Sunday, 12 November 2017

“Thăm thẳm chiều trôi,”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần 31 thường niên năm A 05/11/2017

“Thăm thẳm chiều trôi,”
khuya anh đi rồi, sao trời đưa lối.
Khi thương mến nhau, hai người hai ngả tránh sao bồi hồi.
Hẹn gặp nhau đây, đêm thâu lá đổ,
sương giăng kín mờ, nhạt nhòa ước mơ.
Đã gặp nhau rổi, sao em không nói,
sao em cúi mặt, em giận hờn anh chăng?.”
(Trần Thiện Thanh – Tạ Từ Trong Đêm)

(Mc 9: 14-15)

Tạ từ vào giờ nào, sao không buồn? Khi đã “thăm thẳm chiều rơi” rồi, thì người anh kia cũng đi mất đất, đó là chuyện thường ở huyện luôn thấy “trời đưa lối”, “tránh sao bồi hồi”. Nhưng rồi, anh lại hát:

“Anh hiểu rồi đây khuya nay
em về trăng gầy soi bóng,
Nên em cúi mặt
ngăn giòng nước mắt phút giây tạ từ.
Đừng buồn nghe em,
tuy anh biết rằng
xa xôi vẫn làm tâm tư héo mòn.
Nếu em đã trọn thương anh xa vắng,
Xin em chớ buồn
cho nặng lòng chinh-nhân.
Nếu em biết rằng
có những người đi đấu tranh chưa về.
Mang lời thề lên miền sơn khê.
từng đêm địa đầu hun hút gió sâu.
Nếu em đã gặp mẹ già
thương con khấn nguyện đêm rằm.
Vợ yêu chồng đan áo lạnh từng đông.
Thì duyên tình mình có nghĩa gì không?

Anh hỏi một câu
khi trong đêm dài vọng về tiếng súng
Sao em cúi mặt
không nhìn đôi mắt hứa thương em trọn đời.
Đầu đường chia phôi anh không nói gì,
Nên phong kín lời hẹn tình lứa đôi.
Nếu anh có về khi tàn chinh chiến,
Xin em cúi mặt dấu lệ mừng nghe em.”
(Trần Thiện Thanh – bđd)

Lại như thế sao? Ai cho Anh tình yêu ư? Thứ tình “Của ngày thơ ngày mộng” ư? Hỏi ai trồng khoai đất này bây giờ. Câu hỏi này, chắc cũng nên chuyển cho nhiều người được biết, trong đó có tôi và bạn, là những người đang đọc giòng chữ nghĩa này, ở đây.

Thôi thì, nay đề-nghị bạn và tôi, ta nghe tiếp bài hát “trứ danh” trích ở trên, để rồi sẽ tính. Bài hát trên, có ca-từ nghe hơi lạ, rất như sau:

“Nhưng biết chỉ là mơ ...
Nên lòng nức nở,
thương còn đi chứ yêu thì chưa đến
Nên gọi tên tình chưa đỗ bến,
(biết) nẻo mô mà tìm?

Nằm nghe cô đơn,
thoáng bước trong buồng
Giá buốt về tìm,
sao rơi cuối đêm
Nhà vắng mang nhiều cay đắng,
xua hồn đi hoang.”
(Trần Thiện Thanh – bđd)

Ố là là, toàn những chữ và chữ. Hết nói: “nằm nghe cô đơn”, rồi lại thấy “giá buốt về tim”, “sao rơi về đêm”, “xua hồn đi hoang”  Ôi chao là âm-nhạc! Những âm và nhạc như thể “Cho tôi tình yêu”, “để làm duyên nụ cười.” Nhưng chưa hết, còn mấy đoạn sau đây, rất ư là “nhức nhối”:

“Ai cho tôi tình yêu,
để làm duyên nụ cười.
Tôi xin dâng tình tôi trọn đời,
người ơi người,
xin đừng e ấp,
làm tim nghẹn ngào ....
(Trần Thiện Thanh – bđd)

Cho gì thì cho. Có “cho đi tình yêu” nhiều lắm, rồi cũng sẽ “nghẹn ngào”, “e ấp” đấy hỡi người. Vâng. Chuyện “cho đi tình yêu” ở đời, thường là như thế. Còn chuyện “cho đi lòng đạo” ở nhà Chúa, lại sẽ khó hơn nhiều. Để minh-xác chuyện này, thiết nghĩ bạn và tôi cứ thử để mắt đọc giòng chảy đầy những chữ ở Kinh Sách vẫn bảo rằng:

Khi Đức Giêsu và ba môn đệ trở lại với các môn đệ khác,
thì thấy một đám người rất đông đang vây quanh các ông,
và các kinh sư tranh-luận với các ông.
Thấy Đức Giêsu, lập tức tất cả đám đông kinh-ngạc.
Họ chạy lại chào Ngài.
Ngài hỏi các môn đệ:
"Anh em tranh-luận gì với họ thế?"
(Mc 9: 14-15)

Tranh-luận gì với họ thế?” có thể là câu hỏi để đời, cho mọi người. Tức: những người trong đời chỉ muốn tranh-cãi và biện-luận với nhau suốt đời. Chi bằng, ta cứ mời nhau nghe câu truyện kể rất dễ nhớ đời mà đối xử với nhau cho phải phép, mà rằng:

Thuở xưa có ông vua hiền đức nọ, cai trị rất công bằng, dân chúng trong nước sống thanh bình. Một hôm, qua đề-nghị của cận-thần tả/hữu, vua triệu-tập tất cả trưởng lão/tôn túc của các tôn giáo trong nước. Khi tất cả có mặt đầy đủ, vua nói:

-Thưa các vị giáo chủ, hôm nay ta mời các vị tới đây bàn luận vì ta muốn chọn một Ðạo trong các Ðạo để tôn làm quốc-giáo. Ta tin-tưởng rằng các vị đều sáng-suốt nhận-định, thế nên xin các vị bàn bạc với nhau tìm ra cho ta Ðạo nào hay nhất, đáng hưởng ân-phúc của hoàng gia. Ðạo nào cũng được, miễn sao mọi người đều kính phục, không ai được bắt bẻ hay chối bỏ.

Qua nhiều năm trời, mà nhà vua vẫn chưa có được câu trả lời, bởi ai cũng cho rằng Ðạo của mình là hay nhất, trong khi người khác lại không chịu như thế. Mọi người cứ thế tranh luận giằng co hết năm này sang tháng nọ. Một hôm, có vị hiền-triết nọ đi qua ghé thăm nước của nhà vua ấy. Sau khi nghe chuyện, ông ta cố đi tìm cho bằng được Ðạo-giáo hay nhất nhưng chưa thấy, bèn chạy đến xin lĩnh ý nhà vua:

-Tâu bệ hạ, bầy tôi đây có thể chỉ cho bệ hạ một Ðạo hay nhất mà không ai có thể bắt bẻ hay chối bỏ được.

Vua nghe thế, rất đỗi vui mừng vì hy vọng của mình sắp được toại nguyện sau nhiều năm mòn mỏi trông đợi.

-Thật vậy sao! Xin hiền-triết nói cho ta nghe ngay lập tức. Ta đã chờ giờ phút này quá lâu rồi!
-Xin bệ hạ kiên nhẫn hơn một chút. Bầy tôi sẽ tiết lộ cho bệ hạ tên của Ðạo này ở một nơi thật yên tĩnh, vắng vẻ. Ðúng trưa mai xin hẹn bệ hạ ở bờ sông Hằng, chúng ta sẽ vượt sông qua bờ bên kia và ở đó tôi sẽ nói cho bệ hạ biết tên của Ðạo này.

Sáng hôm sau, đúng hẹn, vua và vị hiền-triết gặp nhau trên bờ sông Hằng. Vua ra lệnh cho chiếc thuyền nọ đến gần để chở hai người sang bờ bên kia. Khi thuyền đến gần, vua sửa soạn bước lên thì vị hiền-triết chặn lại, bảo rằng ông ta muốn khám xét chiếc thuyền coi có tốt và bảo đảm không.

-Chiếc thuyền này không được vì có miếng ván bị nứt ở dưới đáy, nước có thể tràn vào, vị hiền-triết thưa.

Vua lại gọi chiếc thuyền khác đến. Sau khi khám xét, vị hiền-triết thấy có vài miếng ván bên hông thuyền hơi lỏng lẻo vì sút đinh. Nhà vua lại gọi một chiếc khác. Sau khi khám xét kỹ càng, vị hiền-triết lại từ-chối vì nước sơn của thuyền đã bị tróc.

Cứ thế, vua gọi hết thuyền này đến thuyền khác, chiếc nào vị hiền-triết cũng phát-giác ra được khuyết-điểm. Dần dà nhà vua không còn kiên nhẫn nữa. Chiều đã qua, hoàng hôn sắp đến. Sau cùng vua không nhịn được nữa bèn phán:

-Này nhà hiền-triết! Từ trưa tới giờ, ta đã gọi biết bao thuyền, chiếc nào ông cũng từ chối hết. Xin hỏi ông, thuyền tróc sơn một chút hoặc thiếu vài cái đinh thì đã sao? Nó vẫn đưa mình qua sông được kia mà! Sao ông để ý đến những khuyết điểm nhỏ nhặt, vậy.

Bấy giờ vị hiền-triết bèn nhìn vua một chốc, rồi ôn-tồn nói:

-Bệ hạ tự thấy rằng dù có vài khuyết điểm nhưng tất cả các thuyền kia đều có thể đưa mình qua sông được. Cũng thế, tất cả mọi Ðạo trong nước bệ-hạ đều giống các chiếc thuyền kia. Ðạo nào cũng có thể đưa bệ hạ nhập với Thượng đế. Ði tìm khuyết điểm của nhiều Ðạo khác nhau, là điều vô ích, thiếu sáng suốt. Bệ hạ hãy về lo việc triều đình, tiếp tục lấy đức trị dân và bình đẳng tôn trọng tất cả mọi Ðạo-giáo xem Ðạo nào cũng như Ðạo của chính mình vậy.

