Wednesday, 21 August 2013

“Thương ai về ngõ tối,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 21 thuờng niên năm C 25-8-2013

Thương ai về ngõ tối,”
sương rơi ướt đôi môi
Thương ai buồn kiếp đời lạnh lùng ánh sao rơi.”
(Trịnh Công Sơn - Thương Một Người)
(Rm 2: 17-19)

Nghe bài này, bần đạo lại nhớ lần đó, vị linh mục trẻ được nhóm “Hát Cho Nhau Nghe” đề nghị hát bài này thay cho bài “Chiếc Áo Bà Ba”, rất dân ca.  Linh mục trẻ, hát những bài về “thương ai” hay thương tôi, cũng chẳng có gì để bàn ở Chuyện Phiếm hôm nay. Chuyện đáng bàn và cần bàn, là ý/lời của thơ và nhạc lại vẫn thấy hát, những câu như:

“Thương ai về xóm vắng. Ðêm nay thiếu ánh trăng
Ðôi vai gầy ướt mềm người lạnh lắm hay không
Thương ai mầu áo trắng trong như ánh sao băng
Thương ai cười trong nắng ngại ngùng áng mây tan ...”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Thương ai hay thương tôi, cũng vẫn là thương người và người thương, rất hai chiều. Thương người và thương tôi, còn là ý/lời của truyện kể rất đáng đọc và nên nghe, như chuyện về người ăn mày, sau đây:

Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.

Người ăn mày giận dữ nói: “Tôi chỉ có một tay, bà còn nhẫn tâm bảo vác gạch. Không muốn cho thì thôi vậy, cần chi phải trêu ghẹo người khác?”

Vị chủ nhân không chút nổi giận, cúi người xuống bắt đầu dọn gạch. Bà ta cố ý chỉ dùng một tay để chuyển, sau đó bà nói: “Ngươi thấy đấy, không phải chỉ dùng hai tay mới có thể sống được. Ngươi có thể làm, vậy tại sao lại không làm chứ?”

Người ăn mày lặng người đi, hắn ta nhìn vị nữ chủ nhân với ánh mắt kỳ dị, trái cổ nhô nhọn giống như một quả trám chuyển động lên xuống 2 lượt. Cuối cùng, hắn cúi người xuống, dùng cánh tay còn lại bắt đầu chuyển gạch. Một lần chỉ có thể chuyển đi hai viên gạch. Hắn chuyển như thế đúng hai tiếng đồng hồ thì hết đống gạch. Mệt, hắn thở như bò kéo xe, trên mặt dính đầy bụi, mấy chòm tóc rối bị mồ hôi ướt dính xéo trên góc trán.

Nữ chủ nhân đưa cho người ăn mày một cái khăn lông trắng như tuyết. Người ăn mày đón lấy lau mặt và cổ một lượt rất kỹ; chiếc khăn lông trắng đã biến thành chiếc khăn lông đen. Người phụ nữ lại đưa cho hắn 20 đô-la, người ăn mày cảm kích nói:  “Cảm ơn bà”  - “Ngươi không cần cảm ơn ta, đây là tiền công ngươi kiếm được dựa vào sức lực của mình”.

Người ăn mày nói: “Tôi sẽ không quên bà, để cho tôi giữ làm kỷ niệm vậy”. Nói xong, hắn cúi người chào thật thấp và sau đó lên đường. Qua nhiều ngày sau lại có một người ăn mày khác đến trang viên này. Người phụ nữ đó lại dẫn người ăn mày vào nhà sau, chỉ đống gạch, và nói: “Chuyển đống gạch này ra trước nhà, ta sẽ trả cho ngươi hai mươi đô-la”.

Người ăn mày với hai tay còn nguyên vẹn này bỏ đi, không biết là do không thèm 20 đô-la hay do điều gì khác. Người con của người phụ nữ không hiểu, liền hỏi mẹ:  “Lần trước mẹ kêu ăn mày chuyển đống gạch này từ trước nhà ra sau nhà. Lần này mẹ lại kêu ăn mày chuyển gạch từ sau nhà ra trước nhà. Rốt cuộc mẹ muốn đống gạch ở sau nhà hay là ở trước nhà?”.

