Saturday, 12 November 2011
“Ngày nào anh yêu em,”
“Ngày nào anh yêu em,”
“anh đã quen trong cay đắng tuyệt vời,
ngày nào em yêu anh,
em hẳn quên với trời hạnh phúc mới.”
(Trần Thiện Thanh – Mùa Đông Của Anh)
(Lc 12: 51-53)
Không cần biết, ngày yêu em, anh có quen với “cay đắng tuyệt vời”, không? Chẳng cần hỏi: hồi yêu anh, em có quên cõi “trời hạnh phúc mới”, nữa rồi chăng? “Cay đắng”, “Lạnh giá”, “ngừng thở” như lời người nghệ sĩ viết lên thành câu nhạc/hát lên thành nỗi niềm ấy, phải chăng là niềm phúc hạnh/đắng cay, trong cuộc đời?
Sự thật thì, cuộc đời của nhiều người vẫn đầy tràn những đắng cay, lạnh giá, như câu hát:
“Em ơi, Đông lại về từ trăm năm lạnh giá,
Tim anh như ngừng thở, từ sau ân tình đó…
Em nghe không? Mùa Đông, Mùa Đông?..
(Trần Thiện Thanh – bđd)
Mùa Đông của đời người, hay mùa Đông của anh, phải chăng là mùa của đắng cay/lạnh giá, khiền “tim anh như ngừng thở”? Mùa Đông ở nhà Đạo, có phải là mùa của khờ khạo, rẽ chia, nhiều phân cách? Phân và cách, như ý nghĩ của nhiều người khi nghiên cứu Sách thánh, có lời khuyên?
Trước khi tìm câu trả lời cho đích đáng từ Đấng bậc rất vị vọng, tưởng cũng nên nghe vội câu truyện kể để dẫn nhập cho những câu nhiều người hỏi về phân chia, tách lìa, những lỗi tội như sau:
“Truyện rằng:
Ở lớp giáo lý bỏ túi tại trường nọ, vị giáo lý viên hỏi đám học trò bé nhỏ những câu hỏi tưởng chừng cũng nhỏ cũng bé, mà sao các bé em lại cứ nghĩ là to tát, rất như sau:
-Nào các em! Muốn được Đức Chúa yêu thương thứ tha cho mình những lỗi cùng tội, thì ta phải làm gì?
Cả lớp nhao nhao em nào cũng giơ tay xin trả lời. Một em hiên ngang đứng dậy nói:
-Dạ, trước nhất là phải phạm tội ạ!”
Dĩ nhiên, lời mới vừa trả là của con trẻ, chẳng giống ai. Nhưng, điều đó cho thấy là cả đến đám trẻ cùng người lớn nay đã có những nhiều nhận định gây thắc mắc, và cũng khang khác khá nhiều, thời hồi trước. Thắc mắc của thời trước, cũng như thời bây giờ là thắc mắc tương tự như lời thư gửi đến toà soạn tuần báo The Catholic Weekly ở Sydney hôm rồi, như sau:
“Thưa Cha. Nhiều lần giở Kinh Sách đọc trước đèn, sao con thấy dù có ánh sáng của ngọn đèn soi tỏ, vẫn không đủ để thấy được ý nghĩa đích thực về quan niệm lập trường rất đúng nơi Lời của Chúa khi Ngài bảo: Ngài đến với thế gian không phải để mang hoà bình, mà là chia rẽ giữa cha mẹ với con, vợ với chồng. Mỗi lần nghe đọc đoạn này, con thấy như có cái gì không ổn khiến con nghèn nghẹn hay sao ấy. Vậy ta phải hiểu giáo huấn của Chúa thế nào về chuyện này?” (trích thư của một độc giả rất hiền và cũng lành rất ít hỏi)
Thắc mắc/hỏi han, đâu liên can gì chuyện hiền lành, ở khắp chốn. Chí ít, là chốn Đạo/đời vẫn có nhiều người từ vua quan/lãnh chúa đến thứ dân vẫn cứ hỏi và cứ hát những câu những lời rất hỏi han như sau:
“Trời lập đông chưa em, cho lũ dơi đi tìm giấc ngủ vùi?
Để mặc anh lang thang, ôm giá băng ngỡ thầm người yêu tới?
Đêm chia ly em về, đường khuya em bật khóc…
Anh xa em thật rồi, làm sao quên mùi tóc?
Em hỡi em!
Có phải tình băng giá là tình đẹp trên thế gian?
