Tuesday, 7 August 2018

“Tình đẹp tựa mùa thu vàng”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần 19 Thường niên năm B 12-8-2018

“Tình đẹp tựa mùa thu vàng”
Tình mình nhiều mộng ước mênh mang
Tình là một chuyện huy hoàng
Tình là mình thành nhớ hoang mang.”
 (Văn Phụng – Tình)
(Mt 25: 40)

Quả thật, rất như thế. Truyện muôn màu ở đời người, vẫn được gọi là “Tình”. Tình đó “đẹp như mùa Thu vàng”, “nhiều mộng ước mênh mang”, rồi lại là “bài thơ sầu”, nỗi “nhớ hoang mang”, cũng đều thế.

Tình, còn hơn thế, rất đáng nể nhất thứ là khi ta yêu nhau, sẽ lại thấy những điều như:

“Tình đẹp tựa mùa thu vàng
Tình mình nhiều mộng ước mênh mang
Tình là một chuyện huy hoàng
Tình là mình thành nhớ hoang mang
Yêu nhau khi xuân tươi thắm
Yêu nhau trong tiếng ca tiếng đàn
Yêu nhau trong muôn tia nắng
Yêu nhau trong ánh trăng mơ màng
Yêu nhau khi sương thu rơi
Yêu nhau khi hoa lá xanh tươi
Yêu nhau khi mưa đông rơi
Yêu nhau Yêu nhau mãi suốt đời.
(Văn Phụng – bđd)

Quả có thế, nên tác giả mới lại cất thêm những âm-thanh “ú ù u” … những là “u sầu”, như sau:  

Ú . . . ù u
Ú . . . ú ù u
Ú . . . ù u
U . . . ú u ù

Và rồi, tình còn là “chuyện âu sầu”, “nỗi thương đau” và gì gì nữa rất như sau:

Tình là một chuyện âu sầu “
Tình là mình nhiều nỗi thương đau
Tình là một chuyện chia lìa
Tình là mình thổn thức đêm khuya
Tình đẹp tựa mùa thu vàng
Tình là mình lệ ướt rơi tuôn
Tình là một chuyện đau lòng
Tình là mình mỏi mắt chờ mong
Yêu nhau chi cho thương nhớ
Yêu nhau chi khiến đôi mắt mờ
Yêu nhau sao không đi tới
Yêu nhau sao đã quên nhau rồi
Yêu nhau chi cho tan mơ
Yêu nhau chi cho mắt hoen mờ
Yêu nhau chi cho thương đau
Yêu nhau chi cho mãi âu sầu
(Văn Phụng – bđd)

Hát thế xong, người hát lại cứ bảo:
“Đành rằng tình là âu sầu
Đành rằng tình là nhớ là đau
Đành rằng tình là chia lìa
Đành rằng tình là khóc dêm khuya
Đành rằng tình là ..đau buồn
Đành rằng lệ mình ướt rơi tuôn
Đành rằng tình là ..đau lòng
Đành rằng tình là mãi chờ mong
Nhưng sao ta mơ yêu mãi
Nhưng sao ta vẫn thương nhớ hoài
Mơ yêu đương trong tia nắng
Say sưa trong ánh trăng mơ màng
Bâng khuâng khi sương thu rơi
Cô đơn khi hoa lá tơi bời
Lang thang khi mưa rơi rơi
Mơ yêu đương mơ mãi suốt đời......
(Văn Phụng – bđd)

Thế đó, là đời người gồm đủ mọi thứ chuyện, rất muôn màu. Thế đó, còn là con người, có đủ bảy thứ tình-tự không thiếu thứ nào, vẫn trào dâng miên man, suốt muôn kiếp.

Thề còn, tình người đi Đạo thì sao? Vâng. Cũng hơi giống thế. Người đi Đạo, cũng không né tránh vấn đề lỉnh kỉnh mà người viết ở dưới từng phân-trần, như sau:

“Giám mục Terry Brady, Giám mục Phó Địa-phận Sydney có thói quen vẫn giảng rằng: Đức Giêsu đến ở giữa chúng ta qua hình-dạng của người bình thường sống ở huyện, nhưng ta lại không nhìn thấy. Những lời như thế đã khiến tôi mang hy vọng rằng một ngày nào đó tôi lại cũng bước ra khỏi tình-huống gặp gỡ ai đó rồi tự bảo mình rằng: cũng có thể là người tôi vừa giáp mặt, chính là Đức Giêsu mà tôi không rõ.

Và, chuyện ấy xảy ra vào buổi tối Thứ Sáu tuần vừa qua. Số là, tối hôm ấy, tôi đáp tàu lửa tại trạm Town Hall ở Sydney hôm ấy khá trễ để về nhà, nên không phải leo lên leo xuống các bậc tam cấp cũng khá nhiều rồi lại phải chạm mặt người đồng hành trên toa xe chật ních những người là người.

Tàu vừa đỗ, ở trạm tiếp, đã thấy hai người đàn ông nọ cùng bước lên toa một lượt. Một người ăn mặc khá chỉnh cũng nguyên bộ “côm-lê” lại cũng không thiếu chiếc cà-vạt thắt gọn gàng quanh cổ. Còn, người kia thì không, chỉ loàng xoàng mang giày bố vẽ vời đôi ba nét áo quần nhăn nheo, lếch thếch râu tóc bờm xờm ít khi cạo da dẻ nhem nhuốc khiến tôi có cảm giác anh ta là người ngủ đường ngủ chợ, bất cần đời.