Nghe xong, vua liền phủ-phục dưới chân vị hiền-triết đảnh lễ. Khi ngẩng lên, vua sung sướng cảm thấy mình thực sự thấm nhuần minh triết. (Thích Trí Siêu trích từ sách “Ðạo Gì”)

“Đạo nào cũng như Đạo của mình”, đó không chỉ là phán-quyết rất không tồi, nhưng còn là nhận-xét khá tinh-tế. Cũng tinh-tế, như thể phán và quyết của đấng bậc vị vọng ở Sydney qua hỏi/đáp sau đây:

“Thưa Cha,
Vừa qua, con có nghe một người lại cứ quả quyết rằng nguyên-tắc về hiệu quả lưỡng-nguyên là cách giải-quyết vấn-đề lưỡng-nan đạo-đức. Con đây, chưa từng nghe những chuyện như thế bao giờ. Vậy, có thể nào xin cha giải-thích để con được am-tường?” Câu hỏi của một người thường xuyên theo dõi mục giải-đáp trên báo Đạo)

Thường xuyên đọc báo hay không, hễ cứ hỏi, là đấng bậc chắc chắn sẽ giải mã ngay tức thời. Bởi lẽ, nghề của “chàng” là như thế. Và chỉ mỗi thế, mà thôi. Và câu trả-lời của đấng bậc, sẽ như sau:

“Như anh/chị vừa cho biết, nguyên-tắc giải-quyết vấn-đề lưỡng-nguyên ở đây là cách giúp ta giải-toả những rắc rối/khó xử trong đời người, theo cách rất bổ ích.

Lý-do để ta gọi là hiệu-quả lưỡng-nguyên vì nó qui về tình-huống có hành-vi nào đó diễn ra có thể đem lại hiệu-quả xấu/tốt, khiến người trong cuộc rơi vào tư-thế cũng khó xử.

Hầu hết các tình-thế tiến-thoái lưỡng-nan về đạo-đức/chức-năng đều kéo theo tình-huống tốt/đẹp đồng thời cũng kèm theo tình-trạng xấu xa/tồi-tệ nữa. Bởi thế nên, nguyên-tắc ở đây cũng hữu-dụng để ta dễ giải-quyết chúng, cách xuyên suốt.
Ví-dụ điển-hình thường thấy ở sách giáo-khoa, là: trường-hợp nữ-phụ đang mang thai lại được chẩn-đoán nhuốm bệnh ung-thư tử-cung. Chị được bảo là triệu-chứng này ở vào thời kỳ cuối bắt buộc chị phải cắt bỏ tử-cung càng sớm càng tốt, mới sống sót. Chị không thể chờ đợi phẫu-thuật cho đến khi cháu bé chào đời. Hậu-quả tốt đẹp là nếu giải-phẫu thì chị sẽ được cứu sống. Còn chuyện hậu-quả xấu-xa/tồi-tệ là: trường-hợp cháu bé sẽ phải chết. Vậy câu hỏi ở đây, là: chị có quyết-định tiến tới giải-phẫu bất chấp mọi hậu-quả không?

Trên nguyên-tắc, phải thực-hiện ba điều-kiện, nếu muốn xúc-tiến hành-động để có thể biện-minh về luân lý. Ba điều-kiện ấy, như sau:

Thứ nhất, việc xúc-tiến hành-động phải tốt đẹp về mặt luân-lý hoặc ít ra cũng khá tốt. Điều đó có nghĩa: tự thân, hành-động xúc-tiến phẫu-thuật không thể là chuyện xấu xa, như: giết người, ngoại tình hoặc trộm cắp… bao giờ hết. Ở đây, việc cắt bỏ cơ-phận đã nhiễm bệnh khỏi tử-cung của nữ-phụ bị bệnh, là hành-vi tốt đẹp về mặt luân-lý/đạo-đức. Giả như, nữ-phụ ấy không mang thai, sẽ không thành vấn-đề dù chị quyết-định xúc-tiến cuộc giải-phẫu.

Thứ hai là, ý-định xúc-tiến sự việc đều phải là việc tốt đẹp, mới được. Ở đây, ý-định cứu-vãn sự sống của người nữ-phụ bằng cách cắt bỏ tử-cung người bệnh ngặt-nghèo, thì đây là ý-định tốt. Sự việc lại sẽ khác hẳn, nếu đương-sự hài lòng với phẫu-thuật, do bởi hành-động này sẽ chấm-dứt sự sống của đứa con chị, đồng thời khiến chị sẽ không thể có con trong tương-lai, tức có nghĩa: những gì khiến chị suy-nghĩ tìm cách giải-quyết, là chứng bệnh ung-thư hiện đang làm cho sự việc trở nên dễ dàng hơn, đối với chị.

Đây có thể là ý-định xấu. Nhưng, giả như chị than-phiền về việc bé em của chị sẽ phải chết và chị không còn khả-năng có con được nữa trong tương-lai, như thế tức là chị đã có ý-hướng tốt rồi.

Thứ ba nữa, đây phải có lý-do xứng-hợp mới có thể xúc-tiến hành-động. Nói cách khác, phải có sự tương-xứng thích-đáng giữa hiệu-quả tốt với hệ-luỵ xấu. Hiệu-quả tốt đây, là: cứu cho người mẹ được sống, tức: tương-xứng với cái chết của trẻ bé. Và như thế, người mẹ mới dám xúc-tiến cuộc giải-phẫu được.

Giả như chị không chịu xúc-tiến giải-phẫu, thì cả chị lẫn bé em đều sẽ chết. Nên nhớ: đây không là hành-động trực-tiếp phá thai. Nhưng, chỉ là việc cắt bỏ dạ con đã nhuốm ung-thư là căn-bệnh khiến tử-cung người phụ-nữ không thể tồn tại, đành phải chết. Và, đây được coi là hành-động phá-thai cách gián-tiếp, thôi.