(Trần Thiện Thanh – bđd)
Thật ra, hỏi như thế chỉ để anh, để em và để chúng ta không còn mang trong mình những thành kiến không nên có, mà thôi. Hỏi như thế, là hỏi những chuyện thường xảy ra ở huyện nhà Đạo và huyện dân gian, ở nơi đó có bậc vị vọng vẫn chờ người đến hỏi, để rồi có cơ hội mà giải đáp. Dù, thắc mắc ấy/lời hỏi nọ có nhiêu khê, diệu vợi về Lời Chúa, thì đấng bậc vẫn ra tay giúp giùm để mọi người còn dễ thở, rất như sau:
“Rõ ràng đây là một trong những đoạn sách rất gây hoang mang, ngỡ ngàng cũng không ít. Thôi, để tôi xin có đôi lời trích dẫn ít chương đọan Phúc Âm, mà giải toả. Trước nhất, tưởng cũng nên trích dịch nguyên văn đoạn nói về vấn đề này, ở ngay đây:
"Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba.3 Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng." (Lc 12: 51-53)
Nếu đưa đoạn này ra khỏi bối cảnh lời lẽ của Kinh thánh, ắt là ta sẽ nghĩ rằng Chúa Giêsu đến Ngài chỉ đem đến những bất bình cùng cãi tranh thôi; và như thế,ta cũng sẽ thôi không còn theo chân Chúa nữa.Thế nhưng, như một bạn đồng nghiệp rất khoa bảng chuyên chú giải Thánh Kinh của bổn báo đã từng nói: “Nếu ta lấy bất cứ câu Kinh thánh nào đem ra khỏi bối cảnh Lời Chúa, ắt hẳn còn lại chỉ là những chương đoạn ngớ ngẩn, chẳng nghĩa lý!” Và, đây là một trong những cái-gọi-là vớ vẩn, vẩn vơ ấy.
Bởi thế nên, ta hãy đưa bản văn/câu nói ấy vào với bối cảnh của toàn bộ Sách Tân Ước, mới được. Làm thế, ta sẽ hiểu được rằng Đức Giêsu thực sự đến với trần gian con người là để mang cho họ sự bình an và hiệp nhất.
Để bắt đầu, ta hãy nghe về lời loan báo tin vui gửi đến các mục đồng về việc Chúa giáng hạ làm người, lúc mà triều thần thánh trên thiên quốc đồng thanh hát rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.".” (Lc 2: 14)
Cùng một kiểu như thế, ta đến với trình thuật về Bài Giảng Trên Núi, ở đó Chúa ca tụng những ai đem hòa bình đến với người khác, qua lời khuyên: “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.”(Mt 5: 9)
Quan trọng hơn, ta cứ nhìn vào những gì Chúa nói về sứ vụ Thiên sai của Ngài: “Bình an Ta để lại cho anh em; bình an mà Ta ban cho anh em, thế gian này không thể cho được như Ta đã ban cho anh em.” (Yn 14: 27) Xem như thế, rõ ràng là Chúa đến, Ngài đích thị là để mang bình an cho mỗi người.Rõ hơn nữa, hiển nhiên là Ngài chẳng khi nào lại muốn thấy sự rẽ chia, mà đúng hơn phải là sự kết hợp hiệp thông. Vào buổi tiệc Tạ Từ, Ngài nguyện cầu cùng Cha Ngài, rằng: “Lạy Cha, Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. (Yn 17: 20)
Và, có điều là ta cứ tưởng là mình hiểu biết hết những lời bí nhiệm trong đoạn mà chị vừa trích dẫn, xem ra đã nghịch chống lại các đoạn văn khác chăng?
Trước hết, nên nhớ rằng chính Đức Giêsu là dấu tích của sự “mâu thuẫn, rẽ chia”. Khi Ngài có mặt ở đền thánh Giêrusalem, cụ già Simêon đã tiên đoán về Ngài rằng: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng” (Lc 2: 34)
Nhằm rao giảng sự thật cần nắm vững, Chúa đã gặp biết bao nhiêu là chống đối rất đáng kể trong suốt cuộc đời Ngài và cuối cùng Ngài cũng bị dẫn đến cái chết do chính bàn tay của những người không sẵn sàng chấp nhận giáo hấn của Ngài được.
Đồ đệ theo chân Ngài cũng thế, các vị đều đã gặp nhiều chống đối. Thánh Phaolô liệt kê một loạt những nỗi khổ mà thánh nhân phải chịu khi rao giảng Tin Mừng (2Cr 11: 12-28). Và chính Hội thánh của Chúa cũng bị bách hại trước nhất là từ những người Do thái, rồi sau đó từ đế quốc La Mã suốt 250 năm.
Thế nhưng, tại sao Chúa lại nói về sự rẽ chia ngay trong gia đình? Là bởi vì, cũng thế, điều này thường là kết quả khi thành viên trong gia đình tin vào Lời Chúa, trong khi đó người kia lại không. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đều biết đến chuyện hễ có ai hồi hướng trở về với niềm tin nơi Đạo Chúa, thường thì người ấy dễ bị thành viên khác trong gia đình hoặc toàn bộ gia đình mình khích bác, cấm cửa không cho về lại với gia đình.
Tin Mừng theo thánh Mátthêu, có nhiều đoạn Chúa cũng ám chỉ chuyện này. Sau khi nói về mẹ chồng sẽ chống lại nàng dâu, Ngài còn bảo: “Kẻ thù của mình chính là người nhà.” (Mt 10: 36) Chúa còn trích dẫn lời của tiên tri Micah, khi ông nói: “Quả thật, con trai khinh thường cha, con gái đứng lên chống lại mẹ, nàng dâu chống mẹ chồng, người trong nhà lại hoá ra thù địch.” (Mic 7: 6)
Và từ đó, Ngài nói tiếp: "Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10: 37)
Thế thì, nếu có ai khám phá ra sự thật ở Tin Mừng rồi đến mà thực thi Lời dạy của Chúa, hẳn nhiên là người đó yêu Chúa hơn gia đình mình và họ sẽ nghe theo tiếng gọi của Chúa, dù cho có phải gặp nhiều chống đối rẽ chia, từ phía gia đình.
