Wednesday, 1 February 2017

“Vời vợi sáng, một trời hương gió vàng”



Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần thứ 6 mùa Thường niên năm A 12/02/2017

“Vời vợi sáng, một trời hương gió vàng”
Ngàn sao bâng khuâng trên bên sông Ngân.
Lời suối réo đàn lệ hoen tà áo.
Đôi mắt giai nhân tìm đâu giữa trời sao.”
(Lê Trọng Nguyễn – Sao Đêm)

(Cv 15: 8-9)

Sao đêm, mà sáng thế sao? Mắt giai-nhân, tìm đâu giữa trời sao ư? Quả thật lạ, một điều lạ ở chốn gian trần này. Điều lạ đây, là điều ít thấy ở đâu đó, mà chỉ có ở thi-ca/âm-nhạc, như nghệ sĩ nhà mình lại diễn tả nhiều hơn nữa, như sau: 

“Đồi lạnh vắng!
Lạc loài ta với đàn.
Hồn thơ lâng lâng theo áng mây hoang.
Lời gió hú buồn.
Biển sao gợn sóng.
Thuyền trăng đưa khách lạc giữa đại dương.

Ôi cánh sao đẹp xa cuối trời di về đâu.
Đêm quá sâu hồn ta rã rời trong trời nâu.
Tìm em không gian hồ đồ vỡ theo tinh cầu bay.
Thời gian tím ngắt như đêm nay.

Vội vàng hái cả trời sao chín mọng.
Mà ôi thiên thai sao tắt mây vương.
Lạc bước thiếu tài nhạc lôi rượu cuốn.
Người yêu xa mãi tìm gió ngàn phương.
(Lê Trọng Nguyễn – bđd)

Đó, mới là chuyện lạ ở đời, rất con người. Thế còn chuyện lạ ở nhà Đạo thì sao? Nhà Đạo, nay lại thấy đôi điều cũng rất lạ, chỉ mới xảy ra thôi nhưng cũng đã có lời nhỏ/to to/nhỏ vẫn cứ hỏi đấng bậc trong Đạo. Hỏi, là hỏi về một sự lạ ít thấy ở nhà Đạo, nay xuất-hiện trên báo chí như sau:

“Thưa Cha,
Mới đây, trên cột 8 của báo này, con thấy có đến 4 Đức Hồng Y nhà Đạo mình lại đã gửi thư lên Đức Phanxicô bày tỏ đôi điều mà xem ra các ngài không đồng ý cho lắm. Con thấy đây là hiện-tượng ít thấy xảy ra trong giới lãnh-đạo Công giáo của ta. Vậy, xin hỏi cha: trong trường hợp này, con phải suy-tư nghĩ ngợi sao cho phải lẽ, khi con thấy ngay như Hồng Y/Giám mục mà còn bất-đồng với nhau nữa, thì nói chi là giáo-dân! Xin cho con đôi lời giải-thích để con còn biết đường mà tôn-trọng các ngài, chứ.” (Người viết thư quên ký tên nên không biết là nam hay nữ).

Có ký tên hay không ký, miễn là anh hay chị cứ bày tỏ những điều mình nghĩ, thế thì tốt. Tốt hơn nữa, nhờ có anh/chị hỏi nên cha đạo mới giải-thích theo kiểu “huề vốn” cho đỡ “bận lòng tướng quân” cũng rất đạo. Thôi thì, ta cứ mở rộng vành tai ra mà nghe những lời “huề vốn” huề cả làng, cho được việc.

Đấng bậc vị vọng ở Sydney, nay đã sẵn sàng trả lời rất như sau:

“Hãy cho phép tôi trở về với nguồn gốc của cuộc tranh-luận xuất tự câu nói của Đức Phanxicô viết trong Tông-thư ‘Amoris Laetitia’, chương 8 nói về việc giúp đỡ các cặp phối-ngẫu đang sống trong tình-cảnh khá bất thường. Các cặp này, gồm cả những người từng ly-thân/ly-dị và nay sống với đối-tác mới nhưng không có bí-tích hôn-phối, và cả những người chưa từng lấy nhau, nhưng vẫn ở với theo kiểu “sự đã rồi” có tương-quan xác thịt. Nhưng, các cặp như thế có được phép rước Mình Máu Chúa không? Cho đến nay, truyền-thống cho biết: họ không được phép lên rước lễ, như thế.

Thật ra, trong Tông Thư ‘Amoris Laetitia’ Đức Giáo Hoàng Phanxicô không viết điều gì đi ngược lại truyền-thống giáo-huấn của Hội-thánh, hết. Thế nhưng, một số thần-học-gia cũng như Giám-mục ở đây đó, lại đã giải-thích lời lẽ viết trong Tông-thư này khiến người đọc hiểu theo cách khác nhau và trái-nghịch rằng trong tình-cảnh nào đó, các cặp này có thể rước Mình Thánh Chúa vào lòng, trong khi một số vị khác cho rằng không thể thế được. Điều nguy-hiểm là các nguyên-tắc nền-tảng về thần-học luân-lý vững chắc hằng nhiều thế-kỷ, nay bị xét nghiệm.

Trong nỗ-lực phá bỏ sự lầm lẫn về vấn-đề quan-trọng như thế, 4 vị Hồng y đã viết thư xin Đức Giáo Hoàng và Thánh-bộ Giáo-lý Đức tin ban lời giải-thích hầu làm sáng-tỏ sự việc. Như đã biết, đây là sự việc hoàn-toàn chính-đáng, bởi lẽ Giáo hội ta vẫn từng làm như thế trong rất nhiều trường-hợp. Giả như Đức Giáo-hoàng hoặc thánh-bộ Giáo-lý Đức Tin chọn cách trả lời cho các ngài, thì sự việc sẽ kết thúc mọi tranh-luận có thể có. Trong khi đó, thì sự việc nói ở đây vẫn tiếp tục diễn tiến.

Cũng nên biết là các tranh-luận/bàn cãi trong Giáo hội không phải là chuyện mới xảy ra. Ngay từ thời đầu của Giáo hội, ta đọc sách Tông Đồ Công Vụ cũng thấy rõ là có sự bất-đồng quan-điểm về chuyện người ngoại trở lại Đạo có buộc phải chịu phép cắt bì hay không. Có một số vị thuộc Giáo-hội Antiôkia vẫn chủ-trương buộc phải như thế; nhưng sách Công Vụ lại kể rằng:

“Ông Phaolô và ông Banaba chống đối và tranh luận khá gay go với họ. Người ta bèn quyết định cử ông Phaolô, ông Banaba và một vài người khác lên Giêrusalem gặp các Tông Đồ và các kỳ mục, để bàn về vấn đề đang tranh luận này.” (Cv 15: 2, 7)

Kể từ đó, mỗi lần có Công đồng Đại-kết, các Giám-mục lại bày-tỏ ý-kiến khác nhau về nhiều vấn-đề này.  Đây là chuyện tự-nhiên và bình thường bởi lẽ mỗi vị Giám mục nhìn sự việc theo tầm nhìn riêng của các ngài. Sau khi lắng tai nghe các quan-điểm rất khác-biệt, các Giám-mục đi đến quyết-định chung. Đây là lề-lối Giáo-hội của ta thực-thi mọi chuyện dưới sự hướng-dẫn của Chúa Thánh Thần.