Xem ra, cả hai người đàn ông này không quen biết nhau bao giời, chỉ tình cờ bước lên xe cùng một lúc mà thôi. Thế nhưng, sự việc đập vào mắt tôi nhiều nhất là chuyện: ngay lúc ấy, người đàn ông ăn mặc bảnh bao tự dưng cất tiếng nói với chàng trai cẩu thả trong lối ăn mặc bằng những câu buông thõng chửi đổng vào giữa tối những câu như:
-Đúng là lũ chim chóc như đồ chết bẹp, chẳng được tích sự gì, chỉ dùng làm thức ăn cho loài khác, mỗi thế thôi!

Người ăn mặc bê bối nghe thế bèn nhìn bâng quơ lên trần rồi lên tiếng trả lời:
-Chúng đâu chỉ là thức ăn cho loài khác đâu, xin lỗi bạn. Thật sự thì, chim chóc cũng là thọ tạo do Đức Chúa Trời tạo dựng, nên đáng lẽ ra ai cũng nên kính trọng chúng mới phải. Hệt như hôm trước, Đức Giáo Hoàng từng khuyên răn mọi người hãy chăm sóc mọi tạo vật, chứ không phải mỗi mình mình, đây thôi!

Quan sát lúc ấy, tôi đây bèn nghĩ ngay đến tông thư của Đức Phanxicô khi ngài nói về việc ta phải biết quan-tâm đến môi-trường sống mới được. Và nay, thì chính một người xuề xoa, lạ hoắc lại dám nói lên điều đó với người đàn ông ăn mặc chỉnh-tề, thế mới lạ.

Mẩu đối-thoại giữa hai người lạ mặt kia về môi-trường sống, lại cứ thế tiếp tục. Qua câu chuyện, tôi biết được là người đàn ông xuề xòa kia là người chuyên lục thùng rác quanh trạm trung-ương mong tìm được mấy gói khoai tây của nhà hàng Mac Donald’s hoặc các ly côca cạn nước chỉ còn mỗi đã cục cũng nâng lên miệng uống ừng ực, cho đỡ khát. Đến lúc ấy, người ăn vận chỉnh-tề quyết đối đầu với anh chàng bê tha kia chê trách anh ta chỉ là đám vô công rỗi nghề, lục thùng rác kiếm thức ăn mà thôi.

Xem ra thì, người bê tha nọ cũng thu thập đồ thừa thiên hạ bỏ đem cho chim trời ăn, việc này khiến người ăn mặc lịch-sự thấy ghê tởm khi thấy có kẻ lại tự hạ mình xuống hàng rác rưởi để lục tìm thức ăn cho chim muông, loài thú vô bổ. Câu chuyện đốp chát giữa hai người lạ mặt cứ thế tiếp tục. Người, thì lo lắng chăm sóc môi-trường, nuôi nấng loài vật bé nhỏ, nhưng vẫn tôn-trọng hết mọi loài, kể cả người lạ mặt ăn mặc bảnh bao, nhưng vô tích sự…

Câu chuyện giữa hai người chỉ có thế. Đến trạm phải xuống, tôi bèn đến bắt tay người lạ mặt thật chặt như để biết ơn những cử-chỉ đẹp của anh ta. Trên đường về, tôi cứ tự nhủ lòng mình mà bảo: Đức Giêsu chỉ đến với ta như một người lạ, như tôi vừa gặp Ngài qua cách xử sự của người lạ mặt tôi chẳng hề quen, trên chuyến tàu đêm hôm ấy… Hành-xử của anh còn cho tôi thêm một ý-tưởng nữa là: Đức Giêsu đã chứng tỏ cho mọi người chúng ta thấy bí mật bên dưới câu chuyện đối-đáp giữa hai người lạ, để ta hiểu là: đừng bao giờ lên án/xét đoán bất cứ một ai qua hình thù bên ngoài của mỗi người.

Ngài còn dạy ta rằng mỗi người và mọi người –cả những kẻ vô gia cư, ăn không ngồi rồi, hoặc những người chỉ biết đến thể thao, hoặc kẻ ăn sung mặc sướng ngoài phố chợ, vẫn có được thứ phẩm-giá con người khiến ta phải trân trọng họ, vào mọi lúc.”  (X. Monica Doumit, “How I met Jesus on the train on a Friday night”, The Catholic Weekly 28/6/2015, tr.29)

Trong đời người, lại có rất nhiều truyện kể để ta có thể minh-họa và nhớ mãi như câu chuyện để đời, hầu suy-tư. Truyện kể ấy, hôm nay nôm na mỗi thế này:

“Trời sập tối đã lâu. Đồng hồ chỉ 9 rưỡi đêm khi tôi bước xuống xe buýt.

Một tài xế xích lô còn nhớ mặt tôi hỏi có muốn đợi ghép thêm một khách nữa hay không. Nếu đi một mình, tôi sẽ phải trả 8 kyat, còn nếu ghép chỗ thì tôi chỉ phải trả 5 kyat. Tiền vé xe buýt và xích lô một ngày cũng chẳng phải là rẻ. Vì vậy, chẳng có lý gì để từ chối.
“Lái tiếp theo chuẩn bị nhé”, người tài xế gọi to.
Một cậu thanh niên đẩy xe ra.

