Monday, 7 July 2008

“Biết dùng lời rất khó, để mà nói rõ…”

Ôi biết nói gì? Cuộc tình lớn quá!

Chuyện tình đáng nhớ - tuy cũ như là biển già trắng xoá

Cuộc tình quý giá - như những ngọc ngà nàng dành cho ta

Ôi biết nói gì?”

(Francis Lai - Phạm Duy – Love Story)

Quả thật rất đúng. Chuyện tình đáng nhớ hay cuộc tình quý giá, đều là điều rất khó để nói. Chí ít, nói bằng lời. Thậm chí, nói vào lúc đang nóng giận. Hoặc những tranh cãi, của người nhà Đạo. Trong Đạo. Về chuyện Đạo, người đời gọi đó là những cãi tranh.

Cãi tranh hay căm giận, những là chuyện nội bộ của nhà Đạo, hẳn là bạn cũng như tôi, ta chắc phải hát thêm câu tiếp của nhạc bản ở trên, mà rằng:

Lòng ta đầy kín,

Lòng ta đầy kín!

Là muôn ngàn chuyện … yêu đương!

Câu hát thần tiên

Và những mộng huyền mênh mang

Đầy kín hồn hoang, mang mác tình duyên

Thôi hết cuộc đời im tiếng… (Francis Lai - Phạm Duy - bđd)

Bần đạo thường tự hỏi: bàn chuyện yêu đương, những là yêu người - yêu Chúa - yêu Giáo hội mà chỉ cãi với tranh. Hoặc, cãi vã đổ mồ hôi. Sôi bọt mép. Thường là chuyện chẳng nên làm. Ở đời thường.

Hôm nay, nhân có chuyện “đầy kín hồn hoang/mang mác tình duyên” xảy đến với nhà Đạo ở Úc, không vui lắm, bạn và tôi, ta hãy thử đi thêm một vòng luận phiếm, xem có ý kiến nào khác của đấng bậc ở trên, khả dĩ khiến bà con mình được tỏ “con ngươi”, một cõi lòng. Thì: cũng nên lắm.

Trước nhất, là ý và lời của một giáo sư thuộc Viện Thần Học Liên Dòng ở Melbourne - Úc Gs Andrew Hamilton, như sau:

“Sách của Đức Giám mục Geoffrey Robinson mang tựa đề “Giáp mặt Quyền bính và Tính Dục trong Giáo hội Công giáo, đòi lại tinh thần Đức Kitô” qua đó, ngài nhìn sự việc như cội rễ của mọi lạm dụng trong Hội thánh, còn dấy lên nhiều tranh cãi.

Tháng Năm 2008, Hội Đồng Giám Mục Úc đưa ra tuyên bố trong đó các ngài ca tụng Đức Giám mục Robinson là đã có quyết tâm nâng đỡ nạn nhân bị lạm dụng, nhưng lại quan ngại về tín lý nhận rõ đang bàng bạc trong quyển sách. Đáp lại tuyên bố này, Đức Giám Mục Robinson bày tỏ sự thất vọng là các Giám mục trong Hội đồng Chủ Chăn ở Úc không giải quyết thách thức căn bản mà sách của ngài, nêu lên.

Để hiểu rõ cuộc cãi tranh, nên về với bối cảnh thích hợp vào lúc ĐGM Robinson làm Giám Mục Phụ tá Tổng Giáo Phận Sydney, khi ngài có trọng trách điều hợp việc ứng xử của Giáo hội với các nạn nhân bị lạm dụng bên trong cơ chế Giáo hội. Và, trong quá trình thực hiện việc này, Giám mục Robinson có dịp tiếp chuyện với nhiều nạn nhân từng bị xúc phạm. Kinh nghiệm ấy, đã cấu thành luận cứ trọng tâm cho cuốn sách “Giáp mặt Quyền bính và Tính dục bên trong Hội thánh Công giáo”, mà ngài đề cập.

Vậy đâu là luận cứ ĐGM Robinson đưa ra? Và, tại sao các Giám mục Úc lại chỉ trích cuốn sách của ĐGM Robinson mạnh như thế?