Trong Tông thư Amoris Laetitia, Đức Giáo Hoàng có nói là vấn-đề đặt ra tại Thượng Hội Đồng Giám-mục thật phức-tạp để rồi các ngài cùng đưa ra một tài-liệu “bộc-lộ nhu-cầu cần tiếp-tục thảo-luận cách cởi-mở về một số vấn-đề mang tính-chất tín-điều đạo-đức, thiêng-liêng và mục-vụ. Tư-duy của các vị mục-tử và thần-học-gia , nếu là tín-hữu trong Đạo, đều chân-phương, thực-tế và sáng tạo, sẽ giúp ta có tầm nhìn sáng-sủa và cao-cả hơn.

Vào lúc đó, Đức Giáo-Hoàng lại đã mô-tả sự đa-dạng về quan-điểm/lập-trườngkhi đề-cập đến vấn-đề này, rằng: “Các cuộc tranh-luận còn được cung-cấp cho giới truyền-thông và một số cơ sở còn phổ-biến trên báo/đài ngay đến các vị thừa-tác-viên cũng bày-tỏ niềm ao-ước có sự thay đổi toàn-bộ nhưng chưa suy-nghĩ đủ hoặc không có lý-do chính-đáng, hoặc có động-thái muốn giải-quyết hết mọi sự bằng việc áp-dụng luật chung hoặc xuất tự những kết-luận do lập-trường thần-học không phải phép.”

Vâng. Giáo-hội ta buộc phải thảo-luận một cách cởi mở, nhưng vẫn trung-thành với giáo-huấn của Hội-thánh với lòng bác-ái và tôn-trọng người khác chính-kiến. Đây không hẳn là trường-hợp xảy ra,

Vậy thì, là giáo-dân bình-thường, ta phải xử-sự ra sao khi các cuộc bàn-cãi gay-gắt vẫn tiếp-tục? Câu nguyện và cầu-nguyện, là điều tốt nhất. Câu chuyện bàn-luận ở đây là vấn-đề nền-tảng. Thế nên, điều quan-trọng là các mục-tử phải áp-dụng nguyên-tắc đạo-đức của Giáo hội Công giáo và giáo-huấn về các bí-tích một cách thích-đáng.

Thế nên, cũng giống thời trước, việc cần-thiết đối với các tín-hữu trong Hội-thánh là ta phải cầu nguyện sao để các vị có trách-nhiệm trong sự việc này, biết lắng tai nghe tiếng Chúa và hành-xử cho phù-hợp với nguyên-tắc đặt ra. Hệt như Giáo-hội thời tiên-khởi vào lúc thánh Phêrô đấng Chủ-quản đầu tiên của Giáo-hội bị Hêrôđê giam-giữ, đã được toàn thể Giáo-hội cầu nguyện để ngài xứng-đáng với chức vụ mà Hội-thánh Chúa giao-phó.” (X. Lm John Flader, Differences of opinion in the Church? It is nothing new or unusual, Question Time, The Catholic Weekly 18/12/2016 tr. 28) 

Nghe giải-đáp những lời trên, bần đạo bầy tôi đây lại suy-nghĩ cũng hơi khang-khác. Khác ở chỗ, lâu nay vẫn hiểu rằng: tín-hữu nhà mình xưa giờ vẫn quan-niệm chuyện thần-thiêng thánh-hoá vẫn thể-hiện ở nhiều nơi, nhiều đạo-giáo, có khi ở Cựu-Ước có Môsê, Êlya và các ngôn-sứ mà người xưa cứ gọi là tiên-tri biết trước mọi sự và báo trước mọi điều xảy đến với Giáo-hội.

Hơn nữa, tín-hữu thời nay lại vẫn hiểu: các đấng bậc thánh-thiêng hiền lành vẫn hiện-diện ở tôn-giáo bạn chứ đâu chỉ mỗi Công-giáo và Do-thái-giáo mình, thôi. Xem thế thì, nhiều khi thành-viên Giáo-hội ta có bất-đồng chánh-kiến hay sao đó, vẫn nên hiểu rằng: Đức Chúa của ta vẫn ở với và ở cùng chúng ta, là những con người thực bất kể có khác nhau về chánh-kiến hoặc về bất cứ điều gì.       
 
Cứ hỏi và đáp theo kiểu trên, thì đến khi nào mới hết chuyện. Chi bằng, hãy mời bạn/mời tôi, ta cứ nghe thêm câu truyện kể ngăn-ngắn nhiều ý-nghĩa, để có hứng mà bàn tiếp. Truyện kể, là truyện như thế này:

“Có gã thanh niên còn trẻ đến gặp một ông già để hàn huyên, cho quên buồn. Đang huyên-thuyên khoe trình-độ hiểu/biết của mình hơn nhiều người thấy rất rõ, gã thanh niên bèn rủ ông cụ già mà nói rằng:
-Tôi với ông, ta hãy so kiến-thức xem ai hơn ai nhé. Chỉ mỗi việc, là: tôi đố ông, ông đố tôi qua lại, là xong. Thấy ông cụ già còn đắn-đo, gã thanh-niên bèn đưa thêm điều kiện cho thêm phần hung tráng, rất kịch tính:
-Nếu ông thắng, ông sẽ được 10 đô. Nếu ông thua, thì chỉ mất có 1 đô thôi. Dễ quá chứ nhỉ?
-NhẤt trí! Anh ra câu đố trước đi.
-Câu đố là thế này: tay nào lên vũ trụ đầu tiên?
Ông giả không trả lời, cứ lẳng lặng rút tờ 1 đô trả cho gã trẻ tuổi. Được việc, hắn ta bèn đố tiếp:
-Thế ai là người đầu tiên phát-minh ra luật bảo-toàn khối-lượng?
-Đành chịu! Lại tờ 1 đô nữa, ông già giơ ra cho anh ta.
-Thôi anh đố nhiều rồi, để tôi đố anh một câu có được không?
-Đồng ý hết mình.
-Con gì lên đồi bằng 2 chân, còn xuống đồi bằng 3 chân?
Suy nghĩ một hồi lâu, gã thanh-niên quyết định rút tờ 10 đô ra đưa cho đối thủ và hỏi lại:
-Không biết. Thế đó con gì thế hả ông?     
Ông già lẳng lặng rút tiếp tờ 1 đô ra đưa cho gã trẻ tuổi…” (Truyện kể lượm lặt ở trên mạng)

Đúng thế. Cứ đưa ra tờ 1 đô xong là vui cả làng. Chẳng ai khiếu nại hoặc vấn-nạn ai đúng ai sai, dù đó là hồng y, giám mục hay giáo-hoàng. Bởi, có là giáo hoàng đi nữa, rất nhiều chuyện cả ngài và đầy tớ hoặc vua quan lãnh chúa ở quanh đó, cũng đâu rành rẽ, hết mọi chuyện. Chi bằng các vị cứ trao nhau tờ 1 đô, suốt đời để tới khi gặp gỡ thánh Phêrô ở đâu đó, sẽ không có gì mà hối tiếc với hối hận.