“Chú cứ ngồi lên đây mà đợi cũng được”, cậu ta nói rồi quay ra đường rao: “Xích lô đê, cần một khách nữa, thêm một khách nữa!”
Tài xế là một thanh niên còn rất trẻ, dáng người mảnh khảnh, trạc tuổi con trai tôi, có lẽ vẫn còn đi học phổ thông. Trông cậu ta không được khỏe như con trai tôi. Chiếc áo sơ mi trên người đã sờn; vài đường chỉ ở ống tay đã hơi bai. Nhưng trông cậu ta không có vẻ gì là con nhà nghèo, không giống những người từng trải cuộc sống khó khăn.

Tôi băn khoăn vậy thì tại sao bây giờ cậu ta lại phải đi đạp xích lô? Nhà cậu ta vừa mới gặp vận đen? Bố cậu ta vừa mất việc? Hay có lẽ vừa mới mất? Còn mẹ cậu ta thì sao? Gia đình cậu ta có bao nhiêu người, cậu ta có phải là con cả hay không? Tội nghiệp, liệu cậu ta có phải nuôi cả gia đình không nhỉ?

Cứ miên man như vậy, tôi lại nghĩ tới con trai mình. Lòng trắc ẩn nhói lên trong tim. Nếu đó là con trai tôi thì sao… Nếu tôi có làm sao thì chuyện gì sẽ tới với con trai tôi? Nhìn cậu ta mà xem, còn quá trẻ và chẳng mấy khỏe mạnh để đạp xích lô. Mẹ cậu ấy có chịu nổi điều này hay không?
Tôi bắt đầu cảm thấy tội lỗi vì chút nữa sẽ ngồi trên xích lô cậu ta chở. Cậu ta sẽ phải mất nhiều sức để chở cái thân hình tương đối nặng nề của tôi. Thêm sức nặng của vị khách đồng hành sẽ ghép của tôi nữa thì chắc hẳn cậu ta khó có thể chở được, đặc biệt là ở đoạn dốc dưới kia.
Cậu thanh niên vẫn đang mời gọi thêm hành khách đi cùng, nhưng giọng cậu ta nghe đều đều và không đủ lớn.
Tôi bảo: “Đi thôi. Tôi đi một mình cũng được”.
Cậu thanh niên quay nhìn tôi rồi quả quyết đẩy chiếc xích lô xuống đường, chậm rãi đạp. Có vẻ như cậu ta khá quen với công việc này.
Cũng không tồi, tôi nghĩ. Trông cậu thanh niên chín chắn hơn so với tuổi. Tốt. Tôi thích những người sẵn sàng đối mặt với bất cứ điều sẽ xảy ra. Bỗng nhiên tôi muốn tìm hiểu nhiều hơn về cậu thanh niên này.
“Cháu làm việc này lâu chưa?”
“Được khoảng một năm rồi ạ”.
“Ta chưa từng gặp cháu trước đây… À, mà không phải ngày nào ta cũng đi xích lô, chỉ khi nào quá muộn thôi”.
Cậu thanh niên đạp nhanh hơn để lấy đà vượt qua quãng dốc trên đường.
Có vẻ như chiếc xích lô luôn được bảo dưỡng tốt. Cũng có lúc tôi gọi phải chiếc xích lô không còn mới. Cậu thanh niên này chắc hẳn là người tốt. Cậu không chỉ nuôi cả gia đình mà còn giữ xe rất tốt. Tôi tò mò không hiểu chiếc xích lô này là của cậu hay cậu đi thuê.
Tôi hỏi, trong lòng vẫn mong sao nó là của cậu: “Chiếc xích lô này của cháu à?”
Cậu thanh niên nhìn tôi trả lời ngắn gọn: “Vâng”. Có lẽ cậu cho rằng tôi hơi tò mò.
Tôi bỗng thấy càng thương cảm cho cậu thanh niên. Không hiểu cậu còn tiếp tục được đi học hay không và liệu cậu còn có thể học được sau khi phải làm công việc nặng nhọc thế này hay không…
Tôi hỏi: “Cháu còn đi học chứ? Lớp mấy rồi?”
“Năm nay cháu vào đại học”.
“Thật sao! Có được điểm giỏi nào không?”
“Cháu được 4 điểm giỏi”.
“Thật đáng ngạc nhiên! Đạp xích lô mà vẫn có thể có được điểm số như vậy. Nhiều học sinh cùng lứa khác thậm chí thi còn không qua, trong khi chúng có đủ điều kiện để đi học thêm tất cả các môn. Đúng là không ai có thể mua được chất xám, phải không nào? Trông cháu quả thật rất thông minh”.

Cậu thanh niên cười lớn: “Cháu không đi học thêm các môn, chú ạ. Cháu cũng chỉ đạp xích lô khi thiếu người thôi, cũng là để tập thể dục. Cháu không thích thể thao, vì thế đây cũng là cách cháu giữ gìn sức khỏe”.
“Vậy là đây là xích lô của bố mẹ cháu?”
Cậu thanh niên đạp chậm lại. Có lẽ cậu thấy cần phải giải thích một chút.
“Chiếc xích lô này là của cháu, chú ạ. Cháu có 4 chiếc cho mọi người thuê. Lúc có người ốm hay bận việc thì cháu đạp thay. Như vậy, cháu có thể hiểu rõ hơn về người thuê xe của mình. Cháu cũng được gặp nhiều người khi đi đạp xích lô; đó cũng là điều tốt.
Giờ thì tôi lại thấy mình có chút xuẩn ngốc vì đã dành chút thương cảm ban nãy cho cậu thanh niên. Tôi ngẩng lên nhìn cậu thanh niên; trông cậu ta có vẻ quen quen. Không hiểu tôi đã gặp ở đâu đó rồi.
Tôi hỏi: “Mà này, cháu đang ở đâu nhỉ?”
Cậu ta mỉm cười: “Cháu ở Cửa hàng Goodwill (Thiện chí), gần chợ lớn đó”.
Ngay lập tức tôi hiểu ra tình huống của mình. Cửa hàng Goodwill bao gồm một dãy cửa hàng sở hữu bởi một gia đình, bao gồm một nhà hàng, một siêu thị mi-ni, một cửa hàng bán salad lá trà và đồ ăn vặt, một cửa hàng cho thuê băng đĩa hình và một quán photocopy. Tôi đã mắc một sai lầm lớn khi nhận định về cậu thanh niên, nhưng tôi tiếp tục điềm tĩnh hỏi cậu thanh niên.