Người mẹ nói với con rằng:  “Gạch đặt trước nhà hay sau nhà đều như nhau, nhưng chuyển hay không chuyển, đối với người ăn mày mà nói, thì lại không giống nhau”. Sau này cũng có mấy người ăn mày đến xin ăn, đống gạch đó được chuyển đi mấy lượt. Nhiều năm sau, có một người rất chỉnh tề đến trang viện này. Ông ta mặc veston, mang giày da, trông chững chạc hiên ngang như những người thành công với sự tự tin và tự trọng, chỉ có điều là người này chỉ có một cánh tay trái. Ông ta cúi người xuống, nói với vị nữ chủ nhân nay đã có phần già đi:  “Nếu không có bà, tôi vẫn chỉ là một kẻ ăn mày. Thế nhưng bây giờ tôi là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của một công ty”.

Người phụ nữ đã không còn nhớ ra ông là ai, bà hờ hững nói:  “Đấy là do chính bản thân ông làm ra mà thôi”. Người Chủ tịch Hội đồng Quản trị một tay mời người phụ nữ cùng cả nhà bà dọn đến thành phố để sống những ngày thoải mái. Người phụ nữ nói:  
-Chúng tôi không thể nhận sự chăm sóc của ông được
-Tại sao?
-Bởi vì cả nhà chúng tôi ai cũng có hai tay.
Người chủ tịch tuy đau lòng nhưng vẫn kiên trì:  
-Thưa bà, bà giúp tôi hiểu được thế nào là Nhân, thế nào là Cách. Căn nhà đó là tiền công mà bà đã dạy cho tôi.
            Người phụ nữ nói: 
-Vậy thì ông đem căn nhà ấy tặng cho người nào không còn cánh tay nào cả!”
(Truyện kể được truyền tụng trên mạng, nhiều vô kể)

Thật ra thì, có “thương ai về ngõ tối” có cuộc đời không mấy sáng sủa, cũng vẫn là tâm trạng của nhiều người ở đời, chứ không chỉ như lời hát, buổi hôm đó. Thành thử, có nghe hát mà không mường tượng rằng, ở đời này cũng rất nhiều trường hợp như thế, kể cũng “tội”.
“Tội” ghê lắm, lại là trường hợp của bạn, của tôi của rất nhiều người từng thấy “tội”, nhưng không thấy “lỗi” của ai hết. Chí ít, là tội và lỗi của nhân loại hoặc xã hội sao cứ để tình hình ấy, vẫn xảy đến.
Tình hình ở xã hội và Giáo hội hôm nay, lại cũng thấy rất nhiều tình và nhiều hình, thấy mãi mà sao chẳng động tĩnh gì hết vậy? Động và tĩnh, ít ra cũng như là tâm trạng và lòng dạ của một số vị, trong đó có linh mục “Bụi” nổi danh ở Sydney, nước Úc từng có những nhận định như sau:

“Kỳ nghỉ vừa qua đã đem lại cho giới trẻ đến hơn năm tuần để nghỉ lễ, không chỉ ra khỏi khuôn khổ có giáo dục , dạy dỗ rất khổ sở mà còn vượt thoát những thói lệ rất quen quen cốt giữ cho các em có được những sinh hoạt tích cực hơn.

Cho đến tuần lễ thứ ba, thì hầu hết các em đều mệt mỏi, chán chường những ngày dài vô vị, thế nên chúng lại càng thích cựa quậy bay nhảy cho đỡ bó giò bó cẳng, bằng các sinh hoạt vui chơi cho đến khi vô học lại ở trường, cũng chán chường.

Nếu không có cơ cấu thiết yếu cho những ngày dài của chúng, lũ/đám “trẻ người non dạ” của chúng ta tỏ ra mở rộng lòng hơn để tham gia vào những hoạt động tiêu cực ở xã hội, như: tội phạm hình sự, rượi chè và ma tuý, hoặc các hành xử trái luật nào khác.

Nói chung, thì có đến 70% bậc cha mẹ tin rằng: sở dĩ lũ trẻ nhà mình phạm pháp là do chúng cũng chẳng có gì để làm và chẳng có chỗ nào để chơi (x. MORI, 2002). Cơ quan Thống kê Úc nhận ra rằng chính sự nhàm chán là yếu tố đáng kể từng gợi hứng cho đám trẻ ở Úc phạm pháp, vào thời này (xem Thống kê ở Úc  năm 2008b) (Xemn Lm Chris Riley, Fun, educational actrivities keep young out of danger, The Catholic Weekly 17/3/2013, tr. 14)

Nói như linh mục “Bụi” ở trên, là nói cách bài bản, của nhà Đạo. Nhưng, nói như nghệ sĩ ở đời, còn là nói không bằng lời nhưng bằng ý nhẹ, rất như sau:

“Thương ai về ngõ tối. Bao nhiêu lá rơi rơi
Thương ai cười không nói ngập ngừng lá hôn vai
f*
            (Trịnh Công Sơn – bđd)

Trong đời đi Đạo còn có một thứ “ngõ tối” rất tăm tối, khiến các đấng bậc vị vọng phải để mắt quan tâm, là ngõ tối của niềm tin đi Đạo, như đấng bậc thày dạy từng nhắn bảo học trò của ông hôm nào ở trường Đạo, như sau:

“Những giòng chiêm niệm như thế này, là để đào sâu thêm những gì được gọi là “ánh sáng” đức tin.