Trong sách, ĐGM Robinson có dẫn chứng: nguyên nhân sâu xa của lạm dụng tình dục phải được nhìn vào trạng thái tâm lý của những người từng lạm dụng. Vậy thì, đâu là tâm tưởng của các vị ấy về quyền bính và tính dục? Về môi trường tạo nên sự cố này? Và, tác giả cho biết: các yếu tố ấy đan kết với nhau trong văn hoá nhà Đạo, nay cần đổi thay. Và, cội rễ của hành vi xúc phạm tình dục cũng cần phải cắt bỏ.

Ở Giáo hội Công giáo, trọng trách của mỗi Giám mục là giáo dục niềm tin mình nhận lĩnh. Giám mục thành La Mã, tức Đức Giáo Hoàng, mang trọng trách tổng quản hầu duy trì lòng tin và đời sống hiệp nhất ở giáo hội sở tại. Đức Giáo Hoàng sẽ phải can thiệp nếu như các giám mục sở tại không thể đối đầu một cách có hiệu quả với vấn đề trồi lên. Khi quyết chỉ trích cuốn sách do GM Robinson viết, Hội Đồng Giám Mục Úc phẩm bình là vấn đề niềm tin, đang lâm nguy. Cũng trong thông tư, các Giám mục Úc đã từng ca tụng các đóng góp của ĐGM Robinson. Các ngài nói: ”Chúng tôi mang ơn đậm sâu từ Đức cha Robinson trong bao năm trời cố gắng hàn gắn giúp nạn nhân lâu nay đau khổ vì bị xúc phạm tình dục mà họ phải chịu. Chúng tôi cũng rất lấy làm cảm kích về những điều Đức Cha Robinson đã làm, nhằm thiết dựng qui trình tiêu chuẩn cho đạo đức chức năng của giới chức trong Hội thánh, về lãnh vực này.”

Nhưng sau đó, các ngài lại bảo: cuốn sách đã cật vấn quyền của Hội thánh khi được quyền giáo huấn một cách rạch ròi. Sách cũng chất vấn cả về nhận thức và quyền của Đức Kitô làm nền cho Hội thánh được phép giáo huấn. Nói rõ hơn, các giám mục ở đây nói: sách của ĐGM Robinson đã cật vấn giáo huấn của Đạo về truyền thống, nguồn linh hứng thánh kinh, về tính vô ngộ của Công đồng và các Giáo Hoàng, về bản chất chức linh mục, các yếu tố của nền giáo dục đạo đức trong Hội thánh. Và các ngài kết thúc bằng việc thừa nhận rằng quyền hành mà Đức Kitô tin và trao cho Hội thánh có thể bị thực hành một cách xấu xa.

Các phê bình chỉ trích đang tiếp tục càn quét rộng. Nhưng tầm nhìn tập trung vẫn không rõ. Các giám mục ở đây thấy Gm Robinson có lỗi lầm trong cật vấn. Nhưng, có hai hình thái cật vấn: một để khảo sát, phần kia để chối bỏ. Chúng ta có thể cật vấn đức tin bằng cách khảo sát nền tảng và ranh giới của nó. Còn lối cật vấn kia chỉ có giá trị như một chối bỏ.

Ở trường hợp sách của ĐGM Robinson, tác giả chắc chắn đã cật vấn quyền của Hội thánh và các vấn đề khác, theo nghĩa đầu. Ngài phải làm thế để khảo sát nền tảng của một thứ văn hoá trong lòng Hội thánh. Nhưng sách ngài viết, đã được đọc theo phong cách khiến ta có thể nghĩ rằng đó chính là mục đích tốt mà tác giả nhắm đến. Và, chắc chắn điều mà tác giả muốn cật vấn không chất chứa một chối bỏ, nào hết.

Nhưng, các vị giám mục nhà ta có thể đã lo ngại quá đáng là: nhiều người đọc có thể đọc sách của Gm Robinson theo một chiều hướng xấu. Quả là, có thể có nguy hiểm nằm trong cách thức lập luận như thế. Muốn bàn thảo về bệnh lý của một văn hoá cũng giống như những gì phản ánh nơi các yếu tố nằm bên trong cơ thể dẫn đến bệnh ung thư. Nguồn gốc gây nên bệnh ung thư cũng là nguồn cội của sự sống trong chính cơ thể của ta. Nếu ta tập trung chỉ nhằm làm bật rễ nguồn gốc căn bệnh (như ung thư) mà không tìm hiểu xem chuyện gì khiến cho cơ thể sống mạnh sống khoẻ, thì có thể chúng ta sẽ giết mất cơ thể của mình bằng cái việc là chỉ làm bật gốc rễ của căn bệnh (ung thư) ấy.