Chuyện đời ở đâu cũng thế, kể cả nhà Đạo, cũng vẫn có những điều khó hiểu, dù đã nói ra bằng lời hoặc còn giữ kín trong bụng. Hay nhất, là làm như nghệ sĩ viết nhạc, cứ ngước mặt nhìn trời nhìn ngắm “Sao đêm” rồi ghi lại những tiết điệu cùng ý/lời như sau, là hay nhất. Ý và lời, những hát rằng:

“Còn gì nữa?
Tuổi vàng qua mất rồi
Làn môi khô khan câm nín đau thương
Và tóc rối bời hồn đang lạnh trống
Đôi mắt mơ xanh mờ theo ánh tà dương

Chờ gì nữa?
Nửa trời sao úa rồi
Vì sao em quên câu hát yêu thương?
Tìm ít gió lành còn trong cuộc sống
Dìu nhau qua bến vượt sóng đại dương

Em, cánh sao mờ xa cuối trời đi về đâu?
Em biết chăng hồn ta rã rời trong sầu đau?
Tìm em không gian hồ đổ vỡ, theo tinh cầu bay
Rồi đêm gối sách mơ trăng sao

Còn gì nữa?
Bầu trời rạn nứt rồi
Đường lên thiên thai sao tắt mây vương
Lạc bước, thiếu tài, nhạc lôi rượu cuốn
Người yêu xa mãi tìm gió ngàn phương
(Lê Trọng Nguyễn – bđd)

Hát thế rồi, nay đề nghị bạn và tôi, ta phiếm thêm bằng giòng chảy truyện kể cũng đáng nể, để rồi sẽ không còn bối rối với người đời thường hoặc thắc mắc chuyện trên trời/dưới biển, mà chẳng ưu-tư gì cho lắm chuyện đời có những người trẻ ở đây đó, vẫn sống mà chẳng bận-tâm xem người khác có “nhiều kiến thức hơn mình” không.

Nghĩ thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta bắt đầu kể câu truyện “Cô Bé Bán Diêm” như sau:

“Đây là truyện do văn-hào người Đan Mạch có tên là Andersen được nhiều người biết đến.  Song, ít người biết rằng cô bé ấy thật sự đã có mặt trên đời này và từng đi qua cuộc đời của chính Andersen.

Vào một buổi tối mùa thu, tại một khu phố thuộc thành phố Copenhagne – Danmark
-Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm!
Một tiếng nói khàn khàn, mệt mỏi chợt vọng đến tai Andersen.  Đằng kia, trước mặt chàng hơn mươi bước là một người đang ngồi co ro trên thềm của một ngôi nhà cao ráo. Ánh sáng đèn từ trong nhà chiếu ra cho chàng thấy đó chỉ là một đứa bé con. Hẳn nó đã phát ra những lời vừa rồi.
-Tối lắm rồi sao cháu còn chưa về nhà ngủ?
Andersen bước đến, ái ngại.  Đấy là một cô bé khoảng hơn 10 tuổi, run rẩy trong bộ quần áo vá víu bẩn thỉu. Vai áo rách để lộ đôi vai gày còm.  Nhìn gương mặt hốc hác của nó, có thể đoán nó đang chịu cảnh thiếu ăn, thiếu uống từ lâu.
-Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm!
-Tay cầm bao diêm, cô bé chỉ vào chiếc túi con căng phồng bên cạnh, khẩn nài - Cả ngày cháu chẳng bán được gì, cũng chẳng ai bố thí cho cháu đồng nào.
Cô bé rơm rớm nước mắt.  Thân hình tiều tụy ốm yếu của em run lên khi gió lạnh thổi qua.
-Thế sao?  Andersen động lòng.
Chàng khẽ vuốt mái tóc dài xoăn thành từng búp trên lưng cô bé.
-Gia đình cháu đâu cả rồi?  Không ai lo cho cháu sao?
Cô bé buồn bã lắc đầu.  Em bùi ngùi kể lại những năm xưa khi còn sống trong ngôi nhà xinh đẹp với những dây trường xuân leo quanh. Từ khi bà em qua đời, gia sản lụn bại, gia đình em phải lìa bỏ mái nhà thân yêu đó để chui rúc trong một xó xỉnh lụp xụp, tối tăm.
-Không có tiền cháu đâu dám về nhà vì bố sẽ đánh chết thôi!
Cô bé nhìn Andersen, đôi mắt cầu khẩn.
Thực vậy, em có một người cha ác nghiệt.  Hơn nữa về nhà cũng chẳng hơn gì. Hai cha con chen với nhau trên một gác xếp tồi tàn, gió rét vẫn lùa vào được dù đã bít kín những lỗ thủng trên vách. Lúc này, đôi chân cô bé đã lạnh cóng, em mang đôi giầy vải mòn cũ do mẹ em để lại.
-Cháu đừng lo!
Andersen cho tay vào túi lấy ra một số tiền đặt vào bàn tay bé bỏng của em
-Còn bấy nhiêu chú cho cháu cả.  Cháu về nhà mau kẻo chết cóng mất.  Ôi, lạy Chúa!
Vẻ đầy mừng rỡ, cô bé hôn tíu tít lên tay chàng:
-Từ ngày bà cháu mất đi, chú là người thương cháu nhất trên đời này.  Với món tiền này, bố con cháu sẽ được nhiều bữa no. Nhưng... cô bé bỗng đăm chiêu… Nếu chú cho cháu hết thì tiền đâu chú sống, hở chú?
-Sao cháu khéo lo thế?
Chàng mỉm cười, nụ cười đầy hiền dịu:
-Chú sẽ còn cho cháu nhiều thứ nữa.  Chú sắp đi xa, đầu năm tới mới trở lại nơi này, khi ấy chú sẽ tặng cháu một món quà đặc biệt.
-Ồ, thích quá!  Còn cháu, cháu cũng sẽ tặng chú một món quà.  Mà chú tên gì nhỉ?
-Chú là Andersen.
Chàng âu yếm nắm đôi vai gầy của cô bé
-Có bao giờ cháu nghe đến tên ấy chưa?
-Tên chú nghe quen lắm.  Cô bé nhìn đăm đăm gương mặt trầm tư có chiếc mũi khoằm của chàng:
-Chú có phải là thợ mộc không?
-Không phải!  Andersen mỉm cười lắc đầu.
-Thợ may?
-Cũng không.
-Hay chú là bác sĩ?
-Ồ, không phải đâu.  Thế này này...
Chàng đưa ngón tay trỏ viết viêt vào không khí, vẻ hơi đùa cợt.
A! Cô bé reo lên.
-Cháu hiểu rồi, chú làm nghề bán bút!
Andersen chỉ tủm tỉm cười.  Chàng thấy yêu cô bé quá.  Em khiến chàng, một nhà văn thề suốt đời gắn bó với tuổi thơ, nhớ đến thời thơ ấu của mình và thành phố Odense cổ kính, nơi tuổi thơ của chàng êm ả trôi qua.
Là con một trong gia đình nên dù cha chỉ là một bác thợ giày nghèo, cậu bé Andersen hầu như chẳng phải mó tay đến bất cứ một việc gì ngoài mỗi việc là mơ mộng liên miên. Cậu bé lắm khi chỉ thích bầu bạn với chiếc cối xay già nua đứng run rẩy trên bờ sông hiền lành của thành phố quê hương. ...