Đề cập chuyện này, lại có nhiều phương án, rất khác nhau. Nhưng, trước khi bắt đầu kể, tôi cũng xin xác-quyết lập trường của tôi một cách tổng thể. Đa số truyền thống thần-học có chủ trương rút bỏ niềm tin khỏi bất cứ loại-hình nào mang tính “hiểu biết” (hoặc, gọi là “ánh sáng”) ngõ hầu biến nó thành động-tác tín-nhiệm vào sự tối tăm của vô-tri, tức không-hiểu-biết. Một số vị khác, cùng lúc đồng thuận với lập trường nói ở trên, lại đã biến nó thành động-thái của sự tin-tưởng và đặc biệt của tình thương vào Đấng Nào Đó sẽ gìn giữ họ (tức người tin tưởng) thật an-toàn trong sự tối-tăm của sự sống đang gia tăng (và quả thật cũng trong cõi tối tăm của sự chết). Các vị đồng ý bảo rằng niềm tin là sự thể có cảm-xúc rất trực-giác, một trực-giác có hỗ trợ không thất bại ở trong tăm tối, mà không thêm quà tặng trong “nhận xét”.(xem Lm Kevin O’Shea CSsR, Tin, động tác phát tự con tim, Chương 2 phần I, www.suyniemloingai.blogspot.com. 15/08/13)            

Nói như bậc thày giảng dạy, thì “thương ai về ngõ tối”, còn là thương tất cả những người cảm thấy như “mùa thu úa trên môi, trên cả mắt miệng và trái tim, nên mới tăm tối. Thương, là còn thương như lời hát, ở bên dưới:

“Thương nụ cười và mái tóc buông lơi
Mùa thu úa trên môi từng đêm qua ngõ tối
Bàn chân âm thầm nói. Lặng nghe gió đêm nay
Ngại ai buốt đôi vai. Bờ vai như giấy mới
Sợ nghiêng hết tình tôi.
(Trịnh Công Sơn – bđd)

            Và “thương ai”, tức còn thương cả những là “ai đó” đi về xóm vắng, đêm nay, mai ngày, còn hát tiếp:

            “Thương ai về xóm vắng. Ðêm nay thiếu ánh trăng.
Ðôi vai gầy ướt mềm người lạnh lắm hay không
Thương ai mầu áo trắng trông như ánh sao băng
Thương ai cười trong nắng ngại ngùng áng mây tan ...
Ngại ngùng áng mây tan ...
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ thương mãi như thế, rồi thì mọi “ngại ngùng áng mây tan”, Bởi, “ánh trăng” nơi “xóm vắng” chứa đầy tình thương nên đã sáng. Sáng cả mầu áo trắng, mầu của tính trinh trong, hiền hoà, nhiều “sao băng”. Tựa hồ như lời của đấng thánh hiền lành, từng dẫn dụ:

Còn bạn, bạn mang tên là người Do-thái,
lại ỷ rằng mình có Lề Luật,
và tự hào vì có Thiên Chúa;
bạn được biết ý Người,
được Lề Luật dạy cho điều hay lẽ phải;
bạn xác tín rằng mình là người dẫn dắt kẻ mù loà,
là ánh sáng cho kẻ ở trong bóng tối,
là nhà giáo dục kẻ u mê, là thầy dạy người non dại,
vì bạn tưởng mình có Lề Luật là có tất cả tri thức và chân lý...”
(Rm 2: 17-19)

            Thành ra, nhiều lúc bạn và tôi, ta cứ tưởng là mình đang ở trong ánh sáng của đức tin hoặc hiểu biết về mọi thứ, nhưng kỳ thật vẫn còn nơi tăm tối, do chưa biết “thương ai về ngõ tối”, giống như tôi. Như bạn, như nhiều nguời trong ta. Đó chính là điều mà cả người viết nhạc cũng như người, dù là linh mục trẻ hôm ấy, hay nghệ sĩ già hôm nay vẫn cứ nói và cứ hát như mọi ngày, trong đời.
            Tóm lại, cũng nên nhìn vào chỗ tối, để xem còn ai trong đó để mà thương. Thương rồi, cũng nhắn và nhủ, bằng lời lẽ vui, như sau:

“Hãy vui lên và cứ cười. Bởi một nụ cười trong ngày còn hơn ăn trái táo chữa bệnh. Cười rồi sẽ đọc truyển kể nhè nhẹ sau đây:
            Có người nọ, một hôm được Chúa ban cho hai lời ước, bèn ước là: Ước sao mình được uống thức uống ngon nhất và có được người nữ tốt lành nhất từ xưa đến nay. Tức thì, anh ta được uống nước khoáng và có Mẹ Têrêxa Calcutta ở cạnh bên.
            Lại cũng có người nhận chân ra được ánh sáng của cuộc đời, giống như sau:
            Trên cõi đời này, có ba loại người: loại đầu, sẽ mãi mãi độc thân và biến mọi sự thành điều tuyệt diệu. Loại thứ hai: là những người cũng có bạn gái và cũng thấy điều tuyệt diệu trên đời cứ hiện đến. Loại người còn lại, cứ lấy vợ lấy chồng rồi còn hỏi: có thứ gì tuyệt vời trên đời, khác nữa không?”

            Hỏi là hỏi thế chứ, người hỏi đã thấy ánh sáng cuối đường hầm tăm tối cuộc đời mình. Ánh sáng ấy là gì? Đường hầm đầy tăm tối ấy ra sao? Có giống câu hát ở cuối bài hay không? Tức, những lời rằng:

            Thương nụ cười và mái tóc buông lơi
Mùa thu úa trên môi từng đêm qua ngõ tối
Bàn chân âm thầm nói. Lặng nghe gió đêm nay
Ngại ai vuốt đôi vai. Bờ vai như giấy mới
Sợ nghiêng hết tình tôi.”
(Trịnh Công Sơn – bđd)

Nghe hát rồi, hẳn bạn cũng như tôi, ta cứ nhủ lòng mình bằng những câu, những lời rất nổi trôi, nhưng không buồn vì “sợ nghiêng hết tình tôi”. Tình tôi hay tình người còn đó, vẫn cứ vui. Nhé bạn. Nhé cả tôi.

Trần Ngọc Mười Hai
Nguyện rằng đời mình đời người
sẽ cứ vui,
suốt một đời.
 
  

Saturday, 17 August 2013

“Đời tôi cô đơn, nên yêu ai cũng cô đơn,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 21 thuờng niên năm C 25-8-2013

“Đời tôi cô đơn, nên yêu ai cũng cô đơn,”
“đời tôi cô đơn, nên yêu ai cũng không thành.”
(Thanh Sơn – Đời Tôi Cô Đơn)
(Tv 25: 16-18)
            Hôm ấy, trên đường dài đầy những phiếm, bần đạo được người bạn là chuyên gia tổ chức các buổi văn nghệ gây quỹ ở Sydney, từng có kinh nghiệm từ buổi ca vũ nhạc mang tên “Tình yêu trên Tây Nguyên” để đón tiếp Lm Trần Sĩ Tín, DCCT VN từ Tây nguyên đến. Nói nhiều như thế, là để dẫn nhập cái lý do tại sao bạn đạo của bần đạo có tên là Vũ Xuân Hương Nam lại ưu ái mời bần đạo uống cà-phê buổi sáng nghe nhạc bản trên để xin ý kiến. 
            Ý kiến/ý cò, là những ý và lời được gói ghém trong nhạc bản, lại cứ hát đôi lời rằng:

            Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang,
yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi chẳng lỗi chi.
Đời tôi cô đơn nên yêu em chẳng bao lâu,
ngày mai đây em lên xe hoa bước theo chồng.”
(Thanh Sơn – bđd)

            Nói của đáng tội, thì bạn đạo của bần đạo tuy lúc nào cũng có nụ cười vui trên môi, nhưng bên trong lại chứa một bồ... cô đơn với những đơn chiếc, đơn độc, bèn hát thêm:  

            Đời tôi quen cô đơn nên tôi chẳng trách em,
tôi quen rồi những chuyện dang dở từ khi mới yêu.
Tôi quen, tôi đã quen rồi em,
dang dở khi tình yêu tôi không xây trên bạc vàng.
Tôi quen, tôi đã quen rồi em,
em khóc làm chi nữa bận lòng gì kẻ trắng tay.”
(Thanh Sơn – bđd)