“Cháu có bao nhiêu anh chị em?”
“Năm người tất cả. Cháu là con út. Anh cả cháu quản lý nhà hàng cùng bố mẹ. Đó là công việc kinh doanh chính và đầu tiên của gia đình. Các cửa hàng khác sau đó được gây dựng sau khi chúng cháu đã lớn. Siêu thị mi-ni hiện do chị gái lớn quản lý; anh giữa quản lý cửa hàng cho thuê băng, đĩa hình; cửa hàng salad lá trà thì do chị gái còn lại của cháu điều hành; còn cháu thì đang quản lý của hàng photocopy. Nhưng cháu có mấy chiếc xích lô này từ lúc cháu còn nhỏ”.

“Từ lúc còn nhỏ? Giờ thì không nhỏ sao?”
Cậu thanh niên cười: “Đúng thế chú ạ. Lên mười tuổi cháu đã bắt đầu đầu tư và có được chiếc xích lô đầu tiên”.

Câu trả lời của cậu thanh niên như một cú thụi vào giữa ngực tôi.
Tôi là một tác giả đã từng nhiều năm viết về kinh tế và giáo dục, rao giảng rằng phải làm việc cần cù, hướng về phía trước, và giảng giải cả các chiếc thuật kinh doanh nữa. Tôi đã viết hàng trăm bài báo, một vài trong số đó dựa trên tài liệu từ các tạp chí nước ngoài. Tôi muốn thế hệ trẻ học hỏi từ những điều tôi viết đó. Giờ thì với cậu trai trẻ này, tôi đã gặp trận đấu của mình. Cảm giác thật là bẽ bàng, cứ như thể cậu ta đang cười thầm vào mũi tôi vậy.

“Dừng ở đây thôi. Tới nơi rồi!”
Tôi lần túi lấy tờ 10 kyat đưa cho cậu thanh niên, bảo: “Của cậu đây, tôi chỉ có tờ 10 kyat, không phải trả lại đâu”.
“Không, chờ đã chú”. Cậu thanh niên rút ngay 2 kyat trong túi ra trả.

Cậu nhìn tôi một chốc, bảo: “Mong chú đừng phật ý. Chú có vẻ để tâm nhiều đến cháu nên cháu thấy mình phải giải thích thêm một chút. Chú thấy đấy, ở cửa hàng photocopy hay khi đạp xích lô, cháu đều chỉ lấy đúng phần tiền của mình. Cháu không bao giờ lấy hơn dù là vô tình hay chủ ý. Cháu không bao giờ nhận tiền boa. Cháu cũng không bao giờ đưa người khác nhiều hơn số tiền phải đưa. Chú thấy đấy, ngạn ngữ có câu ‘Hãy chăm chút cho từng đồng kyat, rồi hàng chục nghìn kyat sẽ chăm chút lại bạn’. Đó là phương châm sống của cháu”.

Vậy đấy, cậu thanh niên đã dạy cho tôi một bài học một cách rất nhẹ nhàng và hết sức lễ độ.
“Thôi được, tôi đồng ý. Cậu rất thông minh. Giờ cậu về nhà luôn chứ?”
“Chưa chú ạ! Vẫn còn kịp chạy thêm chuyến nữa. Tranh thủ bất cứ lúc nào còn có thể được chứ chú. Cháu đi đây”.

Ồ được thôi, lũ nhóc ạ, giờ thì cứ đi đi; đi đạp xích lô, mở nhà băng, kinh doanh gì đó, lên kế hoạch và tranh thủ khi nào còn có thể; hãy làm giàu và thành công, hãy chiếm lấy tất cả những gì chúng ta có thể.

Tôi bước vào nhà, đầu còn miên man suy nghĩ. Tôi tự hỏi có nên đánh thức thằng con trai đang gà gật trên mấy trang sách và bảo nó hãy ra ngoài mà đạp xích lô hay không? Tôi có nên bảo vợ mình đừng làm nội trợ nữa mà hãy mở một cửa hàng mì hay quán trà hay không? Phải làm điều gì đó chứ.

Nhưng rồi tôi nghĩ lại… Liệu như thế có nguy hiểm quá cho tôi không? Tôi có thể tưởng tượng ra được vợ mình sẽ hét lên thế nào với tôi, rằng từ nay đừng có mà về nhà trong bộ dạng quá chén nữa… Thế là tôi phanh ngay cái ý nghĩ đó lại như cái cách người ta phanh một chiếc xích lô, lặng lẽ bước vào nhà như thể chưa từng gặp bất cứ câu chuyện tuyệt vời nào như ban nãy vậy.” (Trích truyện Truyện ngắn của Pe Myint (Myanmar))

Là người đi Đạo sống giữa đời, hẳn bạn cũng như tôi, khi nghe kể về sự việc như thế, ắt sẽ liên tưởng đến câu nói của bậc thánh-hiền qua Lời Vàng sau đây:

Ta bảo thật các ngươi:
mỗi lần các ngươi làm như thế
cho một trong những anh em bé nhỏ nhất
của Ta đây,
là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy."
(Mt 25: 40)

Chắc hẳn rằng, mỗi người và mọi người ở đây đó, khi nghe những lời kể trên sẽ phải âm thầm bước vào phòng riêng, đóng cửa lại rồi suy-nghĩ? Chắc hẳn rằng, người viết cũng như người đọc, lại sẽ lấy đó như câu chuyện làm quà cho bọn trẻ, ít theo dõi kinh kệ, hoặc sách vở.