Tôi còn nhớ trường-hợp cách nay nhiều năm, là chuyện: nữ-phụ nọ đã có thai được 4 tháng rưỡi rồi, nhưng chị lại bị chứng ói mửa nghiêm-trọng mà khoa-học gọi là: “chứng sung-huyết nghiêm-trọng”, nên chị không có khả-năng giữ thức ăn đưa vào bụng và vì thế cứ đi dần vào cõi chết. Rõ ràng là, cơ thể chị không thể đối-đầu với chuyện mang thai được nữa và chỉ còn cách duy-nhất muốn cứu sống chị, là phải cắt bỏ tử-cung đã nhuốm bệnh, không tài nào tồn-tại được nữa.

Nếu áp-dụng 3 điều-kiện nguyên-tắc về hiệu-quả lưỡng-năng, thì rõ ràng chỉ mỗi hai điều kiện cuối là còn chấp-nhận được, trong khi đó thì điều-kiện đầu-tiên là không thể được. Ở đây nữa, việc ta phải làm, là: cắt bỏ thai-nhi một cách gián-tiếp, tức: sự xấu đã nằm ở đó, rồi.

Có điều là: nữ-phụ nói đây lại là y-tá theo đạo Công-giáo nên chị hiểu/biết rất rõ thế nào gọi được là có hoặc không có chuyện phá thai một cách gián-tiếp. Và, chị chọn lựa sẽ không làm thế; do đó, chị và cháu bé đều phải chết. Thế nhưng, khi trước có lần chị từng tuyên-bố là: chị không muốn giết chết thai-nhi đồng thời lại muốn cứu sống sinh mạng chỉ mình chị, thôi.

Có lẽ, giải-pháp thoả-đáng cho trường-hợp này, nếu nó xảy ra hôm nay, là: ta cố chờ chừng vài tuần-lễ nữa để xem tử-cung người mẹ tương-lai xem có hy-vọng sống sót không, sau đó mới tiến tới sinh đẻ. Giả như cháu bé không sống sót, thì ít ra cũng tạo cho bé có được cơ-hội, cũng là hy-vọng.

Mọi việc nói trên, đều là những khó-khăn trong chọn-lựa giải-pháp luân-lý/đạo-đức, và con người không nênphê-phán những ai từng làm thế. Tuy nhiên, điều thấy rõ là: con người không thể làm điều xấu xa/ác độc với lý-do là để có sự tốt đẹp từ đó.

Nói tóm lại, nguyên-tắc hiệu-quả lưỡng-nguyên có thể rất hữu-ích giúp ta giải-quyết vấn-đề luân-lý/đạo-đức trong tình-thế tiến-thoái lưỡng-nan trong đó mọi người phải đứng trước chọn lựa có liên-quan đến việc gây ảnh-hưởng tốt/xấu trong đời người.

Điều cần nhớ về 3 điều-kiện nói trên là: ta cần tham-khảo thêm ý-kiến của người khác, nếu có điều gì còn ngờ-vực.” (X. Lm John Flader, “Evil consequences but not of evil intent”, The Catholic Weekly 23/7/2017, Question Time  tr. 23)

Nói chuyện luân-lý/đạo đức như ở trên, chỉ để nói lên rằng: trong đời người, nhiều việc nhìn qua cứ tưởng dễ, nhưng khi tra tay hoặc khi đã ở trong cuộc, rồi mới thấy.                                         

Và, có nhiều chuyện cũng liên-quan đến vấn-đề đặt ra, thật cũng khó mà giải quyết. Hệt như bài ca trích-dẫn ở trên, vẫn hát rằng:

“Thăm thẳm chiều trôi,”
khuya anh đi rồi, sao trời đưa lối.
Khi thương mến nhau, hai người hai ngả tránh sao bồi hồi.
Hẹn gặp nhau đây, đêm thâu lá đổ,
sương giăng kín mờ, nhạt nhòa ước mơ.
Đã gặp nhau rổi, sao em không nói,
sao em cúi mặt, em giận hờn anh chăng?”

Và, câu tiếp vẫn nhắc nhở anh và em rằng:

“Anh hiểu rồi đây khuya nay em về trăng gầy soi bóng,
Nên em cúi mặt ngăn giòng nước mắt phút giây tạ từ.
Đừng buồn nghe em,
tuy anh biết rằng xa xôi vẫn làm tâm tư héo mòn.
Nếu em đã trọn thương anh xa vắng,
Xin em chớ buồn cho nặng lòng chinh-nhân.
Nếu em biết rằng
có những người đi đấu tranh chưa về.
Mang lời thề lên miền sơn khê.
từng đêm địa đầu hun hút gió sâu.
Nếu em đã gặp mẹ già
thương con khấn nguyện đêm rằm.
Vợ yêu chồng đan áo lạnh từng đông.
Thì duyên tình mình có nghĩa gì không?
Anh hỏi một câu khi trong đêm dài
vọng về tiếng súng
Sao em cúi mặt
không nhìn đôi mắt hứa thương em trọn đời.
Đầu đường chia phôi anh không nói gì,
Nên phong kín lời hẹn tình lứa đôi.
Nếu anh có về khi tàn chinh chiến,
Xin em cúi mặt dấu lệ mừng nghe em.”
(Trần Thiện Thanh – bđd)


Trần Ngọc Mười Hai
Với những câu hỏi trong đời
Nhiều lúc cũng khó nói
Khó trả lời
Bằng ngôn-ngữ
Của người đời.