            Nói gần nói xa, thôi thì ta nói thật cho xong để rồi lại nói rằng: điều mà bạn đạo muốn nói, chỉ như thế này: “Anh đây viết nhiều, nhưng có bao giờ anh viết về tâm trạng của người em trai hay gái nào vẫn cứ lông bông ngoài quán xá/cà-phê ở xứ người, như ai không?” Nói đến đó, bạn đạo của bần đạo lại sụt xùi, sụt xịt chẳng nói thêm được điều gì, bèn trở lại đề tài của bài hát trên, may ra tìm được lý lẽ của buổi cà-phê sáng hôm ấy, có tư tưởng “nặng ký” như ở câu:

            “Tôi xin, xin chúc em ngày mai,
hoa gấm ngọc ngà luôn vây quanh em cả cuộc đời.
Riêng tôi duyên kiếp luôn dở dang,
nên suốt đời tôi vẫn yêu cô đơn như tình nhân.

Đời tôi cô đơn bao năm qua vẫn cô đơn,
dù ai đẹp đôi nhưng riêng tôi vẫn lạnh lùng,
trời cho tôi cô đơn bao nhiêu lần nữa đây
tôi không hề trách đời hay giận đời mau đổi thay.”
(Thanh Sơn – bđd)

Nói như thế, bạn đạo của bần đạo chỉ muốn nói có một điều, rằng: “Anh viết rất nhiều về tình yêu: yêu người, yêu mình thật không thiếu. Nhưng có bao giờ anh hoặc ai đó nhớ đến tình yêu gửi đến những người cô đơn/lẻ bóng trong đời mình không? Bởi, có những người, chắc chắn không phải là tôi, dù đã có vợ và nhiều con nhưng vẫn lẻ bong, cô đơn cũng da diết lắm?” Câu hỏi vừa là lời nhắn của bạn, khiến bần đạo giật mình, bèn đi một đường tìm kiếm xem mình còn thiếu điều gì chưa viết và lách đó chăng?
Thú thật với bạn đọc của bầy tôi đây, rằng: bần đạo từng lách rất nhiều, nhưng có viết cũng chẳng được bao nhiêu. Nên hôm nay tìm về giòng chảy này, đề cập đến những bạn đạo cô đơn như không lẻ bóng, bằng tình tiết của ý/lời rất như sau:
Trước nhất là tình và tiết của người viết trẻ nọ tên là Anthony Ndaira, trên báo đạo, từng có ý kiến/ý cò về giới trẻ cũng lẻ bong về sự việc nào đó, rất như sau:

“Trước ngày nghỉ học kỳ 2 năm nay, tôi có san sẻ với đám học trò lớp 8 của tôi về sử hạnh của vị thánh quan những người trẻ mồ côi, tưởng chừng mình cũng cô đơn, lẻ bóng nhưng không phải. Đó là thánh quan thầy kẻ đơn chiếc tên gọi là Đôminicô Saviô.

Thánh trẻ này, từng được Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị vinh danh là “thừa sai của mẫu gương lành thánh, có lời lẽ và hành động khí khái, rất “tốt đạo đẹp đời”. Là bạn hiền dễ làm thân với mọi người, và là người hoà giải săng sái ở sân trường cho các đồng môn/đồng sàn về tình thương của Thiên Chúa với hết mọi người, cả lũ học trò chuyên quậy phá, nghịch ngợm.

Đôminicô đã can đảm chấp nhận ý của Chúa cho đời mình đến ngày chết, năm 1856, chỉ một tháng trước sinh nhật thứ 15, thôi. Về người trẻ trở thành thánh, còn có Stanislaus Kostka từng khước từ gia tài kếch sù do cha ông để lại, quyết sống đời âm thầm tầm thường nhưng thanh bạch dành hết cho Lời Chúa được quảng bá. Dù anh ruột mình từng xách nhiễu lạm dụng không thương tiếc, thánh Stanislaus Kostka vẫn vui lòng chấp nhận phận hèn vào thời buổi tiền bạc và của cải là trên hết. Thế nên, vị thánh trẻ này bèn khoác áo kiểu người hành hương ra đi gia nhập vào hang ngũ của anh em Dòng Tên. Thánh Stanislaus Kostka qua đời vào năm 18 tuổiđúng vào ngày Đức Mẹ Về Trời năm 1568. Và do tinh thần sống đại độ không dính bén của cải thế gian, nên được Giáo hội phong tôn vinh thành bậc hiển thánh.