Hiển nhiên rằng, những điều như thế từng khiến bạn và tôi, ta suy nghĩ lung lắm, suốt nhiều ngày, ở đời mình.

Trần Ngọc Mười Hai
lại cũng nhớ
các trường-hợp nêu trên
vẫn rất nhiều
trong đời mình.  

Wednesday, 1 August 2018

“Rộn ràng một nỗi đau”


Chuyện Phiếm đọc trong tuần 18 Thường niên năm B 05/8/2018

“Rộn ràng một nỗi đau”
Nghẹn ngào một nỗi vui
Dịu dàng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – Nếu Có Yêu Tôi)

(2Thessalônikê 1: 4-6)

Nỗi đau rộn ràng ư? Đã đau rồi, thì bao giờ mà chẳng rộn-ràng. Rộn và ràng, theo nghĩa “khẩn trương” thân thương thật gấp rút. Nếu không, chắc sẽ không còn đủ thì giờ mà hát với xướng, những câu sau đây:

“Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi
Ôi buồn làm sao nói lời tạ ơn. 

Nếu có bao dung thì hãy bao dung bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa đời
Đừng đợi ngày mai biết đâu tôi nằm im hơi
Tôi chẳng làm sao tạ lỗi cùng người.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Và cứ thế, người nghệ sĩ lại cứ ca hoài/ca mãi một câu hát được trích-dẫn rất nhiều lần, như sau:

“Có nhớ thương tôi thì đến với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai lúc mắt tôi khép lại
Đừng đợi ngày mai có khi tôi đành xuôi tay
Trôi dạt về đâu chốn nào tựa nương.

Và:

“Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời
Đừng đợi ngày mai có khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao mà biết mỉm cười. 

Rộn ràng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui
Dịu dàng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui.”
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Nỗi đau và niềm vui đây, có giống câu truyện kể ở bên dưới không?

“Truyện rằng:
Cậu bé 8 tuổi lần đầu tiên bước vào lớp ngày tựu trường.
Cô giáo hỏi:
-Này, em tên gì thế? 
-Em tên Mohamed. 
Cô giáo bèn nói tiếp:
-Em đang ở Mỹ, từ nay mọi người sẽ gọi em là Mike nha. 

Tan trường cậu bé trở về nhà. Mẹ cậu bèn hỏi:
"Ngày đầu đi học ra sao, Mohamed?" 
Cậu bé nói:
-Con đang sống ở Mỹ, từ nay tên con sẽ là Mike. 
-Mày xấu hổ vì cái tên Mohamed hả? Mày muốn làm nhục cha mẹ, tổ tiên, truyền thống, và tôn giáo mày hả? Rồi bà mẹ đánh cậu bé một chập. 

Lúc chồng về tới nhà, bà ta kể lại. Thế là ông cha lôi thằng bé ra đánh thêm chập nữa. 
Hôm sau tới trường, thấy mình mẫy cậu bé bị bầm dập, cô giáo hỏi,
-Em bị gì vậy Mike?" 
Mike trả lời:
-Liền sau khi vừa trở thành người Mỹ, em bị 2 đứa khủng bố Hồi giáo chúng tấn công em!

“Bị Hồi-giáo tấn công”, không sợ bằng bậc thày nọ có quan-niệm lạ về Cuộc sống, Giáo huấn và Sự việc liên quan đến Cách mạng Tôn giáo” như đã viết, rằng:   

“Từ hồi nhỏ, tôi vẫn hát những ca khúc kể về cuộc đời Đức Giêsu đã thuyết phục tôi suốt nhiều năm trường cho tới khi khôn lớn tôi vẫn nhận ra rằng đời mình còn có vấn-đề quan-trọng không kém, đó là: làm sao kể truyện Ngài đây?

Quả thật, có nhiều cách kể về đời Đức Giêsu, nhưng kể cách nào, đó mới là vấn-đề. Và, vấn-đề này luôn mang tính nghiêm-chỉnh rất khó lường…

Ở thế kỷ thứ tư và thứ năm, ngôn ngữ nhà Đạo luôn luôn kể rằng Đức Giêsu là “Ngôi Thứ Hai” trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời và Ngài luôn trở nên Một với Thiên-Chúa Cha”. Với người theo Đạo Chúa, thì: mặc-khải lớn về Thiên-Chúa là Đấng có xương thịt, mà ta vẫn gọi bằng cụm-từ “Con Thiên Chúa”, qua đó sự việc Ngôi Lời đã mặc tính xác thịt ôm trọn những gì mọi người nghĩ về Thiên-Chúa trong cuộc sống của con người, như Ánh Sáng chiếu rọi nhân-trần, Ngài tỏa sáng trên ta về bản-chất và ý-định của Thiên Chúa và đường lối để ta sống.

