện kể về một người giàu nhưng vẫn cô đơn. May, mà ông/anh
ta có tinh thần “khó nghèo” của Tin Mừng, tức tinh thần nhớ đến người nghèo vẫn
sống ở đời thường mà không có ai nhớ đến để chọn , như sau:
“Ba mươi
năm trước đây tại thủ đô Washington, D.C., vợ của một nhà doanh nhân đã bỏ rơi
chiếc ví của cô ấy tại bệnh viện trong một đêm mùa đông. Nhà doanh nhân này rất
lo lắng và quay lại bệnh viện để tìm ngay trong đêm đó, bởi vì trong chiếc ví
không chỉ chứa $100,000 mà còn có cả các tài liệu marketing rất quan trọng.
Khi người doanh nhân vội vã tới
bệnh viện, ông ta nhìn thấy một cô gái nhỏ nhắn nằm ngay dưới chân bức tường
hành lang, đang run lên vì lạnh, và trong tay cô gái đó có chính xác chiếc ví
mà vợ ông đã bị mất.
Cô gái tên là Hiada, cô tới bệnh
viện để đưa người mẹ đang bị ốm tới khám bác sĩ. Người mẹ và cô con gái, hai
người đang dựa vào nhau để sống, họ rất nghèo, họ bán mọi thứ đáng giá và gom
góp chỉ vừa đủ số tiền để nhập viện và ở bệnh viện trong một đêm. Không có
tiền, họ sẽ bị đuổi ra khỏi bệnh viện vào ngày tiếp theo.
Đêm đó, Hiada đã bị bỏ lại bơ vơ
trong hành lang của bệnh viện. Cô ấy cầu nguyện xin Chúa nhân từ cứu giúp và hy
vọng sẽ gặp được một quý nhân nào đó sẽ cứu giúp được mẹ cô. Đột nhiên, một
người phụ nữ đi từ trên hàng lang xuống và đã đánh rơi chiếc ví mà không hề để
ý và vội vã đi qua, có lẽ bởi vì cô ấy đang phải mang một thứ gì đó trên tay.
Hiada là người duy nhất ở hành lang lúc đó, cô đã tới và nhặt chiếc ví lên. Khi
cô chạy tới sau cánh cửa phía sau người đàn bà kia, thì bà ấy đã ở trên ô tô.
Hiada quay trở lại phòng bệnh
viện. Khi mở chiếc ví ra, cả hai mẹ con đều sock vì số tiền quá lớn. Họ đều
ngay lập tức nghĩ rằng số tiền kia sẽ có thể giúp mẹ cô ấy chữa bệnh. Tuy
nhiên, người mẹ đã nói với Hiada quay lại hành lang và đợi người đánh rơi kia
quay lại để tìm.
Bất chấp mọi nỗ lực giúp đỡ cứu
chữa của nhà doanh nhân, mẹ của Hiada đã ra đi và để người con gái nhỏ ở lại
một mình. Sau đó,nhà doanh nhân đã giúp đỡ cô con gái nhỏ bé kia, người đã mất
đi cả gia đình. Người mẹ và cô con gái không chỉ giúp người doanh nhân lấy lại
$100,000, mà quan trọng hơn là những tài liệu marketing đã giúp nhà doanh nhân
về sau thành công hơn bao giờ hết và trở thành một nhà triệu phú chỉ sau đó
không lâu
Sau khi tốt nghiệp đại học,
Hiada, (với sự giúp đỡ của nhà doanh nhân), cô đã trợ giúp cai quản việc kinh
doanh của nhà triệu phú. Mặc dù nhà triệu phú không bao giờ bổ nhiệm cô vào một
vị trí nào thực sự, nhưng trải qua rất nhiều thời gian thử thách và học tập,
những kinh nghiệm thông thái của nhà triệu phú đã ảnh hưởng tới cô, giúp cô trở
thành một nữ doanh nhân thực sự.