Sau đó Andersen đi du lịch đâu đó... và chàng đã quên luôn lời hứa với cô bé bán diêm. Khi về thăm lại khu phố năm nào, chàng tự trách mình đã quá mải mê với chuyến viễn du đến nỗi quên khuấy đi lời hứa với cô bé bất hạnh mà giờ này hẳn đang lang thang đâu đó với chiếc túi đựng đầy diêm.

Phải mua ngay cho em một chiếc áo len, một chiếc áo lông cừu dày và thật ấm để em qua được cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông... Và Andersen sau những lần dò hỏi tin tức của em bé bán diêm, được ông chủ hiệu quần áo cho biết:
-Con bé chết rồi còn đâu.  Ngày đầu năm mới người ta nhìn thấy em bé chết cóng tự lúc nào ở một góc đường giữa hai ngôi nhà. Cái chết cứng đờ của nó ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Có lẽ nó muốn sưởi cho ấm.  Có điều lạ là hai mà nó vẫn hồng và miệng nó như đang mỉm cười.
-À này, ông ta tiếp tục trước khuôn mặt chết lặng của Andersen, khi mang xác nó đi người ta thấy trong túi nó rơi ra vật gì giống như một chiếc quản bút làm bằng những bao diêm. Hẳn nó để dành tặng ai, vì trên chiếc quản bút có ghi giòng chữ: tặng chú Andersen. Andersen quên khuấy món quà ông định tặng cho cô bé bán diêm.  Nhưng cô bé, cô bé vẫn nhớ tới lời hứa của mình với vị khách tốt bụng của buổi tối mùa thu.

Hơn nửa thế kỷ qua, hàng triệu con người trên trái đất đã nghe tim mình thổn thức mỗi khi đọc câu chuyện về cô bé đáng thương của văn hào Đan Mạch. Phải chăng Andersen đã viết câu chuyện ấy như một món quà để tặng hương hồn cô bé bán diêm?“ (Truyện kể của Hans Andersen)

Câu truyện ở trên không chỉ là chuyện để phiếm cho qua ngày/đoạn tháng; mà là, truyện kể để mọi người tặng cho nhau làm quà, ngày kỷ niệm. Thời buổi hôm nay, người ta chỉ muốn kiếm tìm những câu truyện kể “nghe quen quen“ rất vô thưởng vô phạt, chẳng đụng chạm gì ai.

Thế nhưng, có những câu truyện kể càng “đụng“ nhiều càng tốt. Bởi, có đụng nhiều mới đạt, và có đạt nhiều mới thích-thú. Chứ, cứ kể những chuyện nhạt-nhẽo, chán phèo cũng không hay.

Vậy thì, hôm nay đây, thay vì kể thêm nhiều chuyện nghe-mãi-không-chán, xin mời bạn mời tôi, ta nghe nghệ-sĩ làng nhạc Việt hát thêm đôi lời rất “Sao đêm“ để rồi còn suy-tư nguyện cầu ngày buồn chán, rất hôm nay, sau đây:

“Còn gì nữa?
Tuổi vàng qua mất rồi
Làn môi khô khan câm nín đau thương
Và tóc rối bời hồn đang lạnh trống
Đôi mắt mơ xanh mờ theo ánh tà dương
Chờ gì nữa?
Nửa trời sao úa rồi
Vì sao em quên câu hát yêu thương?
Tìm ít gió lành còn trong cuộc sống
Dìu nhau qua bến vượt sóng đại dương
Em, cánh sao mờ xa cuối trời đi về đâu?
Em biết chăng hồn ta rã rời trong sầu đau?
Tìm em không gian hồ đổ vỡ, theo tinh cầu bay
Rồi đêm gối sách mơ trăng sao
Còn gì nữa?
Bầu trời rạn nứt rồi
Đường lên thiên thai sao tắt mây vương
Lạc bước, thiếu tài, nhạc lôi rượu cuốn
Người yêu xa mãi tìm gió ngàn phương
(Lê Trọng Nguyễn – bđd)

Hát thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta đi vào vùng trời Lời Vàng Ngọc của Đấng Thánh-hiền mà tìm cho ra những câu nói đậm-đà, tình-tiết rất thân-thương như sau:

“Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi tâm can
đã chứng tỏ Ngài chấp nhận họ,
khi ban Thánh Thần cho họ
cũng như đã ban cho chúng ta.
Ngài không phân biệt chút nào giữa chúng ta với họ,
vì đã dùng đức tin để thanh tẩy lòng họ.”
(Cv 15: 8-9) 

Quả-quyết của đấng thánh hiền-lành vào thuở trước, sẽ là và vẫn là động-lực thúc-đẩy tôi và bạn, ta sẽ đi hoài và đi mãi trong chốn dân-gian hiền hoà mà kiếm-tìm những người bạn chưa quen nhưng vẫn biết. Bởi, bạn cũng như tôi, ta vẫn biết rằng Thiên-Chúa tạo-dựng nên ta là để ta sống hài-hoà với hết mọi người, dù họ có bất-đồng hoặc chống-đối tôi, chống-đối bạn cách nào đi nữa.

Quyết thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang tiến về phía trước mà hát lên những câu ca dù buồn bã, những viết rằng:

“Vời vợi sáng, một trời hương gió vàng
Ngàn sao bâng khuâng trên bên sông Ngân.
Lời suối réo đàn lệ hoen tà áo.
Đôi mắt giai nhân tìm đâu giữa trời.”
(Lê Trọng Nguyễn – bđd)

Đôi mắt ấy, sẽ tìm thấy ở mọi nơi, mọi thời. Cũng rất chóng.


Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn không cần tìm đôi mắt giai-nhân
cho bằng con mắt của tình thương yêu cũng thật gần
như bao giờ.

“Đêm, mùa trăng úa …làm vỡ hồn ta.”



Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần thứ 5 mùa Thường niên năm A 05/02/2017

“Đêm, mùa trăng úa …làm vỡ hồn ta.”
Ngập ngừng xa...suối thu dồn lá úa trôi qua.
Sầu thu, sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa thu.
Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng,
từng thoáng lệ ngân, mà hồn phân vân cuồng điên nhớ.
Long lanh tiếng Nguyệt Cầm, tiếng đàn trầm.
Ai nhớ nương tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát...
chết theo nước xanh...Chết theo nước xanh...
Ôi, đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh...”
(Cung Tiến – Nguyệt Cầm)

(Mt 10: 8-10)

“Ôi, đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh!” Chao ôi là lời hát, rất âm-nhạc! “Long lanh tiếng Nguyệt cầm, tiếng đàn trầm”, “chết theo nước xanh”, Ối chà là thi ca, rất ấn-tượng!  

Vâng. Quả có thế. Thi-ca và âm nhạc, bao giờ cũng gây ấn-tượng cả nơi người hát lẫn người nghe. Chẳng thế mà, người người lại cứ mời bạn/mời tôi ta cứ nghe câu hát để đời, tiếp theo đây:

“Long lanh long lanh ... trăng chiếu một mình,
chơi vơi chơi vơi ... nhạc lắng tơ ngơi
Nguyệt cầm ơi! từng lệ ngân, chết từng mùa Xuân...
Đêm, ngời men nhớ...Nhạc tê ngời thuở xưa.
Trăng sầu riêng chiếc...
Trăng sầu riêng chiếc, sầu cho tới bao giờ?
Hồn ghê bốn bề sao ngợp hồn xanh biếc trời cao.
Kià thuyền trăng, trăng nhớ Tầm Dương, nhớ nhạc vàng,
đêm ấy thuyền neo bến ấy.
Nguyệt Cầm nghe nấc từng câu...
Có hàng mây trắng về đâu?
Mắt chìm sâu, đêm lắng đời sâu.
Nguyệt Cầm khơi mãi tình sầu .
Khơi mãi nguồn đêm ...Mùa trăng úa làm vỡ hồn ta...

Ngập ngừng xa suối thu dồn lá úa trôi qua .
Sầu Thu sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa Thu .
Trăng Tầm Dương, lung linh bóng sáng từng thoáng lệ ngân,
mà hồn phân vân cuồng điên nhớ.
Long lanh tiếng Nguyệt cầm, tiếng đàn trầm.
Ai nhớ! Nương Tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát,
chết theo nước xanh.. chết theo nước xanh.
Ôi, đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh.”
(Cung Tiến – bđd)

Vâng. Hôm nay đây, lại cũng thấy “tiếng đàn trầm” của những “Nguyệt cầm” cũng khá buồn ở đời và trong Đạo, được đấng bậc thuộc Giáo hội Chính thống Nga, phát biểu như sau:

“Hôm rồi, Thượng Phụ Chính Thống Nga đã có buổi phỏng vấn với ký-giả của “Russia Today” bàn về một số vần-đề thời-thượng, trong đó có chuyện hôn-nhân đồng-tính và chuyện nghiêm-túc chính-trị. Đến từ đất nước, trong đó chính quyền nhiều lần tìm cách xoá bỏ Đạo Chúa suốt 70 năm liền, Thượng Phụ Kirill nay lại đưa ra một tầm-nhìn lịch-sử khá dài ngõ hầu đối-đầu với giới thù-địch ở nước này. Và dưới đây, là vài trích-đoạn rút từ cuộc phỏng-vấn hiếm có này:

Nếu hỏi tại sao các chính-trị-gia Phương Tây lại cứ hay bài-bác chuyện chính-trị nghiêm-túc? Thì: câu trả lời, đại loại sẽ bảo rằng: chừng như cụm từ “chính-trị nghiêm-túc” có nghĩa là hạn-chế tự-do của người đi Đạo, không cho họ tiếp tục thực-thi niềm tin sắt đá nơi họ, mà thôi. Người xưa cứ bảo với ta rằng: Âu Châu chịu ảnh-hưởng cả từ Hy-Lạp cổ và La Mã xưa nữa. Điều đó, có thật. Nhưng nếu tính theo cân-lượng, thì ảnh-hưởng này không thể so với tầm quan-yếu của các giá-trị đạo-đức ở Đạo Chúa và các luật-lệ từ đó kéo dài hằng nhiều thế-kỷ.

Thành thử, giả như Âu-Châu nay bị cắt đứt mọi mối liên-kết với nguồn gốc của nó, thì tự nó sẽ nảy sinh vấn-đề là nó có bị lôi kéo vào vào một thứ chính-trị nghiêm-túc hoặc thứ gì khác không? Đó mới là vấn-đề mà chúng là những con người lâu nay từng trải qua biết bao cuộc bách-hại ở Liên-xô, vẫn thắc mắc. Trở về với quá-khứ khi mọi sự được giải-quyết nhân-danh nhân-quyền và tự-do, mọi sự để lo cho một tương lai tươi sáng hơn.

Thế nhưng, chỉ những người tin-tưởng nào ở vào tình-huống bị áp-lực mãi cho đến thời Đổi mới là cảm-thông được. Còn thì, giới tư-bản, trưởng-giả và chủ-đất mà các lãnh-đạo người Sô-viết mới ngưng không còn chiến-đấu chống lại tất cả những người như họ và ngay đến nền kinh-tế Sô-viết cũng chỉ giống phân nửa nền kinh-tế thị-trường mà thôi; đó là chưa kể về Chính-sách Kinh-tế Mới vào thập niên 1920; nhưng, họ đã chiến-đấu chống lại Đạo Chúa mãi đến cùng. Chẳng ai hiểu tại sao họ lại làm thế.

Thành thử, chúng ta đã tỏ ra lo-lắng cả vào khi, dưới danh-nghĩa của một “chính-trị nghiêm-túc” và mọi quyền lợi cũng như tự-do trên hoàn-vũ, chúng ta thoáng thấy có dấu-hiệu về sự kỳ-thị chống lại những người muốn sống cởi mở đối với các xác-tín về Đạo của họ…

Theo tôi, mẫu mã của chủ thuyết đa-sắc-tộc hoạt-động tốt hơn triết-thuyết đa-văn-hoá của phương Tây. Do bởi nước Nga là một quốc-gia đa-chủng, nhưng ý-tưởng về một chủ-thuyết đa-văn-hoá lại chẳng bao giờ được đề-bạt ở đây hết, cả vào lúc đất nước của chúng tôi chìm ngập với chủ-nghĩa Sô-viết cũng thế. Khi ấy, có người lại đã nghĩ về chuyện tuyên-bố rằng chúng tôi từng có lai-lịch một đất nước tân-kỳ nếu giữ nguyên là những người thuộc giới Sô-viết.