Trong cuốn “Giáp mặt Quyền bính và Tính dục trong Hội thánh Công giáo, đòi lại tinh thần Đức Kitô”, ĐGm Robinson tập trung nhắm vào các ý tưởng về bệnh lý. Những người nhằm phê bình chỉ trích tác giả là những vị đã đòi hỏi quá đáng về quyền tập trung trong giáo huấn của Hội thánh. Các vị ấy đã đòi hỏi quá nhiều trong việc phải tôn kính các chức sắc trong Hội thánh. Các vị, có cái nhìn quá hạn hẹp và tiêu cực về tính dục con người. Và, các cụ là những vị đặt để và bắt buộc các giáo sĩ phải ở độc thân, mà không cần đến bàn với cãi.

Đó là những ý kiến. Về một sự kiện, đang còn xảy đến với mỗi người. Ở nhiều nơi.

Nghiệm sinh về chuyện xảy ra ở nhiều nơi, trong nhà Đạo, bần đệ lại nhớ đến chuyện rất xưa. Xưa như trái đất. Nhưng cứ tưởng chừng như đang diễn ra ở đâu đây, rất gần. Những chuyện, đến với cộng đoàn nhỏ, trong đó bần đệ vẫn cứ mở rộng con người ra, mà nhận biết.

Chuyện, thật ra cũng chẳng có gì. Chỉ là, những bất bình/cãi tranh của người anh em vốn hay ủng hộ, hoặc bất đồng – kình chống trước những chủ trương đem Đạo vào đời. Vào thời đó. Nghĩa là, những người anh muốn thử sống với đời, ở trong đời. Sống và ăn ở, trước khi có quyết định chung cuộc về với Chúa, trong tu trì. Kình chống những nhập nhằng của linh mục/chủng sinh với các “con linh hồn” và tín hữu, dễ đưa đến lạm dụng.

Hẳn là, bầu bạn đều rõ: Dòng thánh mà bần đệ đeo đuổi cho đến buổi ấy, cũng đã được tới 12 niên. Lúc ấy, bần đệ cứ nghĩ Dòng chỉ có thể tồn tại, nếu chịu đem tin vui đến với người nghèo hèn, tất bạt, ở miền quê dân dã. Chứ đâu có ở chốn thị thành, nhiều hấp dẫn. Dẫu quanh ta. May thay! Lúc ấy bần đệ, không bị mang tiếng là cấp tiến, những nào lầm lạc. rất lung lay…

Nay, nghe lại chuyện cãi tranh/luận bàn giữa các bậc thầy/đàn anh, mà thấy nhớ. Nhớ rằng, khi ấy đàn anh/bậc thày của bần đệ cũng có những tư tưởng, rất ấn tượng như sau:

“Trong tư thế ôm vào mình, nhiều nhận định và tư tưởng, Gm Robinson không thể đưa ra một cái nhìn tròn trịa, có nền tảng vững chắc, về niềm tin và cuộc sống của người Công giáo. Ngài không thể toàn bộ thực hiện được sự công bằng chính trực cho Hội thánh như bản thể sống động. Ở niềm tin Công giáo, cuộc sống này được nhận biết qua sự hiện diện của Chúa thánh Linh, bên trong Hội thánh đang triển nở. Nếu sách của ngài không được đọc dưới ánh sáng của thị kiến hữu cơ nơi Hội thánh Công giáo, thì cũng sẽ được đọc dưới lăng kính tiêu cực kèm theo đó là những mổ xẻ, phân tách, từng mảnh thịt.

Khi đó, có lẽ các Giám mục Úc có thể nghĩ rằng cần cảnh báo, để nhỡ ra có thể có người đọc sách của Gm Robinson trong trạng thái như thế, đặc biệt là những độc giả có thể nghĩ mình đã có xác tín là sách được một giám mục viết ra.

Giám mục Robinson đã chấp nhận là các giám mục ở Úc có quyền ứng đáp. Nhưng, ngài đã cảm thấy thất vọng vì các giám mục này đã không đả động đến những vấn đề then chốt được đưa ra. Đó là phạm vi có liên quan đến văn hoá Công giáo, kể cả qui chế đòi buộc linh mục ở độc thân và việc thực thi quyền lực, các thái độ khuôn đúc đối với tính dục và quyền bính. Và, cả về phạm vi theo đó có những thái độ gây tai hại cho mọi người, thái độ gây xúc phạm lạm dụng cũng như những gì ra như còn được che đậy. Ém nhẹm.