Ngoài các vị trên ra, còn có Chân phước Chiara Luce Badano, cũng qua đời vào lúc 18 tuổi, hồi thập niên 1990 sau hai năm trời chiến đấu chịu ung thư xương. Vị thánh trẻ này thích ra ngoài vui chơi với bạn bè, chơi quần vợt và nghe nhạc pop cũng không thiếu.

Kể về các thánh trẻ đơn côi, mộc mạc, còn thấy có các vị tử đạo còn rất trẻ như thánh Agnes, Lucy, Maria Goretti, Gioan thành Arc mới 16 đã can đảm dẫn dắt đoàn quân viễn chinh Pháp chiến đấu với lòng tin vững chãi, đức nhẫn nại, kiên cường, quả cảm. Thệm vào đó, còn có vị thánh mới được phong, như: thánh Kateri Tekawitha, một bản sắc người Mỹ chết vào năm lên 19. Tất cả các thánh trẻ này để làm rạng danh lịch sử đạo cũng như đời của đất nước. Các thánh trẻ cũng chiến đấu không thua kém bậc đàn anh trước mọi cám dỗ cũng như bạo lực giữa long thế giới có quá nhiều đau thương, thù nghịch và xúc phạm đến phẩm giá con người.

Giới trẻ hôm nay cũng thế, dù phải giáp mặt với đủ mọi tình huống côn đồ, doạ nạt hoặc xa xút, các thánh trẻ vẫn hiên ngang sống quả cảm cho niềm tin, có vị còn phải phấn đấu chống lại tình huống lẻ loi, đơn độc không có ghỗ trợ từ gia đình hoặc bầu bạn...
Đang thao thao bất tuyệt về tình trạng thánh trẻ sống gương mẫu như thế, tôi được một học sinh giơ tay hỏi:
-Thưa thày, có phải Đức Giêsu khi xưa là người trẻ sống đàng hoàng, khí khái lắm phải không?
-Đúng thế đó, em.
Trả lời xong, tôi cứ thế tiếp tục nói về các sự kiện trong đời sống công khai của Chúa, những là: Chúa đi trên nước, Chúa chữa lành cho người mù, người phung đơn chiếc và cuối cùng ngài chết cách lẻ loi, tủi nhục trên thập tự. Ngài cũng sống giản dị như người thợ mộc trong làng với người Cha đời, nơi trần thế (Lc 2: 52)
Tóm lại, là người trẻ từng hăng say lao động, vui chơi thoải mái với bạn bè chòm xóm, người trẻ tuổi Giệsu cũng đã đem nụ cười lành đến với mọi người khi Ngài nói cười với mọi người. Ngài cũng từng làm gương tốt cho giới trẻ trong làng bằng những kinh nghiệm để đời đầy chất “người”, tức: cũng đớn đau, sầu khổ, lẻ loi đơn chiếc, nhưng bằng quyết tâm cứu vớt con người cần được cứu.

Thành thử, dù có là người trẻ tuổi sống đơn độc không ai hiểu được mình, các bạn trẻ của tôi cũng đừng để ai nhìn xuống coi thường mình chỉ vì mình còn trẻ, rất đơn độc; nhưng hãy tạo cho mình tư thế sống giống như kiểu mẫu cho các kẻ tin đồng hành với mình bằng lời nói vui tươi, bằng hành vi than thiện đượm tình nhân ái, yêu thương trong niềm tin rất trong sang, như thánh Phaolô từng nói trong thư ngài viết cho đồ đệ trẻ là Timothê ở đoạn 4 câu 12. Hãy nên nhớ: vào mọi tuổi, chí ít là tuổi trẻ, mình vẫn có thể và vẫn phải làm chứng nhân cho Đức Kitô cũng rất trẻ, như ta. (xem Anthony Ndaira, Youth? It’s no barrier to stting an example, The Catholic Weekly 21/7/2013 tr. 11)