Hiển nhiên là, Chúa đâu nào đã mang sự chia rẽ đến với ai bao giờ. Ngài chỉ muốn nói: Ngài biết là đôi lúc những người theo chân Ngài sẽ gặp phải chống đối. Sẽ có sự rẽ chia, và ly cách.
Điều Chúa mang đến, Ngài đã nói rõ điều đó, chính là sự bình an và hiệp nhất: bình an trong tâm hồn cho tất cả những ai theo chân Ngài. Hiệp nhất, tất cả mọi dân con đồ đệ của Ngài.” (x. Lm John Flader, The Catholic Weekly, 6/11/2011, tr. 12)
Nghe đấng bậc giải đáp thắc mắc rất ở trên, bần đạo lại cứ liên tưởng đến ca từ, vẫn thấy hát:
“Ngày nào ta xa nhau,
anh bước sâu trong vũng tối nhạt nhòa
Từng mùa Đông theo qua,
Anh đã quen với đường đời băng giá.”
(Trần Thiện Thanh – bđd)
Bóng tối nhạt nhòa đây, chính là sự đông cứng, xót xa, như câu ca của nghệ sĩ còn cứ hát:
“Xưa hôn em một lần,
Rồi đau thương tràn lấp.
Anh yêu em một ngày và xa em trọn kiếp
Nên anh yêu mùa Đông,
Nên anh yêu mùa Đông,
Ôi! Mùa Đông của anh!”
(Trần Thiện Thanh – bđd)
Hẳn là Mùa Đông của anh, nay đà xảy đến khiến anh phải ôm phải ấp chỉ vì anh đã trót hôn em một lần. Hôn chỉ một lần thôi, mà rồi đau thương tràn ngập. Ôi thôi mùa Đông. Của anh. Của người.Mùa Đông thì như thế. Vẫn cứ đem lại bóng tối nhạt nhòa. Băng giá. Chia xa. Còn Mùa Xuân trọn kiếp do Đức Chúa mang lại vẫn kết hợp, rất hài hòa. Bình an.
Về những chia xa, nhạt nhòa của Mùa Đông hay mùa hạ nhiều nắng rẽ phân, hoặc thu qua đầy ảm đạm, bần đạo nhớ về lời của thầy dạy môn Kinh thánh từng dặn dò: Khi đọc Kinh thánh, nhớ đừng hiểu từng chữ, rất nghĩa đen. Hoặc đối chiếu với khoa học lịch sử, ở bên ngoài; mà phải đặt lời lẽ trình thuật theo ý hướng và chủ đích của thánh sử khi viết Tin Mừng ấy.
Theo vị thày dạy của bần đạo, thì thánh sử Mát-thêu viết lên Tin Mừng của mình, hồi 80 hay 85 sau Công nguyên, đem vào đó nhiều dụ ngôn/truyện kể, là để trình và thuật về tình hình của cộng đoàn Hội thánh thời mình sống. Thời tiên khởi, là thời có nhiều bách hại, phân hóa. Tách lìa. Ngài viết là muốn để lại lời khuyên răn, khích lệ hơn là chứng cứ lịch sử Lời Chúa nói. Nói theo kiểu văn hoa thêu thùa nhiều tính chất thi ca/âm nhạc, là nói như nghệ sĩ trích ở trên vẫn hát và nói những rằng:
“Anh chỉ là người điên trong vườn hoa tình ái.
Anh chỉ là người say, bên đường em nhìn thấy.
Anh đi đi, người điên không biết nhớ,
Và người say không biết buồn…”
(Trần Thiện Thanh – bđd)
Tiếc rằng bần đạo không còn trẻ như tác giả bài ca “Mùa Đông của anh”, khi anh yêu Mùa Đông ấy, đã thấy “rất cay đắng tuyệt vời”. Vì không còn cái tuổi rất trẻ của mùa Xuân, nên bần đạo và bạn bè thân quen cùng trang lứa, nay cũng thấy phần nào mùa Đông của tình yêu. Yêu mình và yêu người. nên, mới thấm thía lời của thánh nhân vẫn trình và thuật về Hội thánh thời tiên khởi, cũng rất cay đắng, tuyệt vời dù phân rẽ. Phân rẽ đến độ, thánh sử thấy mình “như ngừng thở”, bèn phải viết lên những lời “thơ” khá ai oán, rẽ chia. Kình chống.
Nói cho cùng, như các cụ xưa nay từng nói “yêu nhau lắm, cắn nhau đau”, có thể đó cũng là tâm trạng của thành viên trong thánh hội thời tiên khởi, nên mới có những lời như thế, gán cho Chúa.