Vấn đề vẫn còn đó. Vẫn chưa hồi đáp. Hồi và đáp từ những phê bình chỉ trích về sách của Gm Robinson, dù có thể chúng đã được bào chữa, thanh minh. Rõ hơn, là bởi: gốc rễ cội nguồn của bệnh lý đang nằm gần cạnh ở bên cội nguồn sự sống trong Hội thánh Công giáo, như ở trong cơ chế khác. Tức, những điều cần nghiên cứu học hỏi kỹ lưỡng và sâu sắc. Cần suy tư, tự kiểm để có thể đề cập các đề ấy. Thế nhưng, nỗi đau của các nạn nhân vị xúc phạm/lạm dụng về tình dục vẫn còn đó, kêu thất thanh. Những điều ấy cần được đề cập/sờ chạm một cách nghiêm chỉnh, mới đúng.

Gợi nhớ vấn đề nhức nhối và khúc mắc đang diễn ra ở đây, hôm nay cũng từa tựa những đã từng diễn ra, nhiều năm, hôm trước. Gợi ra, chỉ để nhớ. Nhớ đến để rồi vẫn còn gợi, vẫn đề ra. Đề ra một gợi nhớ, để nhớ rằng; dầu sao chúng ta hay chúng mình vẫn cứ là con người hay người con của một Giáo hội bằng xương bằng thịt. Giáo hội vẫn có thịt và có xương để gợi và để nhớ.

Nhớ như âm một giòng nhạc/vần thơ của ai đó, hát đâu đây:

Là muôn ngàn chuyện yêu đương!

Câu hát thần tiên

Và những mộng huyền mênh mang

Đầy kín hồn hoang

Man mác tình duyên

Thôi hết cuộc đời im tiếng… (Francis Lai – Phạm Duy – bđd)

Thôi hết rồi, cuộc đời im tiếng. Thật ra cuộc đời mình không thể im tiếng. Dù cho tiếng ấy có là tiếng của người anh, người chị quanh tôi. Hay, của các đấng bậc. Bậc thầy. Bậc đàn anh, rất đáng kính.

Cuộc đời chẳng làm sao im được tiếng nói, tiếng kêu thất thanh hay những tiếng phàn nàn, buồn thảm về cuộc sống rất căng ở bên đây, ở bên kia. Của những người anh người chị ở khung trời Mỹ quốc, nhưng cũng là của bạn, của tôi. Nay xin mời tôi và bạn, ta san sẻ lời trần tình về một vấn đề đang nổi cộm. Vấn đề của thực tế đời thường rất thân và rất thương: chuyện xăng dầu. Rất trần. Và cũng rất tình, như sau:

Bốn đô một gallon xăng

Bốn trăm miles chẵn tốn bằng trăm đô

Còn chưa cộng thứ tiền toll

Tiền mua bảo hiểm, ô tô bảo trì

Xăng ơi, lên giá làm chi!

Cho tôi nuốt lệ mỗi khi ra đường

Tiền xăng giết chết tiền lương

Giết luôn tiền thưởng, tổn thương tiền già

Ngậm ngùi, nhung nhớ tình xa

Tơ duyên mai lỡ, lỗi là xăng cao

Chúc em hốt được thằng nào

Tiền vô như nước, xăng cao không tè. (thơ của tác giả Vô danh… và vô tư)

Trần Ngọc Mười hai

vẫn kính và yêu

các đấng bậc

trong cuộc đời.

Sunday, 29 June 2008

“Trời mưa ở Huế sao buồn thế! “

Cứ kéo dài ra đến mấy ngày

Xa xôi ai nhớ mà thương nhớ?

Mà nhớ mà thương đến thế này!

(Thơ nguyễn Bính)

Bần đạo rất hân hạnh được ở Huế. Những ba năm. Cũng có lúc, thấy đời ở đây đã rất buồn. Buồn da diết. Buồn lê thê. Nỗi buồn và niềm nhớ rất khôn nguôi. Vô tả. Chỉ biết, buồn với nhớ nghĩ mà thương. Hết thương rồi lại nhớ, cứ vấn vương nỗi buồn nhè nhẹ, hệt như thơ.