            Thật ra thì, Chúa có lẻ loi, đơn độc một đôi lúc. Nhưng, chính đó là lúc Ngài tỏ rõ cho mọi người thấy được rằng: lẻ loi, đơn chiếc cũng còn là ân huệ Cha ban để ta qua đó nhận ra rằng mình vẫn cần đến ân huệ trợ giúp, cũng rất cần.
            Có đôi lần, bạn bè người than hỏi nhau: đơn côi/lẻ bóng có là hậu quả của lối sống vị kỷ, chỉ biết mình, hay không. Có vị lại đi xa hơn, lại những tỏ bày lập trường nhận định về tình trạng đơn độc là do thực trạng”nghèo” gây nên. Nghè tiền, nghè bạn, nghèo người than thiết, giúp đỡ, nên cứ buồn?              
            Nghe hỏi, bản than bần đạo không biết sao mà trả lời/trả vốn cho đúng cách. Chỉ dám tìm đến bậc thày dạy trước đây, mong được chỉ giáo. Thì, may thay, nhớ lại rằng: trong bài suy niệm Lời Chúa hôm ấy, Lm Kevin O’Shea có đề cập đến loại “người nghèo do ta chọn”, ý nói: Hội thánh nghèo của ta khi nói chữ “nghèo” hoặc “người nghèo” thường hay chọn loại hình nghèo nào đó, cũng không nghèo mấy.
Áp dụng chữ “nghèo/hèn” vào tình hống lẻ loi, đơn chiếc, rất cô đơn, bần đạo nhớ được tư tưởng ở truyện kể về một người giàu nhưng vẫn cô đơn. May, mà ông/anh ta có tinh thần “khó nghèo” của Tin Mừng, tức tinh thần nhớ đến người nghèo vẫn sống ở đời thường mà không có ai nhớ đến để chọn , như sau:

Ba mươi năm trước đây tại thủ đô Washington, D.C., vợ của một nhà doanh nhân đã bỏ rơi chiếc ví của cô ấy tại bệnh viện trong một đêm mùa đông. Nhà doanh nhân này rất lo lắng và quay lại bệnh viện để tìm ngay trong đêm đó, bởi vì trong chiếc ví không chỉ chứa $100,000 mà còn có cả các tài liệu marketing rất quan trọng.

Khi người doanh nhân vội vã tới bệnh viện, ông ta nhìn thấy một cô gái nhỏ nhắn nằm ngay dưới chân bức tường hành lang, đang run lên vì lạnh, và trong tay cô gái đó có chính xác chiếc ví mà vợ ông đã bị mất.

Cô gái tên là Hiada, cô tới bệnh viện để đưa người mẹ đang bị ốm tới khám bác sĩ. Người mẹ và cô con gái, hai người đang dựa vào nhau để sống, họ rất nghèo, họ bán mọi thứ đáng giá và gom góp chỉ vừa đủ số tiền để nhập viện và ở bệnh viện trong một đêm. Không có tiền, họ sẽ bị đuổi ra khỏi bệnh viện vào ngày tiếp theo.

Đêm đó, Hiada đã bị bỏ lại bơ vơ trong hành lang của bệnh viện. Cô ấy cầu nguyện xin Chúa nhân từ cứu giúp và hy vọng sẽ gặp được một quý nhân nào đó sẽ cứu giúp được mẹ cô. Đột nhiên, một người phụ nữ đi từ trên hàng lang xuống và đã đánh rơi chiếc ví mà không hề để ý và vội vã đi qua, có lẽ bởi vì cô ấy đang phải mang một thứ gì đó trên tay. Hiada là người duy nhất ở hành lang lúc đó, cô đã tới và nhặt chiếc ví lên. Khi cô chạy tới sau cánh cửa phía sau người đàn bà kia, thì bà ấy đã ở trên ô tô.

Hiada quay trở lại phòng bệnh viện. Khi mở chiếc ví ra, cả hai mẹ con đều sock vì số tiền quá lớn. Họ đều ngay lập tức nghĩ rằng số tiền kia sẽ có thể giúp mẹ cô ấy chữa bệnh. Tuy nhiên, người mẹ đã nói với Hiada quay lại hành lang và đợi người đánh rơi kia quay lại để tìm.

Bất chấp mọi nỗ lực giúp đỡ cứu chữa của nhà doanh nhân, mẹ của Hiada đã ra đi và để người con gái nhỏ ở lại một mình. Sau đó,nhà doanh nhân đã giúp đỡ cô con gái nhỏ bé kia, người đã mất đi cả gia đình. Người mẹ và cô con gái không chỉ giúp người doanh nhân lấy lại $100,000, mà quan trọng hơn là những tài liệu marketing đã giúp nhà doanh nhân về sau thành công hơn bao giờ hết và trở thành một nhà triệu phú chỉ sau đó không lâu