Nói nào ngay, lâu nay đấng bậc vị vọng của tờ The Catholic Weekly là linh mục John Flader nổi tiếng cứng rắn, chững chạc, hoặc “cựu trào” như nhận xét của một số người “vẫn chưa già nhưng không còn trẻ’ đã từng gán cho “đức ngài” cái mũ chụp ấy. Tuy nhiên, đức thày quan niệm rất không sai, khi bảo rằng: “Chúa đâu nào đã mang sự chia rẽ đến với ai bao giờ. Ngài chỉ muốn nói: Ngài biết là đôi lúc những người theo chân Ngài sẽ gặp phải chống đối. Sẽ có sự rẽ chia, và ly cách.”
Nói cho rõ, thì chính ra phải nói: thánh sử Mát-thêu là người viết lên trình thuật có lời lẽ rất “đắng cay tuyệt vời” vào thời điểm những 50 năm sau ngày Chúa chịu nạn, cũng là để diễn tả tâm trạng của các thành viên trong nhóm hội rất thánh, là Hội thánh. Nói như thế, không chỉ để khuyên răn, hoặc đưa chứng cứ mà để nói lên một sự thật rất đau lòng. Và, cũng là sự thật rất mất lòng.
Để minh họa cho những sự thật đau lòng hay mất lòng, cũng nên kể về một dụ ngôn thời đương đại, rất như sau:
“Bố mẹ cô gái nọ thấy con mình nay đến tuổi cần có người trông nom và ở cạnh “lúc vui cũng như khi buồn”, bèn mở một cuộc tuyển lựa… chàng rể.Trong số các chàng trai đến dự thi tuyển để được chuẩn nhận làm rể thảo, Chàng trai thứ nhất, hiên ngang khoe:
-Dạ! Tài khoản của con trong ngân hàng tròm trẻm chỉ độ triệu đô, thôi.
-Cũng được. Thế còn anh B này thì sao?
-Dạ! Con chỉ có mỗi biệt thự trị giá hai triệu đô, cũng tạm sống ạ.
-Thế cũng được. Thế còn anh trai trẻ này, có những gì?
-Dạ thưa bác! Cháu chả có gì ra hồn cả ngoài mỗi đứa con đang nằm trong bụng của con gái bác.
Chánh chủ khảo nghe thế cũng “tá hỏa!”, nhưng thấy anh này cũng không đến nỗi tệ, vì dám nói lên một sự thất…rất mếch lòng…”
Dù truyện kể, không là chân lý hoặc nguyên tắc để sống, mà chỉ nói lên tình hình hiện tại ở một số huyện dân gian, tại nhà khiến ta cần chú ý, thế thôi. Nhưng người kể truyện lại rút ra được một bài học rất thấm, đó là: Muốn thắng các địch thủ rất kếch xù trong khi mình chẳng có lấy một xu, thì chỉ còn cách duy nhất là “có tay trong”, mới hòng thắng. Và, người kể lại cứ thêm: Đây không phải là chân lý sống, nên cũng đừng thắc mắc hoặc hỏi han, tại sao thế.
Thật đúng thế. Cuộc đời người, có những chuyện không thể cứ mãi hỏi han: sao như thế? Sao lại thế? Mà, hãy cứ nhìn thẳng vào sự thật, rồi hiên ngang dấn bước, để còn sống.
Nói cho cùng, không thể kể cho nhau nghe: thế nào là nguyên tắc, hoặc chân lý sống ở đời. Cho bằng cứ kiếm tìm chân lý ấy, rồi sẽ sống. Vì, chân lý hay sự thật sẽ được phơi bày trên mái nhà. Chí ít, lại là sự thật như câu hát của người. Ở đời, rằng:
“Những cuộc tình dương gian, muôn đời không nghĩa lý…
Nhưng người vẫn tìm nhau, trong vòng tay tình ý.
Như đôi ta, niềm yêu xưa chỉ còn
Một vì sao anh lẻ loi.”
(Trần Thiện Thanh – bđd)
Vì “sao” kia, có là anh hay là em rất lẻ loi, có là cuộc tình dương gian hoặc gì đi nữa thì cũng chẳng nghĩa lý chi khi mà “người người vẫn cứ tìm nhau, trong vòng tay tình ý” rất tế nhị. Bởi đời người là như thế. Người đời là như vậy. Nên, hãy cứ thương yêu cho trọn. Yêu thương, như Chúa vẫn thương yêu con người. Ngài không cách ly, chia lìa hoặc rẽ đám bất cứ một ai. Chí ít, là đồ đệ của Ngài, dân con Nước Trời. Ở mọi nơi.
Trần Ngọc Mười Hai
Nay không còn trẻ gì nữa
Nhưng vẫn cứ kiếm tìm
một cuộc tình chí lý rất thân thương
Nơi nhà Đạo.
Với con người.
.
Saturday, 5 November 2011
“Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân,”
“Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân,”
“Bên nguời yêu tật nguyền chai đá.”
“Bên nguời yêu tật nguyền chai đá.”
(Phạm Duy – Kỷ Vật Cho Em)
(Ga 9: 3)
Kể ra thì cũng lạ. Lạ, ở chỗ: có mỗi “viên đạn đồng” làm kỷ vật, mà sao người cứ hát đi rồi thì hát lại mãi một câu “em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại”! Hỏi rồi, người lại “xin trả lời, xin trả lời…mai mốt anh về!”. “Mai mốt anh về”, phải chăng là lời hứa sẽ về để sống “bên người yêu, tật nguyền chai đá”? “Ngại ngùng tật nguyền chai đá”, hay ngại ngùng vì anh mang về viên đạn đồng đen, làm kỷ niệm?