Sunday, 5 November 2017

“Ai cho tôi tình yêu”



Chuyện Phiếm đọc trong tuần 30 thường niên năm A 29/10/2017

“Ai cho tôi tình yêu”
Của ngày thơ ngày mộng
Tôi xin dâng vòng tay mở rộng
Và đón người đi vào tim tôi
Bằng môi trên bờ môi.”
(Trúc Phương – Ai cho tôi tình yêu)

(Mt 28: 11-15)

“Tình yêu ngày thơ mộng”, có cho nhau nhiều lắm cũng chỉ là những “vòng tay mở rộng”, “môi trên bờ môi”, mà thôi. Người đón-nhận tình-yêu của tôi và của người, đâu nào biết đến câu hát tiếp theo sau, nay vẫn bảo:    

“Nhưng biết chỉ là mơ ...
Nên lòng nức nở,
thương còn đi yêu thì chưa đến
Tên gọi tên tình chưa đỗ bến,
nẻo mô mà tìm?

Nằm nghe cô đơn,
thoáng bước trong buồn
Giá buốt về tim,
sao rơi cuối đêm
Nhà vắng mang nhiều cay đắng,
xua hồn đi hoang

Ai cho tôi tình yêu,
để làm duyên nụ cười
Tôi xin dâng tình tôi trọn đời
Người ơi người, xin đừng e ấp,
làm tim nghẹn ngào ....”
(Trúc Phương – bđd)

Vâng. Sự thật, đôi lúc vẫn chỉ như thế. Như thế, cũng hệt như thể đôi ba giòng chảy của các đấng bậc ở nhà Đạo lại cứ nói cho nhau nghe, cứ viết cho nhau đọc mà hiểu những điều như sau:

“Gửi Ông Anthony Fisher thân mến,

Giống như nhiều tín-hữu Công giáo ở Úc, tôi đây cảm thấy khá ư là bất-mãn về việc Ông đã gá-gẫm lập-trường riêng cá-nhân của Ông về “hôn-nhân đồng-quyền” vào với quan-niệm chung của Giáo-hội Công-giáo. Không ai buộc Ông phải chứng minh quyền-hạn khiến Ông có lập-trường này khác, nhưng nhiều người đã quan-ngại không ít khi Ông gom các vị ấy lại rồi cho phép người khác như trường-hợp các ký-giả báo chí chẳng hạn, gộp chung vào giáo-huấn của toàn Giáo-Hội.

Với tư-cách là Tổng Giám mục, Ông hẳn biết rõ là báo chí họ sẽ sử-dụng những điều Ông nói ra qua tư-cách người có quyền ăn nói và còn thêm như thể “Giáo-hội Công-giáo đang tranh hùng chống lại đảng Lao-động và những người hỗ-trợ chiến-dịch phải nói tiếng “Có” trong cuộc Trưng Cầu Dân Ý về hôn-nhân đồng phái-tính, như tờ The Australian hôm 14/8/2017 đã đăng tải. Có thể, Ông cũng dính-dự cuộc “tranh-luận nóng sốt” với Đảng Lao Động và chiến-dịch nói tiếng “Có” như thế, nhưng phần đông người Công giáo ở Úc lại không thế.

Vâng. Tôi thừa biết là: nhiều người có cùng quan-niệm giống như Ông bày-tỏ trong thư luân-lưu mục-vụ của Hội-Đồng Giám-Mục Úc năm 2015 có tiêu-đề là “Đừng Rối Tung với Hôn-Nhân.” Lâu nay, vẫn có lời đồn rộng-rãi nói Ông đích-thị là tác-giả thật của tài-liệu này.

Dù có như thế, điều đáng kể là thư mục-vụ đó chỉ chứa-đựng duy-nhất có một chỗ trích-dẫn Kinh thánh thôi, vẫn đơn giản chỉ qui về điều hai người trở nên “một thân xác”, tôi đây vẫn hy-vọng là Ông cũng đã “rà xét” thánh kinh để có thể chu cấp một vài nền-tảng hỗ-trợ cho quan-niệm của Ông về hôn-nhân. Kinh-thánh là qui-tắc chuẩn-mực đối với người Công-giáo, chắc chắn phải như thế chứ?

Nội-dung thần-học trong tài-liệu “Đừng rối tung với chuyện hôn-nhân” quá ít-oi lại không nói lên rằng hôn-nhân, theo lịch-sử có từ trước Công-nguyên, mang-mặc nhiều hình-thức và hội-thánh Đức Kitô chỉ can-dự vấn-đề hôn-nhân từ cuối thế-kỷ thứ Mười Một, thôi.

Trước đó, mọi người vẫn cứ tuân-theo một số chuẩn-mực xã-hội phần lớn đặt nặng vấn-đề thừa-kế đất đai và liên-kết với phe-cánh thị-tộc và với các điều luật còn sót từ luật dân-sự của Đế quốc La Mã.