Sau khi tốt nghiệp đại học, Hiada, (với sự giúp đỡ của nhà doanh nhân), cô đã trợ giúp cai quản việc kinh doanh của nhà triệu phú. Mặc dù nhà triệu phú không bao giờ bổ nhiệm cô vào một vị trí nào thực sự, nhưng trải qua rất nhiều thời gian thử thách và học tập, những kinh nghiệm thông thái của nhà triệu phú đã ảnh hưởng tới cô, giúp cô trở thành một nữ doanh nhân thực sự.
Vào những năm sau này, ông đã tham vấn Hiada rất nhiều ý kiến giải quyết cho rất nhiều vấn đề gặp phải. Khi mà ông sắp xa rời thế giới, ông đã để lại những dòng đầy từ bi:

“Trước khi tôi biết Hiada và mẹ cô ấy tôi đã thực sự mất hết tiền, nhưng khi tôi đứng trước bà mẹ và cô con gái, người đã tìm thấy một số tiền rất lớn của tôi khi mà họ đang trong cảnh bệnh tật và nghèo đói nhưng vẫn không màng tới số tiền của tôi, tôi nhận ra rằng họ mới là những người giàu nhất. Họ đã giữ được những tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của con người mà một người doanh nhân như tôi còn thiếu. Tiền của tôi có được phần lớn là do những trò tiểu xảo và tranh nhau với người khác. Đó là những người mà họ làm cho tôi hiểu được tài sản quan trọng nhất trong cuộc đời là giá trị đạo đức của họ. Tôi cứu giúp Hiada không chỉ vì trả ơn hay vì sự cảm thông. Mà là vì tôi thấy cô ấy như một hình mẫu chuẩn mực của một con người.

Khi cô ấy ở bên cạnh tôi, tôi sẽ luôn nhớ rõ rằng tại bất kỳ thời điểm nào cái gì tôi nên làm, cái gì không, tôi nên kiếm tiền thế nào, tôi không nên kiếm thế nào. Đó là lý do cơ bản cho sự thịnh vượng trong kinh doanh của tôi sau này và khi tôi đã trở thành nhà triệu phú. Sau khi tôi chết, hàng triệu đô la của tôi sẽ kế thừa lại hết cho Hiada. Đó không chỉ là để cho mà nó sẽ mang lại thành công hơn và thịnh vượng hơn cho việc kinh doanh sau này. Tôi tin chắc rằng người con trai thông minh của tôi sẽ hiểu được những suy nghĩ của cha mình.”

Khi người con trai của nhà triệu phú đi du học trở về, anh đã đọc rất kỹ bức thư của cha và ngay lập tức ký các giấy tờ chuyển nhượng mà không một chút đắn đo gì : “Tôi đồng ý để Hiada thừa kế toàn bộ tài sản của cha tôi. Tôi chỉ có một đề nghị rằng Hiada sẽ trở thành vợ của tôi.”

Sau khi đọc xong và nhìn thấy chữ ký của người con trai nhà triệu phú, Hiada đã nghĩ rất nhanh và đã ký vào: “Tôi xin nhận mọi tài sản thừa kế từ thế hệ trước, bao gồm cả người con trai của ông”.
(theo chanhkien)

            Đầu óc bần đạo tuy nông cạn, nhưng đôi lúc cũng nhớ lời của đấng thánh hiền lành khi xưa đã đặt lời ca/tiếng hát ở thánh vịnh rày như thế. Như thế, tức giống như sau:

Lạy Chúa, xin đoái nhìn và xót thương con,
vì thân này bơ vơ khổ cực.
Lòng đau như thắt, xin làm cho thanh thoả,
và giải thoát con khỏi bước ngặt nghèo.
Xin Chúa thấy cho cảnh lầm than khổ cực
và tha thứ hết mọi tội con.”
(Tv 25: 16-18)

Thánh vịnh đấng thánh đặt ra là để Các thánh trong Đạo ca và hát dâng lên Chúa. Nhưng cũng còn là lời nhắn nhủ gửi đến toàn thể dân con trong Đạo về sự kiện có những bạn đạo trong đời dù vẫn cười trước mũi, trước mặt mọi người nhưng trong long vẫn ôm trọn một thổn thức, rất cô đơn. Nhớ đến mọi “đấng thánh” trong Đạo tuy rất hiền từ, nhưng biết đâu vẫn cô đơn trong long, vậy thì nên chăng ta nguyện cầu cho những ngườ8i nhuj7 thế và các bạn rất như vậy? Nên lắm chứ.

Trần Ngọc Mười Hai  
Nay cũng thấy mình lơ là và quên sót
Quên cả bạn Đạo trong đời, cũng như thế.