Tuy nhiên, đôi lúc “trở về …sống bên người yêu tật nguyền chai đá”, không như ước mở được diễn tả bằng câu ca nghe ở bên dưới:
“Anh trở về nhìn nhau xa lạ.
Anh trở về dang dở đời em
Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen
Cố quên đi một lần trăn trối... Em ơi!
Anh trở về dang dở đời em
Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen
Cố quên đi một lần trăn trối... Em ơi!
(Phạm Duy – bđd)
Rất nhiều lần, bần đạo được bạn bè chuyển cho đọc những đoạn thư gồm các câu hỏi về câu hỏi về nỗi cuộc đời mà người người ở đời thường gặp phải. Như câu hỏi gửi bần đạo nhờ giải đáp hoặc chuyển cho ai có thẩm quyền để giúp đỡ, rất như sau:
“Tôi có ông cậu bên họ mẹ vừa ly dị bà vợ về quê kiếm người khác trẻ trung hơn để sống nốt cõi đời còn lại. Điều đáng nói, là: kể từ ngày đó ông cậu tôi gặp toàn chuyện rắc rối đến độ cứ nghĩ quẩn hỏi rằng phải chăng Chúa phạt ông về những sai quấy ông đã làm. Vậy, xin hỏi bác vốn là người có kinh nghiệm viết lách về chuyện đạo, là: Chúa lòng lành vô cùng, Ngài có xử phạt con người giống thế không? Xin Bác cho biết để bọn này còn giữ vững lòng tin vào Chúa.” (Một độc giả trung thành luôn đọc báo)
Độc giả trung thành? Vâng. Có thể là như thế. Nhưng điều quan trọng ở đây, không phải là chuyện này. Mà là chuyện: con dân nhà Đạo nghĩ sao về thắc mắc tương tự? Và nhiều câu khác cắc cớ cũng không kém?
Là tay viết chỉ biết phiếm loạn chuyện cà kê bên lề nền thần học, mà buộc phải trả lời câu hỏi này, thì cũng ngại. Ngại lắm lắm, là bởi: nghĩ mình làm gì có đủ tư cách để trả lời lẫn trả cả vốn. Nên chi, hãy cứ bán cái cho đấng bậc vị vọng, là hay nhất.
Vậy thì, xin mời bạn mời cả tôi, ta nghe lời huấn giáo của đấng bậc rất thân quen là đức ngài linh mục John Flader chuyên trách mục giải đáp thắc mắc ở trên tờ tuần báo Công giáo ở Sydney, như sau:
“Đây là một trong những thắc mắc được rất nhiều người viết thư về toà soạn để hỏi. Xin nói ngay ở đây rằng: chắc chắn không thể nào có câu trả lời cho thoả đáng cho từng “nố” được. Dầu sao, thì ta cũng có thể tìm ra được một vài chỉ dẫn trong Thánh Kinh khả dĩ giúp ta đi thẳng vào vấn đề mà trả lời một cách chung chung, cũng được.
Chẳng hạn như sách Lêvi có đoạn Yavê Thiên Chúa nói với dân Người rằng Ngài sẽ tưởng thưởng cho những ai tuân thủ luật Ngài ban ra. Nhưng, Ngài cũng trừng phạt họ nếu bất tuân.(x. Ds 26: 1-45) Xem như thế, ta thấy rằng, đặc biệt trong Cựu Ước, nhiều lúc Đức Chúa cũng luận phạt con dân Ngài vì tội bễ trễ, không tuân lệnh.
Ngài làm thế, với toàn dân như một tổng thể. Lại có ví dụ khác cho thấy khi ấy dân Israel lưu lạc nơi sa mạc sau khi được đưa thoát khỏi chốn nô lệ đoạ đày xứ Ai Cập, thì tổ phụ Môsê sai phái một số chức sắc đi xem xét Đất Chúa hứa ở Canaan có nên vào đó hay không.
Trên đường về, Jôshua và Caleb bèn báo cáo là các ông có thể dùng đất hứa đó làm cơ nghiệp; nhưng những người đồng hành với hai ông đều phản đối không chịu theo vào đất ấy do bởi chiều kích của phần đất và quyền uy của dân làng ở nơi đó. Vì thế nên, chúng dân người Do thái lại khóc lóc vãn than suốt đêm trường.