Chỉ mới sau này, từ thế kỷ thứ Mười Hai, từ lúc đó hôn-nhân mới được công-nhận là bí-tích và mãi cho đến buổi họp bàn thứ 24 thuộc Công đồng Triđentinô vào năm 1563, Giáo hội mới tuyên-bố coi đó là Bí tích. Thế nên, suốt thời kỳ kéo dài 1500 năm trong lịch-sử giáo-hội, hôn-nhân mới có tác-dụng rộng lớn tuỳ thuộc xã-hội chứ không tuỳ thuộc tiêu-chuẩn thần-học.

Bạn đồng chí-hướng với Ông, là Tôma Akinô khi trước cũng quan-tâm nhiều đến hôn-nhân, nên mới bảo rằng: bàn về bản-chất bí-tích của hôn-nhân, đó là bí-tích “vì điều đó tiêu-biểu cho “bí-nhiệm về sự phối-kết giữa Đức Kitô và Giáo-hội”.

Nhưng, tác-giả Tôma Akinô lại tiếp-tục nói: “nhiều lợi-lộc khác, đó là: sự thân-thiện và phục-vụ lẫn nhau mà hai vợ chồng tỏ-bày cho nhau, thể-chế thiết-lập hôn-nhân vẫn thuộc về luật dân-sự (như có đề-cập trong cuốn “Summa Theologica”, câu 42, đáp trả 3).

Điều này cho thấy là hôn-nhân nào không phản-ánh sự phối-kết giữa Đức Kitô và Giáo-hội sẽ không là Bí-tích và vì thế chỉ là vấn-đề của luật dân-sự mà thôi. Vậy thì, điều này có áp-dụng cho hôn-nhân đồng phái-tính không thế?

Thật sự mà nói, các biện-luận đặt trong bối-cảnh của Thư luân-lưu “Đừng Rối Tung lên với hôn-nhân” và trong sự việc mới đây Ông dính-dự vào với truyền-thông/báo chí, thực ra là rút từ một chi-tiết có từ đầu thế kỷ thứ 20, đó là ý-niệm trưởng-giả về hôn-nhân vốn được tìm thấy mới đây, được diễn-tả sau Thế Chiến Thứ 2, trong gia-đình nhỏ bé thôi.

Suy-tư thần-học Công-giáo về hôn-nhân cũng chỉ rải-rác vào lúc có Công Đồng Vatican 2 (tức: từ 1962-1965) vốn dĩ ít nhất cũng công-nhận rằng việc hai bên đối-ứng với nhau trong yêu thương người phối-ngẫu là một trong các “mục-tiêu” căn-bản, hoặc mục-đích mà hôn-nhân nhắm tới.

Còn, trước thời Công Đồng Vatican 2, việc bàn-luận về hôn-nhân hầu như chỉ giới-hạn trong khuôn-khổ giáo-luật, tức: thường tập-trung nhấn mạnh vào các vấn-đề đồng-thuận, hoàn-thành và huỷ bỏ hôn-nhân, thôi. Ở các xã-hội chịu ảnh-hưởng luật pháp của Anh, Mỹ người người chỉ chú-trọng đến luật-lệ về hôn-nhân giữa hai phái-tính nam-nữ, thôi. 

Một điều khác nữa cần nhớ đến, đó là: lâu nay ta thuộc về một giáo-hội chỉ có nền thần-học khiếm khuyến về thân-thể, xác thịt và giới-tính đúng hơn là bàn-cãi về hôn-nhân giữa người đồng phái-tính, thế nên có lẽ ta phải đưa nhiều năng-lượng cùng nghị-lực vào các suy-tư nghiêm-túc thần-học về các đề-tài này, mới được.” (X. Paul Collins, “An Open Letter to Sydney Archbishop Anthony Fisher” johnmanadue.com 18-8-2017)

Động-thái của Giáo hội đối với các vấn-đề nóng hổi trong đời thường, cũng rất ư là đa-dạng. Đa dạng, chứ không đa-nguyên hoặc đa-dụng. Nói cách khác, một thần-học-gia khác lại có các lập trường thần-học về đồng phái-tính, như sau:

“Đạo Chúa chẳng có đạo-lý nào đặc-biệt về chuyện đồng-tính luyến-ái, hết. Đạo Chúa không có tiêu-chuẩn định-hình nào để có thể phê-phán và kết án chuyện đồng tính, cả. Các Giám mục Hoa Kỳ, mới đây đã phản-bác bức thư của Hồng y Ratzinger về chuyện đồng tính luyến ái. Bức thư này, đi ngược lại nhận-thức mới mẻ về khoa-học. Có những người tự bản-chất đã ra người đồng tính rồi. Thế nên, ta nói gì được về chuyện ấy, đây?

Hiện nay, không thể có sự “đồng tâm nhất trí” về vấn-đề này. Nhưng, để có thể nói rằng: sự kỳ-thị trong đời sống xã-hội, là chuyện không thể chấp-nhận được về đạo-đức, lại không là chuyện phải nói; điều đó, đi ngược lại chủ-trương của Đạo Chúa. Nếu có ai quay về với Thánh kinh để lên án chuyện đồng tính luyến ái, thì chuyện đó cũng không phải.