Và, bần đạo chẳng biết mình yêu thơ yêu nhạc từ bao giờ. Thấy Huế một lần, bần đạo đã bắt đầu biết yêu thơ. Và yêu nhạc. Yêu thơ hay yêu nhạc, lại nhớ Huế. Rất nên thơ. Nhiều lúc, bần đạo thấy mình như người khờ. Cứ khạo khờ hết trích thơ rồi trích nhạc, có lời Kinh. Thôi thì, bầu bạn thương tình hãy cứ làm ngơ cho. Có thế, hôm nay bần đạo mới lại xông vào vùng đầy thơ để viết thêm đôi giòng, thù tiếp bạn bè dăm ba chuyện. Vu vơ. Luận phiếm. Nào xin phiếm.

Thuở mới yêu thơ, bần đạo đã gặp những câu tương tợ, đầy chất thơ như sau:

“Cố nhân chẳng khoá buồng xuân lại,

Vung vãi ân tình khắp đó đây.

Mưa chiều, nắng sớm người ta bảo

Cả đến ông Trời cũng đổi thay.” (Nguyễn Bính – bđd)

Ở nhà Đạo, bần đệ lại được nghe bảo như thế này:

“Anh em đừng có rập theo đời này,

nhưng hãy cải biến con người anh em

bằng cách đổi mới tâm thần,

hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa:

cái gì là tốt,

cái gì đẹp lòng Chúa,

cái gì hoàn hảo.”

(Rm 12: 2)

Hoặc:

“Anh em đã mặc lấy con người mới,

con người hằng được đổi mới

theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá,

để được thông hiểu”.

(Cl 3: 10)

Một đằng, nhà thơ ở đời cứ bảo ”cả đến ông Trời … cũng đổi thay”. Một đằng, vị “ngôn sứ” nhà Đạo lại khuyên “đổi mới con người … để được thông hiểu”. Thế mới biết, hiểu chuyện “Ông Trời”, chuyện con người cần cải biến, là điều rất nên làm.

Về biến cải/đổi thay, cũng nên để ý mà xem giới trẻ bây giờ nghĩ sao, về chuyện ấy. Giới trẻ giờ này vẫn làm thơ hay viết nhạc? Thơ với nhạc trong tâm tình nhiều ý nghĩ, rất ít lời. Rất chân tình. Thân thương như lời hỏi đáp, nhân một phỏng vấn bỏ túi trên tờ Australian catholics, Sydney số Mùa Đông 2008, ở bên dưới:

Người trẻ nói ở đây, có là con người nói chung hay chỉ là người con, cũng vẫn là những cô cậu rất trẻ người nhưng không non dạ. Làm sao non dạ, khi các người trẻ tuổi ở Úc, đã có những nhận định rất ư là không “non dạ”, vào những ngày trước khi Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008 diễn ra ở Sydney, như sau:

Khi được hỏi:

1. Anh/chị có được kinh nghiệm gì khi về đây tham gia Đại Hội Giới Trẻ, ở Úc?

2. Nếu được phép hỏi Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI một câu, câu đó sẽ như thế nào?

Trả lời đầu, là của cô Caterina Golotta, 27 tuổi ở Alice Springs, Bắc Úc:

1. Hy vọng rằng nhờ thấy và gặp rất nhiều người cùng niềm tin, tôi sẽ thấy sống lại nơi mình niềm linh đạo đã có từ trước, và thấy mình vững chãi hơn nhiều khi bước theo chân Chúa trong yêu thương. Và quyết tâm.

2. Có lẽ tôi sẽ hỏi: Ngài có vui không, thưa Đức Cha?”. Và tôi chắc mình cũng chỉ muốn nói chuyện với ngài như con người bình thường. Nghĩa là, chỉ xem ngài có phản ứng ra sao, thôi.