Đã đành là, người Đạo Chúa vẫn cho rằng Kinh thánh luôn mặc-khải về Thiên-Chúa như Lời của Ngài”. Quả thật, thần-học chính-thống của Đạo Chúa từ ngàn xưa, vẫn khẳng-định rằng sự việc mặc khải Thiên-Chúa đầy tính quyết-định chính là Đức Giêsu bằng xương bằng thịt.

Và, Kinh thánh chính là “Lời” trở thành “lời lẽ”, thế nên mặc-khải về Chúa bằng “lời lẽ” của con người.

Thành thử, Đức Giêsu chính là “Lời” trở thành xác phàm, thế nên mặc-khải về Chúa đã thành hiện-thực trong cuộc sống của con người. Thành thử ra, Đức Giêsu mang mặc đặc-tính đầy xác-quyết hơn cả Thánh Kinh…” (X. Marcus J. Borg, Jesus: Uncovering the Life, Teachings and Relevance of a Religious Revolutionary, HarperOne 1989, tr. 5-7)

Niềm vui và nỗi đau ở đời người, còn được diễn tả trong truyện kể của người mình, cũng huê-dạng như sau:

“Hà Nội là cả một thế giới bí mật, nó luôn luôn giấu những bất ngờ nho nhỏ ở một chỗ ta không hình dung ra được. Một may mắn tình cờ nào đó ta tìm thấy cái bí mật đó ngay trước mặt ta, ta bàng hoàng như được ai mời một chén rượu quý. Cái ngọt của rượu cứ vương mãi ở cổ như một bài thơ chưa đọc đến câu cuối cùng. Câu thơ đó có thể ở lại với ta suốt một đời người.

Một buổi chiều, tôi lang thang trên đường phố Hà Nội, đi một mình trong khi chờ đợi chồng con (được một ngày mẹ cho) đang phân tán trong phố cổ trở về đi ăn tối. Vừa đi vừa ngắm nghía hai bên: Phố, người, xe tấp nập buổi tan tầm, chạy đâm vào nhau, như những con rối trong tuồng múa nước. Cái cảnh này trên thế giới chỉ có ở những nơi đất hẹp người đông. Hà Nội, Sài Gòn Việt Nam là hai nơi điển hình đáng kể nhất. Chen giữa bước chân đi là những hàng ăn, hàng uống bầy cả ra hai bên phố. Ngay trước những cửa hiệu hàng hóa, ai muốn bán thì cứ bầy ra bán.

Ở một con ngõ vào xóm người ta cũng có thể chăng một tấm bạt từ vách tường của nhà bên phải sang vách tường của nhà bên trái ở ngay đầu ngõ làm thành một quán cà phê hay một quán bán chè, bán cháo.

Ai may mắn có được cái mặt tiền độ ba thước vuông là thành một cửa hiệu khang trang lắm rồi, còn không thì cứ bầy ngay ra trên lối đi, trên một nắp miệng cống cũng để vừa một gánh hàng rong. Khách hàng xúm xít ngồi xuống ăn uống rất là tự nhiên, giản dị, thưởng thức món ăn thật hạnh phúc, chẳng kém gì những người khách ở trong một nhà hàng sang trọng thưởng thức món ăn của mình.

Tôi hòa mình vào trong cái dòng sinh mệnh đông đảo đó. Lang thang mãi, mỏi chân và khát nước, thấy thèm một ly trà quá. Thật may, một cái quán bán nước trà, kẹo lạc (đậu phọng) đơn sơ ngay góc đường Tôn Đức Thắng và Đoàn thị Điểm. Quán không có bảng hiệu, vài cái bàn thấp và ghế đẩu, nhưng gần như mọi người đã ngồi hết, tôi đứng loay hoay một vài giây, có người giúi cho vào tay chiếc ghế đẩu, mà chẳng nói một câu gì.

Tôi vội cám ơn và nhận được một nụ cười. Ngồi xuống, chưa kịp gọi thì chủ quán, một người đàn bà trẻ khoảng ngoài ba mươi đã đem đến trước mặt tôi một ly nước trà, và cái đĩa nhỏ có mấy chiếc kẹo. Chị không nói câu nào, đặt ly nước trà bốc khói, thơm ngát xuống ngay một góc bàn đã có bốn người ngồi trước mặt tôi với một nụ cười, tôi cũng cười lại đáp lễ, cúi xuống nhìn vào ly nước một giây, rồi uống một ngụm nhỏ. Nước trà vừa chát, vừa ngọt, vừa thơm, đúng là trà mộc Thái Nguyên. Uống ngụm nước mà như uống một nụ cười. Hình như những người ở trong quán này ai cũng hào phóng nụ cười.

Nước trà làm tôi tỉnh hẳn người, lúc đó tôi mới để ý nhìn chung quanh. Quán trà nhỏ xíu nhưng rất ấm cúng và giản dị. Chị chủ quán đang loay hoay với những chiếc ấm, những hộp, những gói trà và những chiếc ly thủy tinh. Ánh lửa ở chiếc lò ga hắt lấp lóe một bên má chị, nhìn thấy cả đuôi lông mày của con mắt bên đó kéo dài một nét thanh thanh, cái bóng nhỏ bé của chị hắt một vệt rất mờ trên vách.

Cả quán có ba chiếc bàn vuông và một chiếc bàn dài, bàn vuông thì ngồi được hai người, bàn dài thì được bốn người. Vì quán rất hẹp, nên kê gần nhau lắm. Bàn nào hình như cũng chen thêm ghế, và khách ngồi sát vai nhau rất là thân mật. Họ chụm đầu vào nhau, trò chuyện, nhai kẹo lạc ròn thành tiếng, khói trà nghi ngút bốc lên ngang mặt mọi người, nhưng sau làn khói mỏng manh đó những con mắt vẫn ánh lên khi họ nhìn nhau trò chuyện. Thỉnh thoảng họ lại giơ tay đập vào vai nhau rất thân thiện.