Tôi hiểu rằng, ta cần suy-tư nhiều hơn nữa và cũng nên đề-cập vấn-đề này một cách thật cẩn-trọng. Nhưng, lên án và kỳ-thị, đều không là đặc-tính của người tín-hữu Đức Kitô, chút nào hết. Những người anh em, chị em của ta lâm vào cảnh ấy, đều đang đau khổ cũng rất nhiều.

Để kết-luận, ý-niệm về tính biệt-lập của đạo-lý vốn dĩ khích-lệ ta phải “sống trong Chúa”, ở vào bối-cảnh của tín-hữu Đức Kitô, cho đến nay, vẫn chưa được Giáo-hội công-nhiên chấp-nhận cách rõ-ràng. Điều rất cần, là: quan-niệm của thánh Tôma Akinô là người chủ-trương một đạo-lý theo phương-thức của Aristotle, vốn dĩ chỉ đặt căn-bản trên lý luận mà thôi.” (Lm E. Schillebeeckx, OP Thần-học-gia toại-nguyện, Thái-độ của Giáo hội với vấn-đề Đồng Tính Luyến Ái, nxb tôn-giáo 2017)

Thế đó, là lập-trường của thần-học-gia về vấn-đề nóng bỏng trong Đạo. Cũng thế, về bất cứ mọi chuyện trong đời ở nhiều nơi bên trời Tây, mỗi người và mọi người đều có quyền muốn nghĩ gì thì nghĩ, không chết một ai. Miễn là, lập trường tư-duy của bạn và của tôi, có được ai khác đoái-hoài hoặc chiếu-cố hay không, thôi. Đó, lại là và vẫn là chuyện thường ngày ở huyện nhà hay đâu đó, rất nước ngoài.

Đó, còn là câu chuyện để mọi người còn bàn ra tán vào, cho qua ngày đoạn tháng, mang tính-chất rất thời-gian hoặc không-gian, mà thôi. Cuối cùng, còn lại một chất-vấn để hỏi bạn hỏi tôi, ta có mãn-nguyện với lập-trường mình cất giữ bấy lâu nay, mà thôi.

Và, đây lại cũng là mấu chốt câu chuyện đưa ta về một đoạn kết rất ngắn, để rồi mỗi người và mọi người sẽ về lại với cuộc sống, rất hôm nay. Đồng lòng với bạn và tôi, nay lại thêm một đề-nghị ta quay về với vòm trời truyện kể đế rút ra một bài học để đời sống. Sống vui, sống mạnh, sống xứng-đáng với danh-xưng con người thời-đại cũng tư-duy, cũng bàn-luận nhưng không lấn lướt lập-trường của người khác, mỗi thế thôi.

Nghĩ thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta về với bài ca có đầu-đề “Ai Cho Tôi Tình Yêu”, để rồi sẽ tự trả lời cho rộng đường dư luận. Bài ca hôm trước nay có lời ngăn ngắn như sau:

 “Ai cho tôi tình yêu
Của ngày thơ ngày mộng
Tôi xin dâng vòng tay mở rộng
Và đón người đi vào tim tôi
Bằng môi trên bờ môi.

Nhưng biết chỉ là mơ ...
Nên lòng nức nở,
thương còn đi yêu thì chưa đến
Tên gọi tên tình chưa đỗ bến,
nẻo mô mà tìm?

Nằm nghe cô đơn,
thoáng bước trong buồn
Giá buốt về tim,
sao rơi cuối đêm
Nhà vắng mang nhiều cay đắng,
xua hồn đi hoang

Ai cho tôi tình yêu,
để làm duyên nụ cười
Tôi xin dâng tình tôi trọn đời
Người ơi người, xin đừng e ấp,
làm tim nghẹn ngào ....”
(Trúc Phương – bđd)

“Xua hồn đi hoang”, “xin đừng e ấp, làm tim nghẹn ngào”… nhất nhất mỗi câu/mỗi chữ trong bài hát đều diễn-tả điều gì đó khiến người nghe liên-tưởng đến câu truyện kể có điều gì đó khá lạ kỳ, nhưng dễ hiểu, coi như để minh-hoạ câu chuyện đời nhiều khúc mắc, ở nhiều nơi, như sau:

Thuở xưa có một ông vua hiền đức, cai trị công bằng, dân chúng trong nước sống thanh bình. Một hôm, dưới sự đề nghị của cận thần tả hữu, vua triệu tập tất cả trưởng lão tôn túc của các tôn giáo trong nước. Khi tất cả có mặt đầy đủ, vua nói:

- Thưa các vị giáo chủ, hôm nay ta mời các vị tới đây bàn luận vì ta muốn chọn một Ðạo trong các Ðạo để tôn lên làm quốc giáo. Ta đặt niềm tin nơi các vị, với sự minh triết xin các vị hội thảo bàn luận với nhau để tìm cho ta một Ðạo nào hay nhất, đáng được hưởng ân phúc của hoàng gia. Ðạo nào cũng được miễn sao mọi người đều đồng ý kính phục, không ai có thể bắt bẻ hay chối cãi.