Còn với Carly McDermott, 23 tuổi ở Melbourne, vùng miệt dưới thì:

1. Lâu nay tôi vẫn có nhiều bạn sống cuộc đời đúng ý nghĩa và vai trò người Công giáo, ở chung quanh. Những người có các hành xử thực sự như người làm chứng cho Đức Kitô. Các linh mục đã khuyến khích tôi rất nhiều, là nên tham gia vào với Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới. Đôi lúc, tôi có ý nghĩ: với tư cách là người còn ít tuổi trong hội thánh, tôi cũng cảm thấy có hơi đơn độc, lẻ loi. Nhiều khi, thấy mình là người còn ít tuổi duy nhất chịu đi lễ nhà thờ. Bởi thế tôi nghĩ là, ta cứ đến với Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, và mở to con mắt ra mà nhìn, hẳn sẽ thấy và sẽ gặp cả nửa triệu con người Công giáo trẻ, ở quanh mình. Và, chắc chắn không còn lẻ loi nữa.

2. Trả lời cho câu hỏi: Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới làm được gì cho đất nước của tôi, à? Thì tôi nghĩ: tôi hy vọng rằng một Đại Hội như thế này sẽ tạo ra nhiều hình ảnh tích cực về Hội thánh. Và, tôi đoán, Đại Hội cũng sẽ cho thấy các chấn động và rung cảm xảy đến với những người trẻ như tôi khi quyết tham gia Đại Hội. Nội việc ấy thôi, cũng đã làm nhiều người thêm trẻ trung ra...

Với Alexandra Ryan, 23 tuổi ở Melbourne, bang Victoria:

1. Đại Hội GTTG 2008 làm được gì cho nước tôi ư? Tôi nghĩ, đây là cơ hội tuyệt vời cho các người trẻ như tôi học hỏi thêm về niềm tin của mình.

2. Điều gì lôi cuốn tôi đến với Đại Hội ấy à?

Tôi nghĩ: Niềm tin của người Công giáo chúng ta đã đem đến cho anh chị em mình nhiều hy vọng. Với thế giới này, chúng mình cần đến sức mạnh để vượt qua nhiều tình huống không dễ. Hội thánh Chúa thực sự là tình yêu; và đối với tôi, điều này rất quan trọng. Dù đó chỉ là nụ cười mỉm hay một lời nói thôi, cũng đủ làm nhẹ và nâng tâm can của nhiều người. Tôi nghĩ, niềm tin là những gì như thế đấy.

Với chàng trai rất trẻ có tên là : Connor Laughton 17 tuổi ở Darwin, miền Bắc Úc, thì:

1. Để trả lời câu thứ nhất: kỳ vọng điều gì sẽ xảy đến đối với bản thân của mình sau kinh nghiệm được tham gia Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Sydney, thì tôi nghĩ: điều mà tôi lo toan nhiều nhất vào lúc này, là: làm sao đi đến Trường Đua Randwick để ngủ ở “khách sạn ngàn sao” có mây trời lãng đãng. Bởi, nơi đó, có đến cả trăm ngàn người còn rất trẻ cũng sẽ cùng đến với nhau, để mừng cho niềm tin của mình, theo tư cách của nhiều lữ khách đang hành trình về với cuộc sống miên trường. Cuộc sống có Vị Cha Chung nơi Thiên Quốc Nước Trời! Đến đây, để thấy và cử hành Tiệc thánh với Đức Giáo Hoàng Biển Đức thứ XVI. Và, đây chính là cơ hội ngàn đời mới có một lần.

2. Hỏi ngài Giáo Hoàng Biển Đức XVI, câu nào ư? Vâng, câu hỏi của tôi sẽ là: “Ngài có muốn bỏ ra nguyên ngày trời để ở với bọn trẻ như con, không? Hỏi xong, tôi cũng sẽ quay về với ngài để có những giờ phút vui tươi. Thoải mái. Vô tư. Và yêu đời.

Và, với Donna McDale, 27 tuổi ở Brisbane, bang Queesland, thì lại khác. Cô phát biểu lẹ:

1. Tôi sẽ kỳ vọng những gì ở nơi Đại Hội Giời trẻ Thế Giới ở Sydney này ư? – Tôi hiện đang dẫn dắt một nhóm bạn trẻ rất đông, sơ sơ có 115 bạn thôi. Phân nửa số người này là từ Đảo quốc Fiji, nửa còn lại là các học sinh còn khá trẻ học ở các trường trung học, mà tôi có dịp hướng dẫn đồng hành, thuộc vùng Sunshine Coast. Tôi hy vọng rằng Đại Hội Giới Trẻ thế Giới lần thứ 23 này ở Sydney, sẽ là một dịp đầy hồng ân chữa lành cho mỗi người trẻ đi hành hương. Cho mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn và quốc gia, họ xuất phát.