Yavê Thiên Chúa bèn phán với Môsê và Aaron rằng: Ngài sẽ trừng phạt dân con cứng đầu này bằng cách để họ lưu lại nơi sa mạc đến 40 năm; và thanh niên trai tráng nào tuổi đời trên hai mươi vẫn thầm trách Ngài sẽ chết bất đắc kỳ tử trên đoạn đường lưu lạc, ở cõi đày, rằng: “Ta Yavê, Ta đã phán ! Ta lại sẽ không xử như thế sao với tất cả cộng đồng xấu xa này, những kẻ đã đoàn tụ với nhau chống lại Ta? Trong sa mạc này chúng sẽ biến dần tận tuyệt; chúng sẽ chết ở đó.” (Ds 14: 35-38)
Cùng lúc đó, Yavê Thiên Chúa còn xử phạt cá nhân hai tổ phụ là Môsê và Aaron vì thiếu niềm tin. Khi dân Israel than phiền về chuyện thiếu nước uống ở Mêribah, thì Môsê và Aaron lại dám bào chữa khấn với Chúa, được Chúa chỉ cách dùng gậy chống mà gõ vào vách đá, tức thì nước uống chảy ra từ nơi đó. Ông gõ gậy vào đó những hai lần, lập tức nước vỡ ào như suối chảy. Nhưng Chúa lại bảo với Môsê và Aaron: “Bởi vì các ngươi đã không tin vào Ta để làm Ta được hiển thánh nơi cái Israel, cho nên các ngươi sẽ không đem đoàn hội này vào Đất ta định ban cho chúng.” (Ds 20: 12). Không lâu sau đó, Aaron chết tức tưởi và cả Môsê cũng chết theo trước khi dân con Israel bước vào đất Chúa hứa qua sự dẫn dắt của Jôshua. (x. Ds 20: 28; DNL 34: 1-6)
Trong số các khuôn mặt khác nói ở Cựu Ước từng khôn khổ về tội lỗi của mình, còn thấy có Giacob là người từng lừa gạt cha mình là Isaac bằng cách giả làm người em Esau, nên chịu hậu quả cảnh xa cách khốn khổ vì mất con trai mình là, Giuse khi ông bị các người anh của mình bán qua Ai Cập, làm nô lệ. (x. Kn 27: 1-40; 37: 12-36)
Một hình phạt lớn lao khác đến với toàn thể con dân Do thái là vào thời tiên tri Giêrêmia, khi ấy Yavê Thiên Chúa phá hủy đất đai và sai dân Ngài chọn đến vùng đấy Giuđa và Giêrusalem dưới trướng Babylôn suốt 70 trường vì tội dám thờ ngẫu thần. (Gê 25: 11)
Dù có nhiều trường hợp cho thấy Thiên Chúa từng xử phạt con dân Ngài và một số người vì tội lỗi của họ, chính Đức Giêsu cũng cho ta biết rằng mọi khổ đau không nhất thiết là hậu quả của tội lỗi đặc biệt. Khi các môn đồ hỏi Ngài về trường hợp người mù từ thuở bình sinh, hai làm người làm nên tội, thì Ngài phán: “Chẳng phải tội nó hay cha mẹ nó phạm song để nơi nó, công việc Thiên Chúa được hiện tỏ.” (Ga 9: 3)
Thành thử, ta cũng chẳng bao giờ nên bảo rằng các đại hoạ xảy đến với con người là hậu quả Chúa phạt do tội lỗi mà con người mắc phải, bởi Chúa chẳng khi nào lại hiện thực chuyện phúc/hoạ theo đường lối như thế.
Cũng vậy, không thể kết luận rằng vì ta không trải nghiệm một khổ đau nào, là do Chúa hài lòng với cuộc sống của ta. Chúa không xử phạt cũng chẳng tưởng thưởng hành xử của ta, ngay tức thì, dù việc ấy lành hay dữ. Cùng lúc ấy, ta hẳn biết mình sẽ phải chịu đựng hình phạt tạm bợ là do lỗi phạm ta mắc phải, dù đó là tội trọng hay nhẹ. Giả như ta không bị xử phạt theo hình thức này hay kiểu khác, thì vẫn có thể làm chuyện ấy ở nơi nào, cung cách nào đó, mà Giáo hội gọi là chốn luyện hình.
Theo tinh thần đó, ta hiểu rằng Thiên Chúa là Đấng Lòng lành vô cùng Ngài cũng bị đánh động do tình yêu và lòng xót thương của Ngài, đôi lúc cũng gửi để cho ta chịu một vài cảnh ốm đau hoặc rủi ro/bất hạnh nào đó trong đời mình để rồi đỡ phải chịu cảnh ấy ở chốn luyện hình.
Và khi ta thấy được tình thương yêu của Đức Chúa ngang qua nỗi niềm khổ đau/cực hình trong đời, thì đó cũng là dịp để ta cảm thông với nỗi niềm thương khó mà Con Chúa phải chịu ngang qua thập giá, như thánh Phaolô từng nhận định trong thư riêng của thánh nhân gửi bà con đồng Đạo ở Do thái rằng: “Vì Chúa thương ai, Người mới sửa dạy, con nào người nhận, Người mới ra đòn.” (Dt 12: 6) (x. Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 25/09/2011 tr. 12)
Mượn lời và tiếng của đấng bậc vị vọng để cà kê một lời kể, chỉ để nói rằng: thời xưa người người thường nghĩ thế. Chứ ở thời nay, ai mà chú trọng đến cái-gọi-là hình phạt dính dự vào với tai ương, tật bệnh hoặc thân phận miệt mài, nhiều khổ ải đâu.