Quán trà bình dân này không có tiếng hát, tiếng nhạc vỡ ra từ máy phát thanh hay truyền hình như ở các nơi khác, nên không khí rất êm ả. Khách nói chuyện với nhau rất khẽ, khẽ đến nỗi không nghe được tiếng, chỉ thấy những bàn tay xòe ra, nắm vào, những ngón tay chỉ vào ngực mình, hay chỉ vào mũi người khác thi nhau múa lên. Nếu họ nói to thì chắc là quán đang ồn lắm.

Mặc cho tiếng ồn ào của những chiếc xe gắn máy, tiếng còi xe bóp inh ỏi, tiếng người gọi nhau ơi ới, tiếng rao hàng và đôi khi chen vào cả tiếng cãi cọ trước cửa quán, những người vào đây uống trà họ giữ được không khí rất là thinh lặng, nói rất khẽ và cười rất nhẹ. Chị chủ quán luôn luôn biết ý khách hàng, không đợi gọi, kẹo chưa hết đã mang ra, trà lúc nào cũng được rót đầy ly đem tới, chị thong thả chuyên nước sôi từ ấm sang bình, tiếng nước sôi trên bếp cũng nhẹ nhàng như tiếng guốc chị di chuyển, hình như tôi nghe được cả tiếng thở của chị.

Tôi uống đến ly trà thứ hai và ăn gần hết chiếc kẹo, tỉnh hẳn người, lúc đó mới quan sát kỹ đến những người khách chung quanh mình. Họ phần đông còn trẻ, người già nhất chắc chỉ khoảng bốn mươi, họ đang nói chuyện với nhau bằng những bàn tay, múa khoa lên trong quán. Cách nói chuyện của họ làm tôi liên tưởng đến một lớp “Sign Language” ở College tôi đã theo học cách đây mấy năm.

Câu đầu tiên chúng tôi học là lấy ngón tay chỉ vào giữa ngực mình, xong xòe bàn tay ra áp vào bên trái ngực, rồi chỉ ngón tay vào người đối điện. Như thế có nghĩa là I love you.Tôi đã học hết khóa vỡ lòng và có thể nói chuyện vài ba câu thông thường với người câm, điếc. Bẵng đi một thời gian không học tiếp theo, bây giờ khó mà nhớ lại được hết những điều mình học.

Chị chủ quán đến gần tôi với một mảnh giấy, đưa cho tôi đọc. “Đây là quán Trà của người câm và điếc, bà cần gì thêm xin viết xuống đây.” Tôi ngẩn người ra nhìn chị, chị nhìn lại tôi cũng vẫn với nụ cười. Tôi viết lên tờ giấy của chị vừa đem đến, hỏi chị mở quán này bao lâu? Thì chị cho biết là mới hai năm, sau khi vừa lập gia đình, anh cũng là người dùng ngôn ngữ thinh lặng như chị.

Chúng tôi tiếp tục bút đàm với nhau, chị nói khi mới mở quán trà, muốn bán cho tất cả mọi người, nhưng khách nói được đến uống trà thấy cứ phải bút đàm với chủ quán mất nhiều thời giờ quá và khách không nói được thì cứ giơ tay chỉ chỏ vào họ, nên họ bỏ đi. Dần dần những người câm, điếc rủ nhau đến đây uống trà, coi như quán này mở ra chỉ để dành riêng cho họ, những người đối thoại thinh lặng.

Tôi ngồi im trong bóng chiều chập choạng, một vài cửa tiệm đã lên đèn, chị chủ quán cũng bật lên một ngọn đèn điện ở một góc quán, ngọn đèn không được sáng lắm, nhưng cũng soi rõ những bàn tay đưa ra, những ngón tay chỏ vào nhau, tôi ngắm nhìn những bàn tay đó cố vận dụng vốn liếng ít ỏi đã học được của mình, dần dần tôi hiểu họ đang nói với nhau về việc làm, giá sinh hoạt, có người có con vừa ở bệnh viện ra, có người vừa thất nghiệp. Tôi dở quá nên nghe được mà không nói được. Nếu tôi còn nhớ để nói chuyện được với họ thì hay biết bao!

Nếu ai đã từng được thưởng thức tuồng Nô của người Nhật, là một loại tuồng các diễn viên sơn mặt trắng toát giống nhau, khi diễn kịch họ không nói tiếng nào, chỉ diễn tả bằng cách khoa tay múa chân, người xem phải đoán được cảm xúc của họ qua những cử chỉ đó, thì thấy những người đang uống trà trong quán này giống như họ vậy, có khác một điều những người này không phải kịch sĩ, họ không quét sơn trắng lên mặt, nên ta đọc được cảm xúc trên từng cái cau lông mày, cái cười mệt mỏi nửa miệng, hay nụ cười nở tung ra như một đóa hoa.

Tôi phải nhờ chị chủ quán thông ngôn, cái ngôn ngữ thinh lặng này. Tôi viết xuống giấy câu hỏi, rồi chị chủ quán dùng tay nói lại với họ. Chị cho biết phần đông những người này không biết đọc, biết viết. Nếu tôi muốn nói chuyện với họ, phải nói thật to, không được dùng tay che miệng, họ sẽ nhìn miệng tôi mà đoán tôi đang nói câu gì.