Trải qua nhiều năm mà vua vẫn chưa được trả lời, bởi vì ai cũng cho Ðạo của mình là hay nhất, nhưng người khác lại không chịu. Cứ thế mà tranh luận giằng co từ năm này sang năm khác. Rồi một hôm, có một hiền giả du phương ghé qua nước của nhà vua nọ. Sau khi nghe chuyện nhà vua tìm một Ðạo hay nhất mà chưa ra, bèn đến xin yết kiến nhà vua:

-Tâu bệ hạ, tôi có thể chỉ cho bệ hạ một Ðạo hay nhất mà không ai có thể bắt bẻ hay chối cãi được.

Vua nghe qua rất đỗi vui mừng vì hy vọng của mình sắp được toại nguyện sau bao năm dài trông đợi.

-Thật vậy sao! Xin hiền giả hãy nói cho ta nghe ngay lập tức. Ta đã chờ giờ phút này quá lâu rồi!

-Xin bệ hạ kiên nhẫn một chút. Tôi sẽ tiết lộ cho bệ hạ tên của Ðạo này ở một nơi thật yên tĩnh vắng vẻ. Ðúng trưa mai xin hẹn bệ hạ ở bờ sông Hằng, chúng ta sẽ vượt sông qua bờ bên kia và ở đó tôi sẽ nói cho bệ hạ biết tên của Ðạo này.

Sáng ngày mai, đúng hẹn, vua và vị hiền giả gặp nhau tại bờ sông Hằng. Vua ra lệnh cho một chiếc thuyền đến gần để chở hai người sang bờ bên kia. Khi chiếc thuyền đến gần, vua sửa soạn bước lên thì hiền giả chặn lại, nói rằng ông ta muốn khám xét lại chiếc thuyền coi có tốt và bảo đảm không.

-Chiếc thuyền này không được vì có một miếng ván bị nứt ở dưới đáy, nước có thể tràn vào. Hiền giả thưa.

Vua lại gọi chiếc thuyền khác đến. Sau khi khám xét, vị hiền giả tìm thấy vài miếng ván bên hông thuyền hơi lỏng vì thiếu đinh. Nhà vua lại gọi một chiếc khác đến. Sau khi khám xét kỹ càng, hiền giả lại từ chối vì lý do nước sơn của thuyền đã bị tróc.

Cứ như thế, vua gọi hết chiếc thuyền này đến chiếc thuyền khác, chiếc nào hiền giả cũng moi ra được khuyết điểm. Dần dần nhà vua mất kiên nhẫn, chiều đã qua, hoàng hôn sắp đến. Sau cùng vua không nhịn được nữa:

-Thưa hiền giả! Từ trưa tới bây giờ, ta đã gọi biết bao nhiêu chiếc thuyền, chiếc nào ngài cũng từ chối hết. Xin hỏi ngài, thuyền tróc sơn một chút hoặc thiếu vài ba cái đinh thì đã có sao? Nó vẫn có thể đưa mình qua sông được kia mà! Sao ngài lại để ý đến những khuyết điểm nhỏ nhặt như vậy.

Lúc bấy giờ vị hiền giả nhìn vua mỉm cười nói:

-Bệ hạ đã tự mình nhận thấy rằng dù có vài ba khuyết điểm nhưng tất cả những chiếc thuyền kia đều có thể đưa mình qua sông được. Cũng thế, tất cả Ðạo trong nước của bệ hạ đều giống như những chiếc thuyền kia.

Ðạo nào cũng có thể đưa bệ hạ đến sự thể nhập với Thượng đế. Ði tìm khuyết điểm của nhiều Ðạo khác nhau là một điều vô ích, thiếu sáng suốt. Bệ hạ hãy trở về lo việc triều đình, tiếp tục lấy đức trị dân và hãy bình đẳng kính trọng các Ðạo giáo xem Ðạo nào cũng như Ðạo của chính mình vậy.

Nghe xong, vua liền phục xuống chân vị hiền giả đảnh lễ. Và khi ngẩng lên, vua sung sướng cảm thấy mình thực sự thấm nhuần sự minh triết. (Trích sách Ðạo Gì - Thích Trí Siêu)


Vâng. Viết nên truyện kể chỉ để kể, chứ không nói gì hơn thêm, có lẽ không ai bằng tác-giả đây. Thế nhưng, trong đời người có những chuyện phiếm “Đạo vào đời” cũng chỉ để phiếm chứ người phiếm không biết viết gì thêm. Thế nên, trước khi kết thúc câu chuyện khá phiếm này, cũng nên mời nhau đi vào vườn hoa Lời Vàng, có những lời không chỉ để kể mà thôi đâu, như sau:

Các bà đang đi,
thì có mấy người trong đội lính canh mồ vào thành
báo cho các thượng tế biết mọi việc đã xảy ra.
Các thượng tế liền họp với các kỳ mục;
sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn, và bảo:
"Các anh hãy nói như thế này:
Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ,
các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác.
Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn,
chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự."
Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy.
Câu chuyện này được phổ biến giữa người Do-thái
cho đến ngày nay.”
(Mt 28: 11-15)


Kể truyện đạo cũng như phiếm chuyện đời, không chỉ mỗi thế và như thế. Thế nhưng, đôi lúc cũng chỉ kể để mà kể thế thôi. Còn ai hiểu được gì, thì đó là vinh hạnh dành cho người kể, chứ không phải người viết ra.


Trần Ngọc Mười Hai
Và những câu truyện kể
Tuy rất phiếm
nhưng không lạ,
ở đời thường.