Thời buổi này, dù nghệ sĩ có vị vẫn viết và hát lời bi ai, khổ ải về kỷ vật “đồng đen viên đạn”, cũng là hát những lời âu sầu rầu rĩ rất lê thê rằng:
“Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở lại với kỷ vật viên đạn đồng đen
Em sang sông anh cho làm kỷ niệm
Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân.
Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân,
Bên nguời yêu tật nguyền chai đá.”
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở lại với kỷ vật viên đạn đồng đen
Em sang sông anh cho làm kỷ niệm
Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân.
Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân,
Bên nguời yêu tật nguyền chai đá.”
(Phạm Duy – bđd)
Nhưng trước đó, người nghệ sĩ lại vẫn ca:
“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,
Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,
Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa,
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng.”
(Phạm Duy – bđd)
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,
Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,
Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa,
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng.”
(Phạm Duy – bđd)
Hát cho nhiều, cũng chỉ để diễn tả hậu quả của chiến tranh, tranh giành một ý thức hệ:
“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chít khăn sô lên đầu vội vã.. Em ơi!”
Xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chít khăn sô lên đầu vội vã.. Em ơi!”
Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.....”
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.....”
(Phạm Duy – bđd)
Về đây hay về nơi đâu, cũng vẫn là về. Về chốn đọa đày mà Hội thánh xưa/nay gọi là “chốn luyện hình” ở đâu đó. Có thể là, ở ngay đây, chốn đời tạm hay đời thường, vẫn cứ là về. Về với con người chưa từng canh tân đời sống, nên vẫn sầu buồn, khổ đau, ai oán. Chỉ khi nào, bạn và tôi, ta về với tình thương dân dã chốn miền nhiều niềm vui, thì khi ấy sẽ không còn người ca sĩ chuyên hát lời hỏi han về sự trở về mang theo một kỷ vật. Kỷ vật ấy, chắc sẽ không còn là viên đạn đồng đen hay đồng đỏ, nhưng sẽ là kỷ niệm của tình yêu thương giùm giúp, rất tươi vui. Tươi và vui, như câu truyện kể dân gian nhiều hư cấu, ở bên dưới:
“Truyện rằng:
Người bạn thắc mắc:
- Mà nàng bỏ cậu hay cậu bỏ nàng?
- Mà nàng bỏ cậu hay cậu bỏ nàng?
Người chồng nhún vai:
- Chẳng ai bỏ ai. Tôi không ở nổi tôi đi, nàng không giữ nổi nàng thả.
- Chẳng ai bỏ ai. Tôi không ở nổi tôi đi, nàng không giữ nổi nàng thả.
Người bạn có vẻ tiếc:
- Thật không ngờ. Bạn bè ai cũng cho vợ chồng cậu là cặp xứng đôi, hạnh phúc nhất thành phố.
- Thật không ngờ. Bạn bè ai cũng cho vợ chồng cậu là cặp xứng đôi, hạnh phúc nhất thành phố.
- Thiên hạ chỉ nhìn đàng trước, có những chuyện phải nhìn đàng sau mới thấy.
Người bạn lại thắc mắc:
- Có một đệ tam nhân chen ở giữa?
- Có một đệ tam nhân chen ở giữa?
- Tôi nghĩ là không hay ít ra tôi chưa nghi ngờ và tôi tin phía nàng cũng vậy.
- Chuyện tiền bạc?
- Cũng không. Tôi chẳng bao giờ thắc mắc chuyện tiền bạc mặc dù người quản trị tài chánh trong nhà là nàng.
- Xung khắc tính tình?
Người chồng im lặng vài giây rồi mới nói:
- Có thể cho là như vậy.
- Có thể cho là như vậy.
Người bạn thở phào:
- Tưởng gì chứ chuyện xung khắc tính tình đâu có gì to lớn, mỗi bên nhịn một chút là xong.
- Tưởng gì chứ chuyện xung khắc tính tình đâu có gì to lớn, mỗi bên nhịn một chút là xong.
Người chồng hỏi vặn lại:
- Nếu nhịn mãi vẫn không xong thì tính sao?
- Nếu nhịn mãi vẫn không xong thì tính sao?
- Cậu phải đan cử cho tôi vài thí dụ tôi mới có ý kiến được.
- Thí dụ cửa trước nhà tôi, tôi nhớ mỗi lần vào nhà tôi đều khóa cửa lại cẩn thận. Thế mà nhiều lần nàng tri hô lên tôi chưa già đã lẩm cẩm, cửa không khóa mà cứ cãi là khóa rồi. Tôi nghi nàng lén mở khóa rồi mới tri hô lên.
- Biết đâu có lần cậu quên khóa thật?
- Ban đầu tôi cũng nghĩ như thế nên làm thinh. Nhưng về sau tôi biết chắc là nàng có chủ ý.
- Cậu có bằng chứng?
- Tôi lén thuê gắn caméra trên trần nhà.
Người bạn mặt ngẩn ra:
- Vì sao nàng làm vậy?
- Vì sao nàng làm vậy?
- Đó là điều tôi cũng tự hỏi. Chẳng lẽ nàng muốn gieo vào đầu tôi rằng tôi thật sự bắt đầu quên trước quên sau để phụ thuộc vào nàng hơn?
- Thế cậu có cho nàng xem hình quay lén không?