Nhưng, ai cũng đều hiểu là: người Turks vẫn muốn giữ nguyên tình-trạng của người mình, là Turk, người Tajik cũng thế vẫn chỉ muốn ở thế nguyên-trạng là Tajik, người Ubeks cũng vậy và người Nga cũng không ra khỏi hiện-trạng của Nga và người Do-thái-giáo cũng thế nốt…

Được như thế, không có nghĩa bảo rằng: chúng tôi muốn trộn lẫn sắc-tộc thành một thứ cocktail, mà mỗi người cùng mọi người vẫn phải được ở nguyên-si là mình. Nhưng, tất cả mọi người chúng tôi đều chung sống trong cùng một đất nước, nên chúng tôi phải tuân-giữ luật-lệ cũng như tỏ ra tử-tế với nhau.

Và chính sách nghiêng về chuyện này phải được nhắm đến, tức là: không được xoá bỏ đường ranh vạch giữa các nền văn-hoá cũng như đạo-giáo khác nhau và làm nên một khối “xa-bần/hổ lốn” rút từ đó. Trái lại, chúng ta phải đoan chắc hỗ-trợ cho nhau, để mọi người có được quyền-hạn và tự-do ban-bố cho tất cả, mỗi người một cách để rồi mỗi nhân-vị có bất cứ niềm tin nào dù khác nhau vẫn có thể cảm thấy thoải mái như ở nhà mình khi sống trong đất nước của mình, chứ không như người sống cạnh người lạ…

Nếu hỏi rằng: tương-lai của Đạo Chúa tại Âu-Châu mai ngày sẽ ra sao? Thì, câu trả lời của tôi là: Ngày nay, người đi Đạo chỉ là thiểu-số. Các giá-trị đạo-đức lâu nay ta truyền-bá đang biến dần hoặc bị lãng quên. Tại sao thế? Lý do, là vì ta cứ khuyến-khích mọi người hướng thượng, leo lên đồi cao, trong khi văn-hoá của người thường lại cứ yêu-cầu mọi người đi về hướng ngược lại, tức là: tụt xuống dưới.

Giả như có người nào đó cứ để bản-năng của mình hướng-dẫn, và giả như văn-minh/văn-hoá nhân-loại được dựng-xây trên nền-tảng như thế đó, thì đa số mọi người sẽ theo đường lối này, lý do là vì làm thế dễ hơn, nó không đòi nhiều cố-gắng hoặc phải làm cho thật nhiều. Người nào cũng chỉ muốn có đời sống dễ chịu, thôi.

Thế nhưng, Kinh thánh lại cứ bảo rằng” con đường chật hẹp sẽ dẫn ta đi vào sự sống”. Và, con đường chật hẹp dẫn đến ơn cứu-độ đòi phải có sự can-đảm. Nhưng, giả như con đường này biến-dạng, thì toàn-thể nhân-loại sẽ rơi tọt xuống hố. Đức GIêsu đã không thuyết-phục mọi người bằng lời rao giảng. Thật ra, cuộc sống của Ngài dưới trần-thế lại đã chấm-dứt trên Thập-giá là nơi con người đóng chặt Ngài ở trên đó. Đành rằng Ngài đã trỗi-dậy khỏi cõi chết… Thế nhưng, cũng có một số người coi là Ngài đã thất-bại.

Giả như chúng ta không tin vào sự sống lại của Đức Kitô, thì khi đó sự sống vào cuối đời của Ngài sẽ không gây ấn-tượng gì cho lắm, cũng chỉ như thể Ngài bị xử trảm, thế thôi. Các tông-đồ cũng như thế, ngoại trừ thánh Gioan. Còn thì tất cả đều bị xử trảm. Thành thử, điều căn bản xem ra tất cả đều là người thua thiệt, thua và để mất mọi sự.

Nhưng, thông-điệp của Đức Kitô và các tông-đồ theo Ngài đã tồn-tại suốt 2000 năm, vẫn còn đó kích-động nhiều người. Nó tạo-hứng cho các nghệ-nhân và văn-sĩ là những người sáng-tạo nhiều công-trình tuyệt-tác dù bên ngoài vẫn tạo áp-lực ngịch-ngạo. Thế nhưng, điều còn quan-trọng hơn là bảo rằng: Đức Kitô đã và đang đi vào tâm-can của rất nhiều người, dù có muốn hay không, cũng vậy…” (Xem Patriarch Kirill, Russian Orthodox Patriarch on Gay Marriage, secularisation, the future of Christianity, MercatorNet 29/11/2016)


Đọc bài phỏng-vấn đấng bậc vị vọng ở trên, bần đạo bầy tôi đây lại nhớ đến những câu truyện kể cùng nhận-định về lập-trường sống cho nhân-sinh-quan rất dễ thấy như sau:

“Trên thế gian này, có một quy luật đã được định ra rất rạch ròi là: có gieo sẽ có gặt. 
Dưới đây là 11 điều để bạn bắt đầu:

1. Cho đi một nụ cười
Nở một nụ cười và trao nó đến cho mỗi người bạn gặp, và bạn sẽ nhận được những nụ cười đáp lại.

2. Cho đi những suy nghĩ tích cực
Hãy đưa ra những suy nghĩ tích cực về những người khác chung quanh bạn, và ngay cả về những thứ mà bạn đang làm, bạn sẽ có một cuộc sống tốt và những ý nghĩ tốt đẹp cũng sẽ được dành cho bạn.

3. Cho đi lời tử tế
Hãy nói những điều tử tế với mọi người và lời thân ái của bạn sẽ được đáp trả bằng những lời thân ái. Nhân chi sơ, tánh bản thiện mà.

4. Cho đi một thái độ lạc quan
Luôn tỏ ra lạc quan với cuộc sống, và sự vui vẻ của bạn sẽ được hoan nghênh.

5. Cho đi sự cảm kích
Hãy biết ơn, cảm kích, cuộc sống của bạn sẽ có thêm những giá trị, và đến lượt bạn cũng sẽ được tưởng thưởng xứng đáng.

6. Cho đi sự khích lệ
Hãy khích lệ, bạn cũng tràn ngập dũng khí tươi mới để đối mặt (với thử thách) từng ngày, và hãy chuẩn bị để thu hút những người động viên cổ vũ bạn.

7. Cho đi sự kính trọng
Hãy luôn kính trọng những người, những điều xứng đáng, cho đây là điều đáng để bạn phải làm và bạn sẽ nhận được những tràng pháo tay tán thưởng.