2. Nếu được phép hỏi Đức Giáo Hoàng một câu thôi, thì sao hả? Thì có lẽ, tôi sẽ nói như thế này: Cha hãy nguyện cầu thật nhiều cho các giáo xứ Công giáo ở Úc. Bởi tụi con, dường như đang còn phiêu lưu lãng đãng, ở nơi xa, chưa đơm hoa kết trái. Chưa ra ngoài để về với các cộng đồng cần sự sáng tạo, vui tươi và hỗ trợ cho nhau. Con vẫn muốn cộng đoàn chúng con phải được như thế. Nếu được Cha chấp nhận, con còn muốn sao cho mọi người biết khuyến khích nhau mà nguyện cầu để Thánh Thần Chúa đến thả neo ở với mọi người chúng con tại Úc. Và, có như thế Hội thánh mới chữa lành được mọi người.

Và với cô bé còn rất trẻ tên Georgia Huxley, 17 tuổi ở thủ đô Canberra, thì:

1. Tôi kỳ vọng những gì có được từ Đại Hội Giới Trẻ ở Sydney, ư? Thật sự, tôi vẫn mong sao mình củng cố niềm tin của chúng mình. Và, tìm cách tạo được quân bình cho cuộc sống của riêng tôi với những thử thách cũng như âu sầu, khổ não mà mình vẫn gặp mỗi ngày để thực sự cảm nhận được công việc mà Chúa đang hoạt động trong mỗi người. Để rồi, tôi có thể mời Ngài đến làm một thành phần của chính tôi trong cuộc sống, cũng như sẽ giúp hướng dẫn tôi trong tất cả mọi việc tôi đang làm.

2. Còn về câu: những dịp lễ hội như thế này có giúp cho người trẻ như tôi đào sâu được niềm tin của mình thêm vững chắc hay không? thì tôi sẽ trả lời như thế này: Luôn phải có những khẳng định nhất mực là: mình đến với nhau theo phương cách sao đó khả dĩ có thể thăng tiến chính mình, âu cũng là điều xứng đáng thôi. Với lại, có sự thể là, mình sẽ được cơ hội để làm cho mọi người được yêu thương nhau theo cung cách rất riêng, của mỗi người. Những dịp lễ hội như Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới này vẫn là khẳng định rằng: Thiên Chúa yêu thương mình đến độ nào. Và, việc này cũng còn khẳng định các chuyện linh thiêng, tích cực khác nữa. Việc ấy, không chỉ bảo đảm là mọi người đều có phẩm cách xứng hợp mà thôi. Nhưng, niềm tin của ta cũng là điều đáng để ta tin, nữa.

Thiển nghĩ, các bạn trẻ ở trên đang làm thơ và cũng đặt nhạc, đấy chứ. Nhưng, thơ và nhạc của các bạn, còn hay hơn nhiều nhạc bản rất thiếu thơ mà bạn và tôi vẫn nghe ở trong đời; cũng như, nơi nhà Đạo..

Quả trong đời, có những sẻ chia vẫn hay hơn các nhạc bản chẳng có thơ, trong đời. Của người. Thơ và nhạc ấy, có thể chỉ vỏn vẹn tư tưởng văn vắn, như câu truyện ở dưới đây:

“Vị thày giảng nọ còn rất trẻ. Ông mới ra trường được có vài ba năm. Nhưng phong thái giảng giải của ông đã, rất tự tin. Khá thích hợp. Để chứng minh: con người, ở hoàn cảnh nào cũng có giá trị không thay đổi ở nơi mình. Ông hăng hái bắt đầu bài diễn giải có ý tưởng súc tích của Kinh thư bằng những lời hỏi đáp, rất chân tình.

Vào buổi hội thảo về chuyện rất Đạo xảy đến trong cuộc đời, cử toạ hôm ấy đếm được trên trăm vị. Vị nào vị nấy trông khá siêng chăm, nhiều khí thế. Vị thày giảng, rút từ trong túi ra một tờ giấy bạc có trị giá, khá cao. Giơ tờ bạc cho mọi người được trông thấy. Xong, ông bảo:

-Tôi xin phép được tặng riêng một vị ngồi nghe ở đây, tờ giấy bạc có giá trị này. Chỉ một điều kiện nhỏ, là: xin quý vị hãy nhìn kỹ và cho biết, sau khi tôi vo viên tờ giấy bạc này, nó sẽ ra như thế nào? Và, có vị nào vẫn muốn nhận tờ giấy này như quà tặng không?