Có người rút ở trong túi ra một tờ giấy, có bọc plastic với một dòng chữ in sẵn: Tôi vừa câm vừa điếc. Không biết chữ. Xin nói to và đừng che miệng. Tôi nhìn tờ giấy được giữ gìn cẩn trọng như một tờ căn cước mà trong lòng rưng rưng, thấy nghèn nghẹn ở cuống họng, vội cúi xuống uống ngay một ngụm trà.

Tôi ngồi chuyện trò với họ bằng sự trợ giúp của chị chủ quán, chúng tôi nói với nhau về những đời thường. Chuyện gia đình, chuyện học của con, chuyện việc làm của cha mẹ. Họ hỏi tôi về cái đất nước xa xăm tôi sống, ở đó những người câm, điếc được giúp đỡ thế nào?

Chúng tôi hỏi nhau cả về chuyện uống trà. Câu chuyện càng lúc càng thân thiện cởi mở, họ nói năng tự nhiên, ước mơ giản dị, chỉ mong kiếm đủ ngày hai bữa, có chút tiền nhỏ phòng khi con cái ốm đau, đủ tiền đóng học phí cho con mỗi khóa học.

Những buổi chiều tan việc, họ bỏ lại tất cả nhọc nhằn khuân vác trên bến dưới thuyền ở những bãi sông; những túi xi măng, những viên gạch, tảng đá ở nơi xây cất; cái cuốc cái xẻng ở một con đường đang đào, đắp nào đó, ghé uống mấy ly nước trà và gặp những người cùng chung ngôn ngữ với họ, ngôn ngữ thinh lặng trong quán trà thinh lặng này.

Tôi ngắm nhìn họ cầm ly uống trà rất là bình dân, sảng khoái, hình dung ra ở một nơi uống trà khác của những người được gọi là thanh lịch. Những quán trà dành cho tao nhân mặc khách có những nghi thức cầu kỳ gọi là Trà Đạo. Khi cho trà vào ấm thì gọi là Ngọc Diệp hồi cung. Khi tráng trà thì gọi là Cao Sơn trường thủy (rót nước 60 độ, cao cách trà 20-30 phân). Khi pha trà thì gọi Hạ Sơn nhập thủy (rót sát miệng ấm, nước sôi đủ 100 độ). Khi nhấc chén trà lên thì mấy ngón tay cũng được thăng hoa gọi là ba con rồng Tam Long giá ngọc, trước khi uống ngụm trà đó phải từ tốn đưa lên mũi từ trái sang phải thưởng thức mùi thơm của trà gọi là Du Sơn lâm thủy.*

Chao ôi là nghi lễ, thật cầu kỳ.

Những người uống trà trong quán trà Thinh Lặng này họ giản dị lắm, trà do chị chủ quán pha một bình lớn, rót ra sẵn trước mặt, họ cầm lấy chén trà, nhìn nhau bằng những ánh mắt thân mật, ngửa cổ lên uống một hơi đầy, uống theo cả mệt nhọc của một ngày lao động vất vả vào lồng ngực. Họ chỉ vào ngực mình, ngực bạn, nói lòng quý mến nhau. Những tiếng động bên ngoài đường của xe cộ, của âm thanh ầm ĩ, họ bỏ cả ngoài tai. Trong những lồng ngực đơn sơ đó cái âm thanh tĩnh lặng kéo dài theo nhịp đập êm ả của trái tim.

Tôi chào họ ra về, mang theo quán trà Thinh Lặng trong trái tim nhiều tiếng động đời thường của mình, nước mắt bỗng ứa ra.

Chao ôi, là quê hương yêu dấu! Mỗi chỗ giấu một điều bí mật, ta có may mắn tìm thấy, khác nào như những người tìm được châu báu trong kho tàng cổ tích thần tiên.” (Trích “Quán Trà Thinh Lặng” của Trần Mộng Tú)

Thinh lặng hay ồn ào, vẫn là nỗi đau của đời người, được người nghệ sĩ diễn tả thêm lần nữa, qua nét nhạc, rằng những hát:

“Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi
Ôi buồn làm sao nói lời tạ ơn. 

Nếu có bao dung thì hãy bao dung bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa đời
Đừng đợi ngày mai biết đâu tôi nằm im hơi
Tôi chẳng làm sao tạ lỗi cùng người.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Gặp phải nỗi đau suốt một đời, cũng đừng tạ lỗi với ai hết. Bởi, nỗi đau ở đời người luôn sát cánh với người đời, hệt như lời đấng thánh-hiền từng bảo ban, như sau:

“Bởi thế, chúng tôi hãnh diện về anh em
trước mặt các Hội Thánh của Thiên Chúa,
vì anh em kiên nhẫn
và có lòng tin mỗi khi bị bắt bớ
hay gặp cảnh gian truân.
Đó là dấu cho thấy Thiên Chúa xét xử công minh:
anh em sẽ được coi là
xứng đáng tham dự Nước Thiên Chúa,
chính vì Nước Thiên Chúa
mà anh em chịu đau khổ.”
(2Thessalônikê 1: 4-6)

Hãnh-diện, không vì anh chị em từng chịu đau khổ suốt mọi thời. Nhưng, vì anh chị em mình đều vì Nước Thiên-Chúa, nên mới thế.


Trần Ngọc Mười Hai
Và những nỗi đau
rất khó tả trong đời mình,
nhưng vẫn kiễn nhẫn
sống vui sống mạnh với mọi người
suốt một đời.