8. Cho đi niềm hạnh phúc
Chia sẻ niềm hạnh phúc, đồng thời bạn cũng sẽ cảm thấy sung sướng, và nó cũng sẽ mang lại cho bạn niềm hạnh phúc.

9. Cho đi thời gian của bạn
Hãy dành thời gian của bạn cho những mục tiêu lớn lao hơn mục tiêu cá nhân, và bạn sẽ nhận được những phần thưởng mà bạn không ngờ tới.

10. Cho đi niềm hy vọng
Hãy luôn hy vọng và hãy xem nỗi tuyệt vọng sẽ biến mất, đức tin và niềm vui sẽ dâng lên bội phần.

11. Cho đi lời cầu nguyện
Hãy cầu nguyện cho bạn bè của mình, và cho cả những người mình xem là kẻ thù. 
Bởi trên đời này, trong cuộc sống này đã có quá nhiều hận thù, hiềm khích rồi. 
Những lời nguyện cầu sẽ vượt quãng đường dài để mang điều kỳ diệu đến những nơi u tối, xóa bỏ lòng thù hận.
https://ssl.gstatic.com/ui/v1/icons/mail/images/cleardot.gif
“Cho đi lời cầu nguyện” nghe sao thấy quen quen như các dặn dò ở Kinh Sách. Dặn dò, là vừa dặn và vừa dò để rồi hãy cứ cho đi mà chẳng cần gì đến sự thận-trọng hoặc suy-tính rất lâu ngày. Bởi, đấng thánh nhân-hiền của Đạo mình, vẫn luôn dặn-dò và khuyên nhủ như sau:

“Hãy đến với chiên lạc nhà Israel,
dọc đường hãy rao giảng: Nước Trời đã gần kề.
Anh em hãy chữa lành người đau yếu,
làm cho kẻ chết sống lại,
cho người phong hủi được sạch,
và khử trừ ma quỷ.
Anh em đã không công mà được,
thì cũng hãy cho không như vậy.
Đừng chuốc lấy vàng lấy bạc hay tiền đồng hòng vặn thắt lưng.
Không bao bị đi đàng,
cũng đừng có hai áo, giày dép, gậy gộc.
Vì làm thợ thì đáng được của nuôi thân.”
(Mt 10: 8-10)

Vâng. Đúng thế. Thợ gặt đến với chiên nhà Israel mà còn thế, huống chi là người nghèo chỉ cần những gì là tối thiểu cho cuộc sống. Một cuộc sống chỉ biết cho đi chứ không biết chuốc vào người dù nhiều thứ.

Thời hôm nay, cho đi không chỉ có nghĩa là: bố thí, vứt bỏ những gì mình có dư hoặc thừa mứa, không dùng đến. Cho đi, còn là và vẫn là tặng ban cả những gì mình đang cần hoặc túng bấn không biết được tương-lai mai ngày, sẽ ra sao.

Cho đi, hôm nay, là cho mà không nghĩ chuyện đòi lại vào một ngày rất gần, dù từ người nhận hoặc ai khác. Cho đi, hôm nay và mai rày, lại là quyết-tâm kéo dài suốt cuộc sống, dù thiếu thốn. Cho đi, còn là và sẽ là động-thái gắn liền với sinh-hoạt hằng ngày ở mọi nơi, vào mọi lúc cả những lúc và những thời không có gì để cho, chỉ muốn nhận mà thôi.

Cho đi, lại vẫn là ý-nghĩa của cuộc đời không bon chen/giành giựt, cũng rất bận. Và cho đi, chính là mục-tiêu mọi người đều nhắm đến khi quyết-tâm thực-hiện một đổi thay cho tương-lai con người ở trần-thế. Cho đi, còn đồng-nghĩa với sống hùng, sống mạnh, sống viên-mãn với người nhận mà mình không biết đang ở đâu.

Nói cách khác, cho đi là cứu-cánh của cuộc sống nơi con người ở mọi thời. Thế-trần này, phải bao gồm toàn những người cho đi chứ không chỉ mỗi nhận vào. Đó, chính là niềm tin của người đi Đạo. Bởi, niềm-tin đồng-nghĩa với thương-yêu, giùm giúp, tức “cho đi.” Tin, là cho đi và cho hết cả con người mình, tinh-thần lẫn vật-chất, chứ không chỉ mỗi của ăn nuôi dưỡng xác thể của mình.

Để minh-hoạ cho động-thái quyết cho đi vào mọi lúc, không gì hay/đẹp và khích-lệ cho bằng truyện kể ở đời có những lúc người đời cứ quên lãng mục-tiêu của đời người. Thế nên, nay mời bạn và mời tôi, ta nghe thêm câu truyện kể về động-thái “cho” làm đoạn kết cho chuyện phiếm khô-khan, nghèo-nàn ít hứng thú, như sau:

Có ai đó nói rằng, khi quay ngược trái tim mình lên, trái tim sẽ có hình ngọn lửa. Có phải đó là ngọn lửa của yêu thương, của tình người ấm áp ? Ngọn lửa ấm áp cho tình yêu đến phút cuối của cuộc đời. Tôi cũng từng nghe người ta nói rằng, tuổi trẻ thường mang trái tim màu đỏ với tình yêu đầy nhiệt huyết, có thể cống hiến hết  tất cả những gì mình có cho tình yêu và lý tưởng. Nhưng phải chăng chính vì trái tim nhiệt huyết ấy mải mê chạy theo nhng đam mê hoài bão, mà vô tình quên mất đi ngọn lửa yêu thương?

Có lần về Việt nam, tôi đã từng chứng kiến cảnh một bà già mù lòa đi ăn xin, trong cơn mưa lạnh căm căm, không một manh áo ấm. Nhưng đi đến đâu người ta cũng xua đuổi. Người bán hàng sợ "xui", sợ hôi, sợ dơ, sợ cả một ngày bị bà già "ám" mà không bán được hàng. Người qua  đường thì muốn đi thật nhanh, tránh đụng phải bà già mà sẽ bị bẩn những bộ quần áo đắt tiền. Có người còn ra vẻ am hiểu sự đời "Thời nay người giả ăn mày không hiếm. Đừng hòng giả dạng mà qua mặt được ta"…

Một đám đông xúm lại trên đường quây quanh một cô gái trẻ đang bị hai thanh niên côn đồ đánh đập dã man. Cuối cùng cô bị ngã nằm sống soài trên đường, máu bê bết, quần áo bị xé nát tả tơi, ánh mắt cầu cứu van xin. Nhưng không ai thèm để ý. Họ tụ  năm tụm bảy tại đây không gì hơn ngoài sự hiếu kỳ. Mọi người đang thưởng thức một bộ "phim  kiếm hiệp". Người ta không muốn dây dưa, chẳng muốn dính vào. Cả mấy chục thanh niên trai tráng bu quanh vẫn sợ hai thằng lưu manh kia mới lạ. Không ai phí công gọi điện cho cảnh sát. Chẳng kẻ nào muốn xắn tay đưa cô gái đến bệnh viện vì nghĩ sẽ gặp rắc rối nếu nạn nhân chết trên đường. Có người độc miệng còn nói “ Chắc cũng là trai gái làng chơi thanh toán với nhau thôi".