Vào những năm sau này, ông đã
tham vấn Hiada rất nhiều ý kiến giải quyết cho rất nhiều vấn đề gặp phải. Khi
mà ông sắp xa rời thế giới, ông đã để lại những dòng đầy từ bi:
“Trước khi tôi biết Hiada và mẹ
cô ấy tôi đã thực sự mất hết tiền, nhưng khi tôi đứng trước bà mẹ và cô con
gái, người đã tìm thấy một số tiền rất lớn của tôi khi mà họ đang trong cảnh
bệnh tật và nghèo đói nhưng vẫn không màng tới số tiền của tôi, tôi nhận ra
rằng họ mới là những người giàu nhất. Họ đã giữ được những tiêu chuẩn đạo đức
cao nhất của con người mà một người doanh nhân như tôi còn thiếu. Tiền của tôi
có được phần lớn là do những trò tiểu xảo và tranh nhau với người khác. Đó là
những người mà họ làm cho tôi hiểu được tài sản quan trọng nhất trong cuộc đời
là giá trị đạo đức của họ. Tôi cứu giúp Hiada không chỉ vì trả ơn hay vì sự cảm
thông. Mà là vì tôi thấy cô ấy như một hình mẫu chuẩn mực của một con người.
Khi cô ấy ở bên cạnh tôi, tôi sẽ
luôn nhớ rõ rằng tại bất kỳ thời điểm nào cái gì tôi nên làm, cái gì không, tôi
nên kiếm tiền thế nào, tôi không nên kiếm thế nào. Đó là lý do cơ bản cho sự
thịnh vượng trong kinh doanh của tôi sau này và khi tôi đã trở thành nhà triệu
phú. Sau khi tôi chết, hàng triệu đô la của tôi sẽ kế thừa lại hết cho Hiada.
Đó không chỉ là để cho mà nó sẽ mang lại thành công hơn và thịnh vượng hơn cho
việc kinh doanh sau này. Tôi tin chắc rằng người con trai thông minh của tôi sẽ
hiểu được những suy nghĩ của cha mình.”
Khi người con trai của nhà triệu
phú đi du học trở về, anh đã đọc rất kỹ bức thư của cha và ngay lập tức ký các
giấy tờ chuyển nhượng mà không một chút đắn đo gì : “Tôi đồng ý để Hiada thừa
kế toàn bộ tài sản của cha tôi. Tôi chỉ có một đề nghị rằng Hiada sẽ trở thành
vợ của tôi.”
Sau khi đọc xong và nhìn thấy chữ
ký của người con trai nhà triệu phú, Hiada đã nghĩ rất nhanh và đã ký vào: “Tôi
xin nhận mọi tài sản thừa kế từ thế hệ trước, bao gồm cả người con trai của
ông”.
(theo chanhkien)
Đầu óc bần đạo tuy nông cạn, nhưng đôi lúc
cũng nhớ lời của đấng thánh hiền lành khi xưa đã đặt lời ca/tiếng hát ở thánh
vịnh rày như thế. Như thế, tức giống như sau:
“Lạy Chúa, xin đoái nhìn và xót thương
con,
vì thân này bơ vơ khổ cực.
Lòng đau như thắt, xin làm cho thanh thoả,
và giải thoát con khỏi bước ngặt nghèo.
Xin Chúa thấy cho cảnh lầm than khổ cực
và tha thứ hết mọi tội con.”
(Tv 25: 16-18)
Thánh vịnh đấng thánh đặt ra là để Các thánh trong
Đạo ca và hát dâng lên Chúa. Nhưng cũng còn là lời nhắn nhủ gửi đến toàn thể
dân con trong Đạo về sự kiện có những bạn đạo trong đời dù vẫn cười trước mũi,
trước mặt mọi người nhưng trong long vẫn ôm trọn một thổn thức, rất cô đơn. Nhớ
đến mọi “đấng thánh” trong Đạo tuy rất hiền từ, nhưng biết đâu vẫn cô đơn trong
long, vậy thì nên chăng ta nguyện cầu cho những ngườ8i nhuj7 thế và các bạn rất
như vậy? Nên lắm chứ.
Trần Ngọc Mười Hai
Nay cũng thấy mình lơ là và quên sót
Quên cả bạn Đạo trong đời, cũng như thế.