Nói xong, ông vo viên tờ giấy bạc thành một nhúm giấy mọn. Sau đó, ông cầm tờ giấy đã vò ấy lên, rồi hỏi:

-Bây giờ, nó nhăn nhúm như thế này, có còn vị nào vẫn muốn có nó nữa không?

Tức thì, có nhiều bàn tay giơ lên, chấp nhận. Ông lại cầm nhúm giấy vô tri vô giác xuống đất, dùng chân giày vùi dập và nghiền cho nó nát bấy, rồi cầm lên cho mọi người thấy nó bây giờ chỉ là một vật đầy bụi đất, lấm tấm vô duyên. Và ông hỏi:

-Vậy bây giờ, tấm giấy có hình thù xấu xí như thế này, có vị nào còn muốn nhận nó như thường, không ạ?

Vẫn có nhiều bàn tay giơ lên, chẳng hề thấy bẽn lẽn. Vẫn vô tư. Thấy vậy, thày giảng lại nói:

-Hôm nay, bà con mình học được thêm một bài học này, là: dù ta có làm gì đi nữa, rất hèn hạ, thậm tệ, hoặc mất vệ sinh, đi chăng nữa, thì giá trị của tờ giấybạc này, đâu có hư mất đi đâu, có phải thế không thưa quý vị? Có nhiều lần, ta bắt gặp trong đời mình, có những khoảnh khắc mình thấy cuộc đời chẳng còn gì giá trị nữa. Tức là, cũng vẫn buồn như bao giờ. Và đời người cũng chẳng còn gì là thi vị, để mà sống. Tuy nhiên, như có người từng bảo: nếu ta nhìn đời bằng mầu hồng, thì ta sẽ thấy nó vui. Thi vị. Có giá trị rất lớn. Nếu ta nhìn đời như mầu đen kịt, thì thật ra nó chỉ đen với riêng người ấy, mà thôi. Tự thân, đời vẫn có giá. Vẫn đáng sống, đấy chứ. Bởi vậy, có thể nói: đời con người sẽ có giá trị hay không, là tuỳ cặp mắt và cách nhìn của mỗi người.

Nghe truyện kể về thày giảng còn rất trẻ, bần đạo thấy mình như vừa được nghe một vần thơ, nhạc bản rất nhẹ. Thanh tao. Thú vị.

Trở lại với đầu đề của chuyện phiếm, “Trời mưa ở Huế (đâu) buồn thế”. Mưa trên phố Huế, vẫn thơ mộng. Nhớ nhung có niềm vui nhỏ, đấy chứ? Mưa chỉ buồn, khi người ngồi ngắm mưa có tâm sự chẳng vui, thôi. Chẳng thế mà, thi sĩ nọ vẫn ngâm nga câu thơ, rằng:

“Thà như giọt nước vỡ trên tượng đá,

thà như giọt mưa rớt trên tượng đá.

Có còn hơn không. Có còn hơn không…” (Nguyễn Tất Nhiên – Khúc buồn tình)

Cụm từ “có còn hơn không” vẫn được lặp đi lặp lại nhiều lần, hẳn giống như: có còn cuộc sống! Có còn niềm tin, vẫn hơn là không. Và, vấn đề: cuộc sống ấy, của bạn và của tôi, có hiền hoà? Niềm tin của tôi và của bạn, có vững chãi hay không? Đó là chuyện để ta đem phiếm. Bàn luận.

Và, giờ phút này đây, dù nhà thơ kia có than “trời mưa ở Huế sao buồn thế”, thì bạn và tôi cứ nhất định sẽ nói: mưa Huế có buồn, đời anh đời tôi vẫn cứ vui. Vui, vì cuộc đời vẫn vui như thế ấy. Vẫn đáng sống. Vui đáng sống, vì ta đã nhận ra “cái gì tốt”, “cái gì đẹp lòng Chúa…” Rất hoàn hảo. Rất tươi vui. Như niềm tin mọi người.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn ới gọi bạn bè ở muôn nơi

hãy cứ vui và luôn tin

rằng đời mình vẫn thế.