Tôi cũng đã từng trông thấy cảnh một em bé gái mặt nhễ nhãi mồ hôi, giữa trưa nắng hè ở trước cổng trường đại học, cầu xin sự ban ơn của các anh chị sinh viên, để có thêm chút tiền đóng viện phí cho nhà thương, nơi ba em đang nằm điều trị. Em ngây thơ nên cứ tin rằng các anh chị sinh viên, với trái tim thanh niên đầy tình yêu và nhiệt huyết, sẽ có thể làm giảm bớt nỗi đau đang cào cấu ba em - nằm chờ chết trong bệnh viện. Nhưng mọi người đứng đó nghe em trình bày rồi lại lắc đầu bỏ đi. "Bọn lừa đảo bây giờ đâu có thiếu! Ai mà ngu đi tin những câu chuyện "bịa đặt" như vậy kia chứ ?".

Một anh chàng giám đốc trẻ gọi điện thoại về cho mẹ nói rằng, anh đang bận công việc tại sở làm khi được biết tin mẹ bệnh. Có lẽ cũng còn sót lại "chút tình người", nên anh gửi cho mẹ một số tiền để lo thang thuốc.

Nhưng sự thật phũ phàng, là anh ta đang bận dự lễ sinh nhật của người yêu. Bữa tiệc linh đình mà anh chiêu đãi hằng trăm bè bạn ở một nhà hàng sang trọng, để người yêu anh nở mày nở mặt. Chỉ tiền rượu thôi cũng đã tính bằng trăm triệu. Giây phút đó, nào anh có nhớ chính nhờ mẹ đã ban cho anh sự sống, và cũng chính nhờ có cái lưng còng của mẹ, nên ngày nay anh mới có thể  đứng thẳng nghênh mặt nhìn đời?

Có thể cuộc sống ngày nay với những gian dối dẫy đầy, đã khiến bạn mất niềm tin vào con người, và từ đó dễ dàng khiến chúng ta lo sợ rằng tình thương của mình sẽ cho nhầm chỗ? Nhưng đâu phải trên thế giới này, tất cả đều là những toan tính, dối lừa ...

Bà cụ mù đi ăn xin trong trời rét căm căm, cô gái lỡ lầm bị đánh đập không thương tiếc, bé gái trước cổng trường đại học cầu xin ai đó giúp ba em: Họ đã lầm khi họ van xin không đúng chỗ, để rồi họ chỉ nhận được những cái xua tay, những cái lắc đầu quây quẩy.  Họ quá ngây thơ nên cứ hy vọng mà cầu xin một "món hàng" mà từ lâu đã trở thành "quý hiếm": Tình thương ... 

Có ai đó nói gia đình là tất cả, nhưng bạn đã làm được gì cho gia đình ấy ? Một câu nói ân cần nhắc mẹ uống thuốc, một  chén cháo nóng lúc ba đau, đó là tình yêu không lời bạn dành cho họ. Chúng ta đã NHẬN, quá nhiều -  từ gia đình, bạn bè, từ cuộc sống, và từ cả những người không quen biết, thì cũng đến lúc mình cần phải biết CHO đi, biết ban tặng. Bạn phải biết sẵn sàng chia sẻ, sẵn sàng ban phát tình thương, như đã có rất nhiều lúc trong cuộc đời, mà bạn đã rất cần sự chia sẻ và tình thương vậy ...

Khi xưa, thời trai tráng, tôi cũng đã từng như các bạn trẻ ngày nay, đã từng chạy theo tình yêu mà quên đi ba mẹ. Tôi cũng đã từng quay mặt làm ngơ trước bao cảnh thương tâm, chỉ vì sợ bị gạt gẫm, bị chê cười. Giờ đây khi mái tóc đã lắc rắc muối tiêu, tôi mới thật sự hiểu hết ý nghĩa của hai chữ "CHO và NHẬN ". Dẫu muộn màng, nhưng vẫn còn hơn không ...

Tuy biết rằng ngọn lửa nào rồi cũng có lúc tàn. Nhưng hãy để cho ngọn lửa trong trái tim chúng ta mãi sưởi ấm - đến khi còn có thể. Đừng thắc mắc, đừng đặt quá nhiều câu hỏi. Đừng sợ người, sợ ta, sợ thị phi, đàm tiếu. Hãy sống với trái tim mang dòng máu đỏ đầy yêu thương và nhiệt huyết. Nguyên tắc cuộc sống vốn vô cùng đơn giản: có CHO thì có NHẬN.

Tôi vẫn nhớ mãi câu chuyện nhỏ ngày xưa khi còn bé. Có một buổi sáng nọ, bà ngoại tôi dắt một người ăn xin vào nhà, và đem cả một phần cơm điểm tâm ra cho người nghèo đói ấy. "Cô bé  tôi" khi ấy, mặc dù đã được ăn no căng đầy bụng, vẫn ganh tỵ mà hỏi ngoại  "Tại sao mình phải cho bà cụ đó nhiều quá vậy? Ngoại chỉ cho một miếng bánh mì là bả đã mừng lắm rồi ". Ngoại tôi cười móm mém "Con à, cuộc đời này có vay thì có trả, có cho thì có nhận. Mai này lớn lên con sẽ thấy lời ngoại dạy là đúng .. "

Và vì thế mà đến giờ tôi vẫn luôn tâm đắc với câu "châm ngôn cuộc đời" của Ngoại: “ Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình ”... (Hoàng Thanh kể).

Kể thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta quay về với nhạc-bản ở trên hát lên đôi câu ca khiến ta hăng hái tiến bước về phía trước để rồi sẽ quyết tâm làm việc gì đó mang ý-nghĩa của một nhân-sinh-quan tích-cực, không bao giờ chán nản. Bởi có cho hoài và cho mãi mới thấy cuộc đời này, đầy ý-nghĩa.

Vậy nên, ta cứ hát lên những lời ở trên, rằng:

Đêm mùa trăng úa làm vỡ hồn ta...”
Ngập ngừng xa...suối thu dồn lá úa trôi qua.
Sầu thu, sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa thu.

Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng,
từng thoáng lệ ngân, mà hồn phân vân cuồng điên nhớ.
Long lanh tiếng Nguyệt Cầm, tiếng đàn trầm.
Ai nhớ nương tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát...
chết theo nước xanh...Chết theo nước xanh...
Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh...”
(Cung Tiến – bđd)


Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn phiếm lai rai
nhân-sinh-quan/lập trường
cần nhắc mãi
với mình và với người
để khỏi quên.