- Không. Tôi sợ nàng lại tri hô lên tôi do thám nàng. Cùng lắm nàng sẽ tự bào chữa nàng cũng có thể vô tình đóng mà quên khóa cửa như tôi thôi.
Người bạn hỏi thêm:
- Còn chuyện xung khắc nào khác?
- Còn chuyện xung khắc nào khác?
Người chồng giọng lưỡng lự:
- Điều này tôi không biết có nên cho là tính xấu của nàng không? Nhưng xấu hay không xấu tôi cũng không ưa. Đó là tính ích kỷ. Nàng chỉ rộng rãi với mình, còn hẹp hòi với người khác, người khác đó có khi là chính cả tôi nữa.
- Điều này tôi không biết có nên cho là tính xấu của nàng không? Nhưng xấu hay không xấu tôi cũng không ưa. Đó là tính ích kỷ. Nàng chỉ rộng rãi với mình, còn hẹp hòi với người khác, người khác đó có khi là chính cả tôi nữa.
- Nhưng cậu chịu đựng nổi tính ích kỷ của nàng chứ?
- Chịu đựng được nhưng lắm khi bực mình, đôi khi còn ngượng với người ngòai.
Người bạn hỏi tiếp:
- Có phải chỉ vì hai nguyên nhân đó mà cậu bỏ đi?
- Có phải chỉ vì hai nguyên nhân đó mà cậu bỏ đi?
- Tôi bỏ đi vì nguyên nhân thứ ba. Nàng lấy chuyện chăn gối như một phương tiện để thưởng phạt tôi. Cậu là đàn ông chắc cậu cũng hiểu nhu cầu sinh lý của một thằng đàn ông như thế nào rồi. Đối với tôi đó là một nhu cầu cần được cảm thông chứ không thể bị ràng buộc, không thể bị điều kiện hóa. Tôi không thể chấp nhận treo chuyện gối chăn lên làm giải thưởng.
Người bạn không hỏi thêm chỉ tỏ ý ái ngại:
- Cậu tính giận bỏ đi vài hôm, nguôi giận lại về, hay nhất quyết đi luôn?
- Cậu tính giận bỏ đi vài hôm, nguôi giận lại về, hay nhất quyết đi luôn?
- Tôi đã muốn đi nhiều lần, nhưng lần này tôi phải biến ý muốn thành hành động.
- Cậu tính tạm thời ở đâu?
- Tạm ở nhà ông anh chừng vài tháng. Sau đó nếu quyết định đi luôn tôi sẽ đi thuê ấp ở riêng và bắt đầu lại cuộc đời.
Hai ngày sau khi người chồng bỏ nhà ra đi, một buổi tối người bạn gọi điện thoại cho người vợ:
- Anh nhà có ghé tôi, tôi cố hết sức khuyên giải nhưng anh ấy nhất quyết không chịu về.
- Anh nhà có ghé tôi, tôi cố hết sức khuyên giải nhưng anh ấy nhất quyết không chịu về.
Người bạn kể cho người vợ nghe đầy đủ chi tiết ba lý do khiến người chồng bỏ nhà ra đi. Kể xong người bạn nói, giọng rào đón:
- Có một người đàn ông khác, không coi ba điều anh nhà trách chị là quan trọng. Chừng nào chị muốn tìm hiểu người đàn ông đó tôi sẽ xin cho chị biết tên.
Nghe xong người vợ lạnh lùng trả lời: "Tôi vẫn nói với chồng tôi: ‘Anh không có bạn tốt. Nếu không tin anh cứ thử dàn dựng một cảnh vợ chồng mình bỏ nhau anh sẽ thấy đàng sau lòng dạ của bạn anh’."
Truyện kể, cũng có thể là hư cấu, hoặc có thật như cuộc đời con người thật muôn mặt. Những mặt của phúc/hoạ, sướng/khổ tuỳ cung cách và vị thế của người kể và người nghe kể. Quan trọng hay không, vẫn là động thái và chọn lựa cách sống của mỗi người. Cũng giống như lập trường của nhà thơ từng chọn lựa, như bên dưới:
“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui,
chuyện đời như nước chảy hoa trôi.
Lợi danh như bóng mây chìm nổi,
Chỉ có tình thương để lại đời.
Còn gặp nhau thì hãy cứ thương,
Tình người muôn thuở vẫn cón vương.
Chắt chiu một chút tình thương ấy,
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.”
(Thơ Tôn Nữ Hỷ Khương)
Tất cả là như thế. Như thế, không có nghĩa: chỉ sầu bi, khổ ải, chiến tranh, hận thù… mới là đời. Đời người, đời mình vẫn cứ khác, nếu người người cũng như mình mặc lấy cho mình cặp kính hồng, để nhìn đời. Bởi, vui buồn một đời người, còn tuỳ người người đang đeo cặp kính mầu gì. Cả vào khi mọi người nhận định cuộc đời, khác mình tôi. Hay, chỉ mình bạn. Vẫn cứ là, cái “mình” của chúng ta.
Trần Ngọc Mười Hai
vẫn cứ mong bạn và mong tôi
ta nhìn cuộc đời
luôn bằng cặp kính
rất mầu hồng.
Subscribe to:
Posts (Atom)